Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sốt rét trên thế giới, tại Việt Nam và điểm nghiên cứu 1. Tình hình sốt rét trên thế giới Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2022), trên toàn thế giới có khoảng 247 triệu người mắc bệnh và 619.000 người chết do sốt rét trong năm 2021 tăng 2 triệu trường hợp so với năm 2020. Trong đó khu vực Châu Phi có tình hình sốt rét nặng nhất với 234 triệu trường hợp mắc (chiếm 95%), sau đó là đến khu vực Tây Nam Á với khoảng 5,4 triệu trường hợp mắc (chiếm 2,2%) và khu vực Tây Thái Bình Dương, có khoảng 1,4 triệu trường hợp mắc (chiếm 0,56%) số trường hợp mắc sốt rét trên toàn cầu [8].
Kể từ năm 2000, số ca tử vong do sốt rét giảm dần từ 897. Tuy nhiên, năm 2020, số ca tử vong do sốt rét là 625.000 ca tử vong so với năm 2019. Số ca tử vong ước tính vào năm 2021 là 619.000, giảm nhẹ so với năm 2020 [8]. Như vậy tình hình bệnh sốt rét trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp và là một trong những bệnh cần phải được quan tâm phòng chống.
Tình hình sốt rét tại Việt Nam Tại Việt Nam, công cuộc phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét đã đạt được những thành tựu đáng kể. Cho đến hết năm 2022, Việt Nam đã có 42 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được công nhận loại trừ bệnh sốt rét. Tình hình bệnh sốt rét giảm mạnh từ 19.638 BNSR năm 2012 xuống 455 BNSR năm 2022, tuy nhiên vẫn diễn biến phức tạp ở một số khu vực, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát, gia tăng và quay trở lại. Năm 2022, cả nước ghi nhận 455 BNSR giảm 2,57% so với cùng kỳ năm 2021.
Số trường hợp bệnh nhân ác tính tăng 7 trường hợp so với cùng kỳ năm 2021 [9]. Trong năm 2022, số BNSR có KSTSR tập trung ở 3 khu vực chính là Tây Nguyên (48,79%), Miền núi phía Bắc (23,52%), Miền Trung (16,48%). Số bệnh nhân sốt rét giảm ở khu vực Tây nguyên, Miền Trung, Đông Nam Bộ. Ở Miền 4 núi phía Bắc số trường hợp bệnh sốt rét ở tỉnh Lai Châu chiếm 96,26% tổng số BNSR của khu vực.
Trong số 10 tỉnh có số lượng KSTSR cao nhất cả nước năm 2022 thì có 5 tỉnh có số lượng KSTSR tăng so với năm 2021 gồm Lai Châu, Quảng Trị, Nghệ An, Khánh Hòa, Ninh Thuận. Nhóm trên 15 tuổi có tỷ lệ mắc 75,38%, cao hơn so với các tuổi khác. Người có công việc liên quan đến đi rừng, làm rẫy chiếm tỷ lệ cao [9]. Mặc dù bệnh sốt rét có chiều hướng giảm trong những năm gần đây nhưng vẫn diễn biến phức tạp và để loại trừ bệnh sốt rét ở Việt Nam thì việc phòng chống cho người vào rừng rẫy là một thách thức cần được quan tâm.
Tình hình sốt rét tại tỉnh Đắk Lắk và điểm nghiên cứu Đắk Lắk là 1 trong 6 tỉnh trọng điểm trong 5 năm gần nhất và là 1 trong 7 tỉnh có số KSTSR cao nhất cả nước năm 2022 với 11 trường hợp [9]. Trong đó huyện Ea Kar là địa phương có nhiều trường hợp mắc sốt rét tại Đắk Lắk, tập trung nhiều ở 2 xã Ea Sar và Ea Sô. Năm 2014 hai xã Ea Sar và Ea Sô thuộc vùng 4 là vùng sốt rét lưu hành vừa. Tuy nhiên theo báo cáo dịch tễ sốt rét năm 2019, hai xã này đã thay đổi thành vùng 5 là vùng sốt rét lưu hành nặng [10].
