Tổng quan luận án

Bệnh sốt rét là bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng thuộc giống Plasmodium gây ra và lây truyền sang người qua vết đốt của muỗi cái thuộc giống Anopheles. Theo báo cáo năm 2015 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trên quy mô toàn cầu có khoảng 3,2 tỷ người sinh sống trong các vùng sốt rét lưu hành tại 97 quốc gia và vùng lãnh thổ, với ước tính 214 triệu ca mắc và 438.000 trường hợp tử vong. Riêng khu vực Tây Thái Bình Dương có 10 quốc gia lưu hành sốt rét, đặt khoảng 870 triệu người vào diện nguy cơ và 60 triệu người sống trong vùng có tỷ lệ mắc vượt quá 1/1.000 dân. Tại Việt Nam, sau các giai đoạn thực hiện chương trình Tiêu diệt sốt rét (1958 - 1975) và Thanh toán sốt rét (1976 - 1990), chương trình Phòng chống sốt rét được triển khai từ năm 1991 đến nay.

Khu vực miền Trung - Tây Nguyên là địa bàn có diễn biến dịch tễ sốt rét phức tạp nhất cả nước. Trên 70% dân số khu vực sống trong vùng có nguy cơ sốt rét với mức độ di biến động dân cư lớn. Số bệnh nhân sốt rét tại đây chiếm gần 50%, số ca nhiễm ký sinh trùng sốt rét chiếm 75%, các trường hợp sốt rét ác tính và tử vong chiếm trên 80% tổng số của cả nước. Số liệu thống kê năm 2015 ghi nhận 15 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên có 7.644 bệnh nhân sốt rét (chiếm 39,7% cả nước) và 6.500 ca phát hiện ký sinh trùng sốt rét (chiếm 69,7% cả nước). Trong đó, tỉnh Gia Lai ghi nhận 2.215 ca có ký sinh trùng (chiếm 34,1% khu vực), tỉnh Khánh Hòa có 767 bệnh nhân sốt rét (chiếm 10,0%) và 756 ca có ký sinh trùng (chiếm 11,6%). Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 80% tổng số bệnh nhân; khoảng 21,3% dân số tại các vùng sốt rét trọng điểm có hoạt động ngủ rẫy, với 15% thường xuyên đi rừng, ngủ rẫy và khai thác lâm thổ sản.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định xuất phát từ thực trạng tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét ở miền Trung - Tây Nguyên vẫn cao gấp 5 đến 10 lần mức trung bình toàn quốc dù các chỉ số chung có xu hướng giảm. Quần thể véc tơ truyền bệnh tại khu vực rừng núi chưa được khống chế triệt để do tập tính trú đậu, đốt mồi ngoài nhà của muỗi và thói quen canh tác, ngủ rẫy của người dân. Cùng với đó, nguy cơ suy giảm độ nhạy cảm hoặc xuất hiện tính kháng đối với hai hóa chất diệt côn trùng nhóm pyrethroid chủ lực đang sử dụng (alpha-cypermethrin và lambda-cyhalothrin) đòi hỏi phải có khảo sát thực địa toàn diện và cập nhật.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Xác định thành phần loài Anopheles, phân bố, sinh học, sinh thái và vai trò truyền bệnh của các véc tơ sốt rét khu vực miền Trung - Tây Nguyên 2014 - 2017.
  2. Đánh giá sự nhạy cảm của véc tơ sốt rét với lambda - cyhalothrin và alpha - cypermethrin tại các điểm nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài muỗi trưởng thành và bọ gậy thuộc giống Anopheles Meigen, 1818 (Diptera: Culicidae).
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại 6 tỉnh thuộc miền Trung - Tây Nguyên gồm Quảng Bình (xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy), Bình Định (xã Canh Hòa, huyện Vân Canh), Ninh Thuận (xã Phước Thành, huyện Bác Ái), Đắk Lắk (Khu bảo tồn Ea Sô, huyện Ea Kar), Khánh Hòa (xã Sơn Thái và xã Khánh Phú, huyện Khánh Vĩnh) và Gia Lai (xã Ia Mlah và xã Chư R Căm, huyện Krông Pa). Nghiên cứu thực hiện phân tích sâu tại 2 trọng điểm sốt rét lưu hành nặng là Khánh Hòa và Gia Lai. Các phân tích phòng thí nghiệm được thực hiện tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn.
  • Phạm vi thời gian: Điều tra thực địa thu thập mẫu vật côn trùng diễn ra từ năm 2014 đến năm 2017 theo cả mùa mưa và mùa khô.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về khu hệ muỗi Anopheles, sinh thái học véc tơ và tính kháng hóa chất diệt trên thế giới và tại Việt Nam:

Về thành phần loài và phân loại học muỗi Anopheles: Ralph Harbach (2008) phân chia họ Culicidae Meigen 1818 thành hai phân họ: Culicinae (92 giống) và Anophelinae Grassi 1900 (3 giống gồm Anopheles, Bironella, Chagasia với tổng cộng 547 loài). Giống Anopheles có 464 loài cùng hơn 50 thành viên chưa định danh, thuộc 7 phân giống. Nghiên cứu phức hợp loài An. dirus của Baimai và Green (1984), Baimai (1992), Sallum (2005) và Obsomer (2007) đã xác định 7 loài thành viên thuộc phức hợp này tại Đông Nam Á. Harbach, Garros, Manh và Manguin (2007) xác định phức hợp Minimus gồm An. minimus (loài A) và An. harrisoni (loài C). Sukowati, Baimai và cộng sự (1999) cùng Linton và Harbach (2005) nghiên cứu phức hợp An. sundaicus. Sinka và cộng sự (2012) xây dựng bản đồ phân bố các véc tơ sốt rét chính trên thế giới.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX gồm công trình của Laveran (1901-1904), Bonet (1906), Mathis Legar (1910 - danh mục 15 loài), Borel (1926, 1930), Stanton (1926), Mesnard (1934), Farinaud (1938), Stojanovich và Scott (1966 - 41 loài ở miền Nam). Giai đoạn sau năm 1975 có các công trình của Nguyễn Đức Mạnh (1988), Trương Văn Có (1996), Hồ Đình Trung (2005 - thống kê 59 loài Anopheles, xác định 15 véc tơ chính, phụ và nghi ngờ), và Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương (2008 - bảng định loại gồm 64 loài). Các kỹ thuật sinh học phân tử được Ngô Thị Hương và cộng sự (2004, 2007) ứng dụng để định loại phức hợp Minimus và Dirus; Nguyễn Thị Hương Bình (2008, 2009) xác định nhóm An. maculatus có 14 thành viên; Nguyễn Đức Mạnh và cộng sự (2006, 2008) xác định An. epiroticus thuộc phức hợp Sundaicus; Hồ Đình Trung (1996) dùng kỹ thuật điện di enzym locus Odh tách An. minimus thành "dạng 1" (Odh134/134 ưa đốt ngoài nhà) và "dạng 2" (Odh100/100 ưa đốt trong nhà); Nguyễn Thị Hồng Ngọc và cộng sự (2008) phân tích đa hình ADN nhóm Minimus.

Về sinh thái, tập tính và vai trò truyền bệnh: Các nghiên cứu sinh học cơ bản trên thế giới gồm Christopher (1911), Beklemishev (1940), Russell (1946), Gillies (1961), Gillies và Wilkes (1965), Carnevale, Bryan và Smalley (1978), Kondrashin và cộng sự (1991). MacDonald (1957) xác định các điều kiện sinh học cần thiết của một véc tơ truyền bệnh sốt rét. Tập tính đốt mồi của An. minimus và An. dirus được ghi nhận qua các công trình của Ismail và cộng sự (1975) tại Thái Lan cùng các tác giả tại Ấn Độ, Myanmar, Campuchia, Bangladesh. Tại Việt Nam, Lê Khánh Thuận và Trương Văn Có (2001) nghiên cứu sinh thái An. minimus tại miền Trung - Tây Nguyên; Nguyễn Tuyên Quang, Marchand và Nguyễn Thọ Viễn (2002) xác định ngưỡng nhiệt độ (18 - 33 độ C) và độ ẩm (81 - 90%) của An. minimus tại Khánh Phú; Nguyễn Đức Mạnh, Trần Đức Hinh, Lê Đình Công và cộng sự (2002) phân tích tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét qua thử nghiệm ELISA trên 12.867 cá thể muỗi; Nguyễn Thị Duyên (2011) khảo sát An. dirus ở vùng nhà rẫy Bình Định; Nguyễn Xuân Quang và cộng sự (2012) thử nghiệm võng tẩm Fendona 10SC tại Ea Sô, Chư Mom Ray và Kon Ka Kinh.

