Luận án tiến sĩ côn trùng học nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nến có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện khánh vĩnh tỉnh

Luận án tiến sĩ côn trùng học nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng và hiệu lực nến transfluthrin xua diệt muỗi tại Khánh Vĩnh, Khánh Hòa.

Trường đại học

Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương

Chuyên ngành

Côn trùng học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2022

159
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tình hình sốt rét trên thế giới và Việt Nam

1.1. Tình hình sốt rét trên thế giới

1.2. Tình hình sốt rét tại Việt Nam

1.3. Tình hình sốt rét tại Khánh Hòa

1.4. Tình hình sốt rét và phòng chống tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

1.2. Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles trên thế giới và Việt Nam

1.1. Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles trên thế giới

1.2. Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles ở Việt Nam

1.3. Nghiên cứu về tập tính của muỗi Anopheles

1.1. Tập tính ưu thích vật chủ

1.2. Tập tính đốt mồi

1.3. Tập tính trú đậu

1. Vai trò truyền sốt rét của muỗi Anopheles

1.1. Vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi An.

1.2. Vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi An.

1.3. Vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi An.maculatus

1. Tình hình kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt

1.1. Sự kháng hóa chất diệt côn trùng

1.2. Nghiên cứu mức độ nhạy kháng với hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét trên thế giới và Việt Nam

1.3. Mức độ nhạy cảm của muỗi Anopheles tại Sơn Thái, Khánh Vĩnh, Khánh Hòa

1.6. Nghiên cứu các biện pháp phòng chống véc tơ sốt rét

1.1. Biện pháp phun tồn lưu hóa chất trong nhà

1.2. Biện pháp ngủ màn tẩm hóa chất

1.3. Biện pháp bảo vệ cá nhân bằng sử dụng sản phẩm xua côn trùng

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu 1: Mô tả các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Các biến số trong nghiên cứu

2.5. Các chỉ số đánh giá

2.6. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2. Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu lực, tác dụng không mong muốn của nến có transfluthrin xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm và thực địa

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Các biến số trong nghiên cứu

2.5. Các chỉ số đánh giá

2.6. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.3. Sai số và cách khắc phục sai số

2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

2.5. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Tình hình dịch tễ sốt rét và các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

3.1. Tình hình dịch tễ sốt rét tại xã Sơn Thái

3.2. Các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

3.2. Hiệu lực của nến xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm và hiệu lực bảo vệ của nến trong phòng chống véc tơ sốt rét cho đối tượng ngủ rẫy tại địa điểm nghiên cứu

3.1. Hiệu lực của nến xua diệt muỗi tại trong phòng thí nghiệm

3.2. Hiệu lực bảo vệ cá nhân phòng chống muỗi của nến xua muỗi chứa transfluthrin tại thực địa

3.3. Tác dụng không mong muốn và sự chấp nhận của cộng đồng với nến xua muỗi

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tình hình dịch tễ sốt rét và các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

4.1. Tình hình dịch tễ sốt rét tại xã Sơn Thái

4.2. Các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng tại điểm nghiên cứu liên quan đến muỗi truyền sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa

4.2. Hiệu lực của nến xua diệt muỗi trong phòng thí nghiệm và hiệu lực bảo vệ cá nhân của nến trong phòng chống véc tơ sốt rét cho đối tượng ngủ rẫy tại điểm nghiên cứu

4.1. Hiệu lực diệt muỗi của nến chứa transfluthrin trong phòng thí nghiệm

4.2. Hiệu lực bảo vệ cá nhân phòng chống muỗi của nến xua muỗi chứa transfluthrin tại thực địa

4.3. Tính an toàn và sự chấp nhận của cộng đồng với nến xua muỗi

KẾT LUẬN

KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tình hình sốt rét trên thế giới và Việt Nam

Bệnh sốt rét là một trong những vấn đề sức khỏe toàn cầu nghiêm trọng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 228 triệu người mắc sốt rét, chủ yếu ở các nước Châu Phi. Tại Việt Nam, sốt rét đã giảm đáng kể nhờ vào các biện pháp phòng chống hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số ca bệnh, đặc biệt ở những khu vực có điều kiện sống khó khăn. Việc hiểu rõ tình hình lan truyền sốt rét là cần thiết để có biện pháp phòng chống hiệu quả hơn.