Tình hình bệnh nhân sốt rét xã Ea Sô từ năm 2015- 2020 5 Theo số liệu của Trạm y tế xã Ea Sô, năm 2018 phát hiện 75 bệnh nhân có KSTSR. Năm 2019, tại xã phát hiện 86 bệnh nhân có KSTSR. Tuy nhiên năm 2020 chỉ có 8 bệnh nhân có KSTSR (hình 1. Nhìn chung, nguy cơ dịch sốt rét bùng phát trở lại tại tỉnh Đắk Lắk vẫn còn hiện hữu.
Cần có các biện pháp phòng chống véc tơ sốt rét cho các đối tượng dễ bị lây nhiễm bệnh sốt rét như lực lượng trông giữ rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô và người dân thường xuyên vào rừng. Thành phần loài, phân bố, vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles 1. Thành phần loài, phân bố của muỗi Anopheles trên thế giới Việc xác định thành phần loài, phân bố của muỗi Anopheles cụ thể của từng địa điểm, từng sinh cảnh là hết sức cần thiết để xác định tất cả các loài muỗi có khả năng truyền bệnh sốt rét tại địa điểm nghiên cứu. Đồng thời việc xác định vai trò truyền bệnh của muỗi để biết được loài muỗi nào là véc tơ chính, loài nào là véc tơ phụ làm cơ sở xây dựng các biện pháp, lập kế hoạch, xây dựng chiến lược phòng chống véc tơ sốt rét hiệu quả.
Anopheles được mô tả đầu tiên bởi nhà côn trùng học người Đức Johann Wilhelm Meigen vào năm 1818 và Ronald Ross đã chỉ ra rằng muỗi truyền KSTSR vào năm 1897 [11]. Đầu thế kỷ 20, Watson là nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu biện pháp phòng chống muỗi [12]. Đến năm 2010, họ muỗi Culicidae Meigen, 1818 có 3.528 loài, được chia thành 2 phân họ là Culicinae Meigen, 1818 và Anophelinae Grassi, 1900. Phân họ Anophelinae Grassi được chia thành 3 giống là Anopheles Meigen, 1818; Bironella Theobald, 1905; Chagasia Cruz, 1906.
Các loài muỗi có khả năng truyền bệnh sốt rét gọi là véc tơ sốt rét đều thuộc giống Anopheles [13]. Dựa trên số liệu về 465 loài Anopheles và hơn 50 loài chưa được đặt tên trên thế giới của Harbach (2011) [14] và cùng với số liệu về hơn 70 loài Anopheles có khả năng truyền bệnh của Service (2002) [15], cùng với dữ liệu về hơn 41 loài là véc tơ sốt rét chính của Hay SI (2010), Sinka và cộng sự (2012) [16] đã tổng hợp và thể hiện thành bản đồ phân bố của 41 loài/phức hợp loài véc 6 tơ sốt rét chính trên thế giới, trong đó 9 loài/phức hợp loài véc tơ phân bố ở Châu Mỹ phát hiện, 6 loài/phức hợp loài véc tơ phân bố ở Châu Âu và Trung Đông, 7 loài/phức hợp loài phân bố ở Châu Phi và 17 loài/phức hợp loài phân bố ở Châu Á (Hình 1. Bản đồ phân bố véc tơ sốt rét chính trên thế giới (Nguồn: Sinka và cộng sự, 2012) Trong số 41 loài/phức hợp loài véc tơ sốt rét chính đã được phát hiện trên thế giới, có 3 véc tơ chính là An. minimus và An.
epiroticus phân bố ở Việt Nam, trong đó có một số nghiên cứu đã phát hiện 2 véc tơ An. dirus và An. minimus có mặt tại khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô. Theo Coosemans và cộng sự (2007), các loài muỗi Anopheles ở Đông Nam Á có tính đa dạng cao và véc tơ sốt rét chính phần lớn thuộc về phức hợp loài hoặc thuộc nhóm các loài có quan hệ gần gũi, khó hoặc không thể phân biệt được do sự tương đồng về đặc điểm hình thái.
minimus và An. dirus là hai loài véc tơ chính truyền bệnh sốt rét ở các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, đều là thành viên của phức hợp loài Minimus và Dirus. Trong đó phức hợp loài Minimus gồm 3 loài, phức hợp loài Dirus gồm 7 loài. Bằng việc áp 7 dụng các phương pháp định loại bằng kỹ thuật sinh học phân tử, các loài trong 2 phức hợp này và các loài có quan hệ gần gũi đã được xác định chính xác [17].