1.1 Tình hình sốt rét trên thế giới

Trên toàn cầu, số ca mắc sốt rét vẫn ở mức cao, với khoảng 350-500 triệu ca mỗi năm. Hầu hết các trường hợp tử vong xảy ra ở trẻ em và phụ nữ có thai. WHO đã thực hiện nhiều chương trình nhằm giảm thiểu số ca mắc và tử vong do sốt rét. Tuy nhiên, sự tồn tại của sốt rét dai dẳng vẫn là một thách thức lớn.

1.2 Tình hình sốt rét tại Việt Nam

Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể trong công tác phòng chống sốt rét. Từ năm 1991, số ca mắc đã giảm mạnh, tuy nhiên, một số tỉnh vẫn ghi nhận ca bệnh. Các biện pháp như sử dụng màn tẩm hóa chất và phun tồn lưu đã giúp giảm thiểu sự lây lan của sốt rét. Tuy nhiên, việc kiểm soát muỗi vẫn cần được chú trọng để ngăn chặn sự tái phát của bệnh.

II. Nghiên cứu về phân bố muỗi Anopheles

Muỗi Anopheles là véc tơ chính truyền bệnh sốt rét. Nghiên cứu cho thấy sự phân bố và tập tính của muỗi Anopheles có ảnh hưởng lớn đến lan truyền sốt rét. Các yếu tố như môi trường sống, thói quen sinh hoạt của con người và sự kháng thuốc của muỗi đều góp phần vào sự tồn tại của sốt rét dai dẳng. Việc hiểu rõ về phân bố và tập tính của muỗi Anopheles là rất quan trọng trong việc phát triển các biện pháp phòng chống hiệu quả.

2.1 Phân bố muỗi Anopheles trên thế giới

Muỗi Anopheles phân bố rộng rãi trên toàn cầu, đặc biệt ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Sự phân bố này không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khí hậu mà còn vào các yếu tố sinh thái khác. Việc nghiên cứu phân bố của muỗi Anopheles giúp xác định các khu vực có nguy cơ cao về sốt rét.

2.2 Tập tính của muỗi Anopheles

Tập tính của muỗi Anopheles, bao gồm thời gian hoạt động và thói quen đốt máu, có ảnh hưởng lớn đến khả năng lây truyền sốt rét. Nghiên cứu cho thấy muỗi Anopheles thường hoạt động vào ban đêm, điều này làm tăng nguy cơ tiếp xúc với con người. Việc hiểu rõ tập tính này giúp phát triển các biện pháp phòng chống hiệu quả hơn.

III. Hiệu quả của nến transfluthrin trong việc xua diệt muỗi

Nghiên cứu về nến có transfluthrin cho thấy đây là một công cụ hiệu quả trong việc xua diệt muỗi. Nến này không chỉ giúp giảm mật độ muỗi mà còn có tác dụng bảo vệ cá nhân trong các khu vực có nguy cơ cao về sốt rét. Việc sử dụng nến transfluthrin có thể là một giải pháp bổ sung cho các biện pháp phòng chống hiện có.

3.1 Hiệu lực của nến transfluthrin tại phòng thí nghiệm

Các thử nghiệm tại phòng thí nghiệm cho thấy nến chứa transfluthrin có khả năng diệt muỗi cao. Kết quả cho thấy nến này có thể gây ngã gục và diệt muỗi Anopheles hiệu quả trong thời gian ngắn. Điều này chứng tỏ rằng nến transfluthrin có thể là một công cụ hữu ích trong việc kiểm soát muỗi truyền bệnh.

3.2 Hiệu lực bảo vệ cá nhân tại thực địa

Nghiên cứu thực địa cho thấy nến transfluthrin không chỉ giúp giảm mật độ muỗi mà còn bảo vệ người dân trong các hoạt động ngoài trời. Sự chấp nhận của cộng đồng đối với nến này cũng rất cao, cho thấy tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong phòng chống sốt rét.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ côn trùng học nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nến có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện khánh vĩnh tỉnh

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sốt rét hiện nay vẫn là một trong những vấn đề sức khỏe toàn cầu, theo thông báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2018), trên toàn thế giới có 228 triệu người mắc sốt rét, chủ yếu tại các nước Châu Phi (chiếm 93%), ở Đông Nam Á chiếm 3,4%. Số người chết do sốt rét khoảng 438.000 người, trong đó chủ yếu ở châu Phi (chiếm 90%), tiếp đến là khu vực Đông Nam Á (chiếm 7%) và khu vực Trung Đông (chiếm 2%) [1]. Việc phòng chống véc tơ sốt rét (VTSR) trong tiểu vùng sông Mekong (Greater Mekong Subregion (GMS)) gần như dựa hoàn toàn vào việc cung cấp màn tồn lưu lâu (LLINs), giải pháp này có hiệu quả đáng kể đến sự lan truyền sốt rét. Độ bao phủ hầu khắp của LLINs và các biện pháp hiệu quả khác trong việc phòng chống bệnh sốt rét dẫn đến việc tại nhiều quốc gia trong khu vực GMS đang lên kế hoạch cho chiến lược loại trừ bệnh sốt rét.

Tuy nhiên, mặc dù các ca bệnh giảm rất đáng kể nhưng vẫn còn tồn tại một số lượng nhỏ các ca sốt rét, ngay cả khi sự bao phủ rộng khắp của màn tẩm hóa chất và các biện pháp can thiệp khác được triển khai ở quy mô lớn (ví dụ như phun tồn lưu trong nhà IRS); Sự lan truyền này được gọi là sự lan truyền sốt rét dai dẳng (residual malaria transmission (RMT)). Sự lan truyền sốt rét dai dẳng có thể là hệ quả từ tập tính của véc tơ và/hoặc tập quán, thói quen sinh hoạt của con người, những hành vi này làm tăng sự tiếp xúc giữa véc tơ và con người và làm giảm hiệu quả của các phương pháp phòng chống véc tơ (PCVT) [2],[3],[4]. Tại Việt Nam, trong những năm qua công tác phòng chống (PCSR) đã đạt được những thành tựu đáng kể bằng việc kết hợp phát hiện sớm, điều trị đúng và đủ liều, cùng với áp dụng biện pháp phòng chống véc tơ thích hợp. Hiện nay, bệnh sốt rét chủ yếu tập trung ở nhóm dân di cư tự do, đi rừng, ngủ rẫy, qua lại biên giới.

Tại những khu vực này véc tơ chính truyền bệnh được xác định là muỗi An.dirus và An. 2 Để đạt được mục tiêu của Chiến lược Quốc gia phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét giai đoạn 2011 đến 2030 tại Việt Nam, việc phòng chống lây truyền sốt rét cho nhóm đối tượng nguy cơ cao là rất quan trọng. Một số nghiên cứu sử dụng màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu, võng có bọc võng tẩm hóa chất tồn lưu lâu cho thấy hiệu quả phòng chống VTSR cho người đi rừng, ngủ rẫy [5],[6],[7]. Tuy nhiên, hoạt động đốt mồi của muỗi An.dirus trong rừng thường xảy ra sớm, nghiên cứu tại Khánh Hòa (2003) cho thấy muỗi An.

dirus hoạt động đốt mồi suốt đêm, bắt đầu từ 18-19 giờ, tỷ lệ muỗi An. dirus thu thập trong rừng từ 18 đến 22 giờ chiếm 50% số muỗi bắt được trong đêm. Chỉ số lan truyền côn trùng từ 18-24 giờ ở trong rừng là 27,21 và nhà rẫy là 37,99; cao hơn nửa sau đêm từ 0-6 giờ, ở trong rừng là 5,69 và nhà rẫy là 16,54 [8]. Do đó, màn tẩm hóa chất hoặc võng có bọc võng tẩm hóa chất tồn lưu lâu chỉ bảo vệ được người dân phòng chống muỗi khi họ sử dụng màn hoặc võng, ít có khả năng bảo vệ người dân trong thời gian họ vẫn còn hoạt động trong rừng, rẫy vào buổi chiều hoặc tối.

Vì vậy, tại một số nơi bệnh sốt rét vẫn còn tồn tại dai dẳng. Xác định rõ nguyên nhân của lan truyền sốt rét dai dẳng để từ đó có biện pháp phòng chống véc tơ hiệu quả trong thời gian người dân vẫn hoạt động trong rừng, rẫy là rất cần thiết để góp phần làm giảm gánh nặng bệnh sốt rét. Do đó, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét và hiệu lực của nến có transfluthrin xua diệt muỗi ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa (2016 - 2019)”, với các mục tiêu: 1. Mô tả các yếu tố lan truyền sốt rét dai dẳng liên quan đến muỗi truyền bệnh sốt rét tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.