Các nghiên cứu cho thấy nơi đẻ trứng của An. dirus là các vũng nước có tán cây che phủ. Vào mùa khô nơi đẻ trứng của An. dirus là các ổ nước trong rừng sâu.
Vào mùa mưa nơi đẻ trứng của An. dirus ở gần các khu dân cư hơn. Dutta và cộng sự (2010), điều tra tại Đông Bắc Ấn Độ, phát hiện bọ gậy An. dirus trong rừng và bìa rừng chủ yếu ở các vũng nước và vết chân voi [18].
minimus thường đẻ trứng ở dòng suối, mương nước, nước trong, chảy chậm, có thực vật thuỷ sinh mọc ven bờ. Tại Ấn Độ, An. minimus đẻ trứng quanh năm ở suối nước trong, nước chảy chậm và một số mương nước chảy vào ruộng có cỏ mọc bên bờ [19]. Shao-sen Zhang (2018) nghiên cứu tại quận Tengchong, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc gần biên giới Trung Quốc - Myanmar qua điều tra cho thấy bọ gậy An.
minimus chiếm 32,29% số bọ gậy thu được ở ao, chiếm 36,36% số bọ gậy thu được ở hồ nước, chiếm 92% số bọ gậy thu được ở mương nước, chiếm 50% số bọ gậy thu được ở cánh đồng trồng lúa [20]. Thành phần loài, phân bố của muỗi Anopheles tại Việt Nam Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Côn trùng (1968) đã xuất bản khoá định loại muỗi Anopheles ở Việt Nam gồm 32 loài [21]. Trần Đức Hinh (1987, 1995) tổng hợp danh sách 58 loài Anopheles và 1 dạng sp trên toàn quốc. Tác giả nhận xét về phân bố của muỗi Anopheles theo cảnh quan, độ cao, vùng địa lý tự nhiên: 5 loài gặp ở mọi vùng tự nhiên, 20 loài chỉ phát hiện ở vùng núi đồi, 2 loài chỉ phân bố ở vùng nước lợ, 29 loài chỉ gặp ở một số khu địa lý nhất định [22].
Hồ Đình Trung (2005) đã tổng hợp danh sách 59 loài Anopheles, chưa kể một số là phức hợp đồng hình gồm nhiều loài thành viên như An. minimus có 2 loài, An. maculatus có ít nhất 10 loài [23]. Đến năm 2015, Việt Nam xác định được 64 loài muỗi Anopheles, 15 loài có khả năng truyền bệnh sốt rét.
Trong đó 3 véc tơ chính truyền bệnh sốt rét là 8 An. minimus và An. Các véc tơ phụ gồm An. Ngoài ra một số loài nghi ngờ là véc tơ sốt rét như An.
Ở miền Bắc nước ta có 33 loài Anopheles; Nam Trung bộ và Tây Nguyên có 45 loài; Nam bộ và Lâm Đồng có 44 loài [26] Nguyễn Văn Tuấn (2015), nghiên cứu tại tỉnh Bình Phước và Đắk Nông cho thấy có mặt 19 loài Anopheles tại điểm nghiên cứu, trong đó có mặt 2 véc tơ chính An. Phùng Thị Kim Huệ (2015), nghiên cứu thành phần loài muỗi Anophels tại khu vực thuỷ điện, thuỷ lợi tỉnh Gia Lai từ 2013-2014 thu được 23 loài muỗi Anopheles, có mặt 2 véc tơ chính An. Ngô Kim Khuê (2019) nghiên cứu thành phần loài muỗi Anopheles ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên, kết quả thu được 18 loài Anopheles (khu vực miền trung thu được 16 loài Anopheles và khu vực Tây Nguyên thu được 14 loài Anopheles). Trong đó cả hai khu vực nghiên cứu đều xuất hiện cả 2 véc tơ chính truyền bệnh sốt rét là An.
dirus và An. Vũ Việt Hưng (2020), nghiên cứu ở huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên thu được 13 loài Anopheles, trong đó có 2 véc tơ chính An. minimus và 3 véc tơ phụ An.