Đánh giá hiệu lực, tác dụng không mong muốn của nến có transfluthrin xua diệt muỗi tại phòng thí nghiệm và thực địa. Tình hình sốt rét trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sốt rét trên thế giới Bệnh sốt rét là một trong những bệnh nguy hiểm hàng đầu gây tử vong cho loài người, bệnh do một số loài ký sinh trùng Plasmodium gây ra. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 350-500 triệu ca sốt rét và ít nhất một triệu người trong số đó tử vong.

Hầu hết các trường hợp mắc sốt rét và tử vong là trẻ em và phụ nữ có thai, trong đó 90% thuộc khu vực cận Sahara ở châu Phi, tại các khu vực xa xôi hẻo lánh với sự kém phát triển về các dịch vụ y tế. Tuy vậy, các khu vực khác như châu Á, châu Mỹ La tinh, khu vực Trung Đông vẫn đang bị ảnh hưởng [9]. Kể từ khi thành lập vào năm 1948, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã giành sự ưu tiên cao nhất cho vấn đề sốt rét. Chương trình thanh toán sốt rét toàn cầu (Global Malaria Eradication Programme) với mục đích loại trừ ký sinh trùng sốt rét đã được WHO ban bố vào năm 1955 ở hầu hết các nước sốt rét lưu hành.

Chương trình này được thực hiện dựa trên việc sử dụng rộng rãi hoá chất diệt côn trùng dichlor-diphenyl-trichlorethal (DDT) để phun tồn lưu, và sử dụng các loại thuốc điều trị sốt rét trong đó chủ yếu là chloroquine. Tuy nhiên, sau 36 năm tiến hành thanh toán sốt rét (từ 1955 – 1991) trên toàn thế giới vẫn còn trên 2 tỷ người sống trong vùng sốt rét chiếm gần 50% dân số thế giới ở 100 nước, tử vong do sốt rét hàng năm từ 1 đến 2 triệu người, số mắc sốt rét mới hàng năm là 110 triệu người) [10]. Trước tình hình này, hội nghị các Bộ trưởng bàn về vấn đề sốt rét đã được tổ chức tại Amsterdam năm 1992 đã quyết định thay đổi chiến lược từ “Thanh toán sốt rét” trở lại “Phòng chống sốt rét”. Chiến lược phòng chống sốt rét (PCSR) toàn cầu (The Global Malaria Control Strategy) đã được thông qua với mục tiêu hạn chế tử vong, giảm tỷ lệ mắc sốt rét và giảm thiểu những thiệt hại về kinh tế, xã hội do sốt rét 4 gây ra thông qua việc cải thiện nhanh chóng và củng cố năng lực của các địa phương trong vấn đề PCSR.

Năm 2007, WHO đã khuyến cáo một chiến lược mới quy mô toàn cầu đó là loại trừ sốt rét. Chiến lược mới này với mục đích cắt đứt lan truyền sốt rét tại chỗ một cách bền vững. Theo số liệu thống kê của WHO đến năm 2009, bệnh sốt rét vẫn lưu hành ở 108 quốc gia, ước tính có khoảng 225 triệu người mắc và 781 nghìn người tử vong do sốt rét, riêng Châu Phi chiếm 91%; Đông Nam Á chiếm 6% [11]. Tính chung giai đoạn 2000-2015, số ca mắc và ca tử vong do sốt rét giảm trên toàn cầu.

Năm 2015, ước tính có 214 triệu ca mắc sốt rét giảm 18% so với 262 triệu ca năm 2000; Năm 2015 có 438.000 ca tử vong giảm 48% so với 839. Số trường hợp mắc và tử vong do sốt rét chủ yếu xảy ra ở Châu Phi (88% năm 2000 và 90% năm 2015), tiếp đến là Đông Nam Á (10% và 7%), Địa Trung Hải (2% và 2%) [12],[13]. Năm 2019 có khoảng 228 triệu trường hợp mắc bệnh sốt rét, giảm 23 triệu trường hợp so với năm 2010 (228 triệu/251 triệu trường hợp) và giảm 3 triệu trường hợp so với 2017 (228 triệu/231 triệu trường hợp). Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét đã giảm trên toàn cầu từ năm 2010 đến 2020, từ 71/1.000 dân số nguy cơ sốt rét (2019).

Hầu hết các trường hợp sốt rét trong năm 2019 ở Khu vực Châu Phi với 213 triệu trường hợp chiếm 93%, tiếp theo là khu vực Đông Nam Á chiếm 3,4% và khu vực Địa Trung Hải chiếm 2,1%. Tình hình sốt rét ở Việt Nam Tại Việt Nam, Chương trình tiêu diệt sốt rét đã thực hiện ở miền Bắc từ năm 1958 - 1975, bao gồm: giai đoạn chuẩn bị (từ 1958 - 1961) và giai đoạn tấn công tiêu diệt sốt rét (từ 1962-1964). Đến năm 1964, bệnh sốt rét đã giảm 20 lần. Chương trình tiêu diệt sốt rét được duy trì trong suốt thời gian chiến tranh chống Mỹ ở miền Bắc cùng với chương trình phòng chống và diệt trừ sốt rét trong các vùng giải phóng ở miền Nam đến năm 1975.

Sau thống nhất đất 5 nước, do hậu quả của chiến tranh và do nhiều nguyên nhân khác, tình hình bệnh sốt rét trên toàn quốc không ổn định, tỷ lệ mắc và chết do sốt rét tăng dần. Từ năm 1976 nước ta đã chuyển chiến lược tiêu diệt sốt rét sang chiến lược thanh toán sốt rét không hạn định về thời gian. Từ năm 1987 bệnh sốt rét đã quay trở lại ở hầu hết các tỉnh vùng rừng núi và ven biển với tốc độ nhanh và nghiêm trọng, với khoảng 80% dân số sống trong vùng sốt rét (57 triệu người). Năm 1991, toàn quốc có 144 vụ dịch sốt rét, 4646 người chết do sốt rétvà hơn 1 triệu người mắc sốt rét.

Năm 1991, Việt Nam đã chuyển chiến lược thanh toán sốt rét sang chiến lược phòng chống sốt rét và Chương trình phòng chống sốt rét trở thành một trong các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS từ đó cho đến năm 2020. Sau 10 năm (1991 – 2000) thực hiện PCSR: Số người mắc sốt rét giảm 73,1% so với năm 1991 (1.251 người); số người tử vong do sốt rét giảm 98,5% so với năm 1991 (4.646 người); 2 vụ dịch sốt rét (phạm vi thôn, bản), giảm 98,6% so với năm 1991 (144 vụ dịch) [15],[16]. Việt Nam là một trong những quốc gia có chương trình PCSR thành công, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công tác PCSR từ năm 1991 khi chuyển từ chương trình thanh toán sốt rét sang PCSR: sốt rét đã giảm mạnh, thậm chí nhiều tỉnh, thành phố đã không ghi nhận trường hợp mắc sốt rét tại địa phương. Số vụ dịch sốt rét giảm dần, năm 2010 không có dịch sốt rét xảy ra trong cả nước [15].

Từ năm 2011, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược phòng chống và loại trừ sốt rét”[15]. Trong giai đoạn 2011-2015, công tác phòng chống và loại trừ sốt rét được đẩy mạnh ở tất cả các tuyến, tình hình sốt rét ổn định ở nhiều tỉnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu lan truyền sốt rét dai dẳng và hiệu quả của nến transfluthrin xua diệt muỗi tại Khánh Vĩnh là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích sự lan truyền bền bỉ của bệnh sốt rét tại khu vực Khánh Vĩnh, đồng thời đánh giá hiệu quả của nến transfluthrin trong việc xua đuổi và tiêu diệt muỗi. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết sâu sắc về cơ chế lan truyền bệnh và đề xuất các biện pháp phòng chống hiệu quả, đặc biệt là trong việc sử dụng hóa chất để kiểm soát vector truyền bệnh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, chuyên gia y tế và những người quan tâm đến công tác phòng chống sốt rét.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận án thành phần loài phân bố đặc điểm sinh thái và sự nhạy cảm của véc tơ sốt rét với các hóa chất sử dụng trong phòng chống sốt rét ở miền trung tây nguyên 2014 2017, nghiên cứu này đi sâu vào đặc điểm sinh thái và sự nhạy cảm của vector sốt rét với các hóa chất phòng chống. Ngoài ra, Luận án nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử gen k13 và đáp ứng của plasmodium falciparum với dihydroartemisinin piperaquin phosphate ở một số vùng sốt rét lưu hành tại việt nam cũng là một tài liệu đáng đọc, cung cấp thông tin chi tiết về đặc điểm dịch tễ học phân tử và phản ứng của ký sinh trùng sốt rét với các loại thuốc điều trị. Cả hai tài liệu này đều bổ sung kiến thức chuyên sâu, giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh khác nhau của bệnh sốt rét và các biện pháp phòng chống hiệu quả.