Về biện pháp phòng chống và tính kháng hóa chất: Các nghiên cứu tổng hợp hóa chất nhóm pyrethroid của Schechter (1924), Elliott và Onwaris (1973); hiệu quả màn tẩm permethrin của Binka và cộng sự (1996) tại Ghana và Yap (1996) tại Malaysia. Thống kê của WHO (1992, 1996, 2016) và Rodriguez (2000) ghi nhận số loài muỗi kháng hóa chất tăng từ 2 loài năm 1946 lên 55 loài năm 1991, 72 loài năm 1992 và khoảng 100 loài vào năm 2000. Nghiên cứu cơ chế kháng kdr và cytochrome P450 của Emmanuel, Taye tại châu Phi. Tại Việt Nam, các nghiên cứu ứng dụng hóa chất pyrethroid gồm Nguyễn Văn Chí và cộng sự (1986 - 1991), Lê Khánh Thuận và Trương Văn Có (1997), Trần Đức Hinh và cộng sự (2001), Nguyễn Tuấn Ruyện và cộng sự (1997, 2001), Triệu Nguyên Trung và cộng sự (2009). Báo cáo giám sát toàn quốc giai đoạn 2003 - 2012 cho thấy có 49/132 điểm thử kháng alpha-cypermethrin và 59/126 điểm thử kháng lambda-cyhalothrin.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Cập nhật biến động thành phần loài, mật độ, tập tính trú đậu và đốt máu của muỗi Anopheles tại hai sinh cảnh đặc thù (bìa rừng và trong rừng/nhà rẫy), đồng thời kiểm tra mức độ nhạy cảm của các véc tơ sốt rét chính (An. dirus, An. minimus) và véc tơ phụ (An. aconitus, An. maculatus) đối với hai loại hóa chất alpha-cypermethrin và lambda-cyhalothrin tại 6 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên giai đoạn 2014 - 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết và khái niệm chuyên ngành:

  • Khung phân loại học hình thái theo họ Culicidae Meigen 1818, phân họ Anophelinae Grassi 1900, giống Anopheles Meigen 1818 và Bảng định loại muỗi Anophelinae ở Việt Nam năm 2008 của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương.
  • Khái niệm véc tơ truyền bệnh sốt rét theo tiêu chuẩn dịch tễ học của MacDonald (1957), yêu cầu véc tơ phải có thoa trùng trong tuyến nước bọt, ưa hút máu người, tuổi thọ sinh lý đủ dài để ký sinh trùng hoàn thành chu kỳ phát triển và mật độ cao vào mùa truyền bệnh.
  • Định nghĩa tính kháng hóa chất của WHO: Kháng hóa chất là sự phát triển khả năng sống sót của một số cá thể sau khi tiếp xúc với nồng độ hóa chất mà thông thường sẽ tiêu diệt đa số cá thể trong quần thể bình thường của loài đó.
  • Cơ chế kháng của côn trùng: Kháng do giảm tính thẩm thấu qua lớp biểu bì; kháng tập tính né tránh bề mặt xử lý hóa chất; kháng hạ gục (knockdown resistance - kdr); và kháng do cơ chế chuyển hóa enzym (cytochrome P450, enzym thủy phân, oxy hóa, khử clo).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả kết hợp thực địa và xét nghiệm phòng thí nghiệm. Lịch trình và địa điểm khảo sát thực địa được tổng hợp trong bảng dưới đây:

TT Địa điểm nghiên cứu Thời gian điều tra Thời tiết / Mùa Sinh cảnh đặc trưng
1 Xã Canh Hòa, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định Tháng 8/2014
Tháng 11/2014
Mùa khô
Mùa mưa
Bìa rừng (làng tập trung ven rừng)
2 Xã Phước Thành, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận Tháng 8/2015
Tháng 10/2015
Mùa khô
Mùa mưa
Bìa rừng (đồi núi thấp, suối nhỏ)
3 Xã Ia Mlah và Chư R Căm, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai Tháng 5, 7/2016
Tháng 9, 11/2016
Mùa mưa
Mùa khô
Trong rừng (nhà rẫy, rừng sản xuất)
4 Thôn Ea Puk, xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk Tháng 9, 11/2016 Mùa mưa Bìa rừng (sát Khu bảo tồn Ea Sô)
5 Xã Sơn Thái và Khánh Phú, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa Tháng 5, 7/2017
Tháng 9, 11/2017
Mùa khô
Mùa mưa
Trong rừng (nhà rẫy, chòi tạm sâu trong rừng)
6 Xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Tháng 7/2017 Mùa khô Bìa rừng (biên giới, đồi núi)

Các kỹ thuật điều tra côn trùng ngoài thực địa theo tiêu chuẩn WHO (1975, 1994):

  • Phương pháp mồi người trong nhà (MNTN) và ngoài nhà (MNNN) ban đêm: Thực hiện từ 18h00 đến 06h00 sáng hôm sau, tiến hành 4 đêm/đợt điều tra tại mỗi điểm. Người làm mồi mặc quần cộc, bắt muỗi bằng tuýp thủy tinh hai đầu khi muỗi đến đốt máu, kiểm tra định kỳ 2 - 3 phút/lần. Chỉ số đo lường: con/giờ/người hoặc mật độ = Số muỗi bắt được / (Số người bắt x Số đêm bắt) (con/người/đêm).
  • Phương pháp bẫy đèn CDC trong nhà (BĐTN) và ngoài nhà (BĐNN) ban đêm: Hoạt động từ 18h00 đến 06h00 sáng hôm sau trong 4 đêm/đợt điều tra. Bố trí 4 bẫy đèn/điểm (2 bẫy trong nhà, 2 bẫy ngoài nhà treo cách nhà 10 - 50 mét ở độ cao 1,8 mét). Chỉ số đo lường: con/đèn/đêm = Tổng số muỗi cái thu thập / (Số bẫy đèn x Số đêm).
  • Phương pháp soi bắt muỗi trú đậu vách trong (SVT) và vách ngoài (SVN) ban đêm: Tiến hành từ 19h00 đến 23h00 tại 10 nhà/điểm trong 2 đêm. Chỉ số đo lường: con/nhà/đêm.
  • Phương pháp thu thập muỗi chuồng gia súc ban đêm (SCGS): Bố trí bẫy màn trùm lên trâu hoặc bò thuần tính từ 18h00 đến 06h00 sáng hôm sau, mép màn treo cách mặt đất 15 - 20 cm để muỗi bay vào. Chỉ số tính theo con/giờ.
  • Phương pháp điều tra bọ gậy: Điều tra tại các ổ nước trong rừng, vũng nước nhỏ, rãnh nước và suối nước chảy chậm từ 08h00 đến 11h00 sáng. Tại mỗi loại thủy vực điều tra 5 điểm, mỗi điểm vớt 20 bát dung tích 0,5 lít (tổng cộng 100 bát). Chỉ số tính theo số lượng bọ gậy/100 bát.

Kỹ thuật phòng thí nghiệm và tiêu chuẩn đánh giá:

  • Kỹ thuật định loại hình thái: Sử dụng kính lúp cầm tay độ phóng đại 10x và kính lúp hai mắt 20x, đối chiếu Bảng định loại muỗi Anophelinae ở Việt Nam (Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, 2008).
  • Kỹ thuật mổ muỗi và soi buồng trứng: Theo quy trình WHO (1994) và Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương (2011). Muỗi được gây mê bằng ether hoặc chloroform, mổ lấy buồng trứng đặt lên giọt nước cất trên lam kính, soi dưới kính hiển vi phóng đại 10x và 40x để phân loại muỗi chưa đẻ (khí quản buồng trứng xoắn lại) và muỗi đã đẻ (khí quản buồng trứng dãn ra). Từ đó tính tỷ lệ đẻ, tỷ lệ sống sót hàng ngày và tuổi thọ trung bình quần thể.
  • Kỹ thuật xét nghiệm ELISA phát hiện ký sinh trùng sốt rét: Thực hiện trên đĩa 96 giếng phủ 50 microlit kháng thể đơn dòng MAb P.f 2A10 (đối với Plasmodium falciparum), P.v 210 và P.v 247 (đối với Plasmodium vivax). Ủ mẫu muỗi nghiền, chứng dương, chứng âm và rửa bằng dung dịch PBS-Tween, thêm enzym liên kết và cơ chất để đọc kết quả trên máy đọc ELISA tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn.
  • Kỹ thuật thử nhạy cảm hóa chất theo quy chuẩn WHO (2013): Sử dụng bộ dụng cụ 12 ống nhựa (5 ống thử, 2 ống đối chứng, 5 ống nghỉ). Mẫu thử gồm ít nhất 100 muỗi cái trưởng thành 1 - 2 ngày tuổi chưa hút máu. Cho muỗi tiếp xúc trong 60 phút với giấy tẩm hóa chất alpha-cypermethrin 30 mg/m2 (Fendona) hoặc lambda-cyhalothrin 0,05% (Icon). Ghi nhận tỷ lệ muỗi ngã gục tại thời điểm 60 phút, chuyển sang ống nghỉ cho hút dung dịch đường glucose 10% trong 24 giờ ở điều kiện nhiệt độ 25 ± 2 độ C, độ ẩm 70 - 80% để xác định tỷ lệ muỗi chết sau 24 giờ.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Phần Đặt vấn đề trình bày gánh nặng bệnh sốt rét trên thế giới và tại Việt Nam. Trọng tâm dịch tễ được xác định tập trung tại 15 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, nơi chiếm tỷ trọng áp đảo về số ca bệnh (39,7%), số ca có ký sinh trùng (69,7%) và các trường hợp tử vong (>80%) của cả nước năm 2015. Phần này chỉ rõ hai véc tơ truyền bệnh chính tại khu vực là An. dirus và An. minimus, đồng thời xác định nhóm dân cư có tập quán đi rừng, ngủ rẫy (với 21,3% dân số vùng trọng điểm ngủ rẫy) là đối tượng nguy cơ cao nhất. Từ các cơ sở thực tiễn đó, hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài được thiết lập.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 tổng thuật chi tiết các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài nghiên cứu qua 4 nội dung lớn:

  1. Thành phần loài và phân bố muỗi Anopheles: Hệ thống hóa cấu trúc phân loại học gồm 547 loài thuộc phân họ Anophelinae trên thế giới, chi tiết các phân giống và các công trình giải mã phức hợp loài An. dirus, An. minimus, An. sundaicus. Điểm lại lịch sử nghiên cứu khu hệ muỗi tại Việt Nam qua các thời kỳ, xác định danh mục 64 loài Anopheles đã được công bố, trong đó có 15 loài đóng vai trò véc tơ chính, véc tơ phụ hoặc véc tơ nghi ngờ.
  2. Sinh thái, tập tính và vai trò truyền bệnh: Trình bày tập tính đốt máu người trong nhà và ngoài nhà, chu kỳ hoạt động trong đêm và đỉnh đốt mồi của các loài véc tơ chính (An. minimus, An. dirus) và véc tơ phụ (An. maculatus). Phân tích mối liên quan giữa mùa mưa và diễn biến 1 hoặc 2 đỉnh truyền bệnh sốt rét trong năm. Đánh giá vai trò truyền bệnh qua các dẫn liệu mổ thoa trùng tự nhiên và tỷ lệ dương tính qua kỹ thuật ELISA.
  3. Phòng chống véc tơ sốt rét: Tổng kết lịch sử sử dụng hóa chất từ DDT sang các hóa chất nhóm pyrethroid tổng hợp (permethrin, deltamethrin, alpha-cypermethrin, lambda-cyhalothrin). Trình bày kết quả các thử nghiệm phun tồn lưu và tẩm màn, võng tại thực địa miền Trung - Tây Nguyên và miền Bắc Việt Nam, cùng những trở ngại kỹ thuật trong việc bảo vệ nhóm dân cư đi rừng ngủ rẫy.
  4. Kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét: Nêu định nghĩa kháng hóa chất theo WHO, phân tích 4 cơ chế kháng sinh học (thẩm thấu, tập tính, hạ gục kdr, chuyển hóa enzym). Cập nhật tình hình kháng pyrethroid trên thế giới (báo cáo của WHO giai đoạn 2010 - 2014) và tại Việt Nam qua số liệu giám sát 2003 - 2012 với 49/132 điểm ghi nhận kháng alpha-cypermethrin và 59/126 điểm ghi nhận kháng lambda-cyhalothrin. Khái quát đặc điểm tự nhiên, xã hội và dịch tễ sốt rét khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết đối tượng, địa bàn, thời gian và toàn bộ quy trình can thiệp kỹ thuật:

  • Thiết lập 6 điểm điều tra thực địa đại diện cho hai nhóm sinh cảnh: sinh cảnh bìa rừng tại Quảng Bình (xã Ngân Thủy), Bình Định (xã Canh Hòa), Ninh Thuận (xã Phước Thành), Đắk Lắk (xã Ea Sô) và sinh cảnh trong rừng/nhà rẫy tại Khánh Hòa (xã Sơn Thái, Khánh Phú) và Gia Lai (xã Ia Mlah, Chư R Căm).
  • Chuẩn hóa các kỹ thuật thu thập muỗi trưởng thành ngoài thực địa (mồi người trong/ngoài nhà MNTN, MNNN; bẫy đèn CDC trong/ngoài nhà BĐTN, BĐNN; soi bắt muỗi chuồng gia súc SCGS; soi vách trong/vách ngoài SVT, SVN) và kỹ thuật điều tra bọ gậy tại các thủy vực tự nhiên.
  • Quy định chi tiết các kỹ thuật phòng thí nghiệm: định loại hình thái muỗi bằng kính lúp, mổ xác định tình trạng buồng trứng đã đẻ hay chưa đẻ để ước tính tuổi thọ quần thể véc tơ, quy trình xét nghiệm ELISA giếng 96 phát hiện kháng nguyên thoa trùng ký sinh trùng sốt rét (P. falciparum và P. vivax), và quy trình thử nghiệm độ nhạy cảm của muỗi với giấy tẩm hóa chất alpha-cypermethrin (30 mg/m2) và lambda-cyhalothrin (0,05%) theo hướng dẫn của WHO năm 2013.
  • Nêu rõ các công thức tính mật độ muỗi, tỷ lệ phần trăm, các chỉ số côn trùng học và quy định đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các số liệu định lượng thu thập từ thực địa và xét nghiệm phòng thí nghiệm:

  • Thành phần loài Anopheles và phân bố véc tơ: Xác định danh mục các loài muỗi thu thập được tại 6 điểm nghiên cứu, tỷ lệ phần trăm giữa các loài; phân bố véc tơ theo khu vực địa lý và theo hai sinh cảnh đặc trưng (bìa rừng và nhà rẫy trong rừng).
  • Đặc điểm sinh thái học và tập tính của véc tơ:
    • Mật độ véc tơ thu được qua các phương pháp bắt muỗi tại xã Ngân Thủy (Quảng Bình), xã Canh Hòa (Bình Định), xã Phước Thành (Ninh Thuận), Ea Sô (Đắk Lắk).
    • Khảo sát chuyên sâu tại khu vực nhà rẫy huyện Khánh Vĩnh (xã Khánh Phú, Sơn Thái) và huyện Krông Pa (xã Ia Mlah, Chư R Căm): So sánh mật độ trú đậu của muỗi trên vách trong so với vách ngoài nhà rẫy; so sánh mật độ muỗi đốt người trong nhà rẫy so với ngoài nhà rẫy; biểu đồ diễn biến hoạt động đốt người theo từng khung giờ trong đêm.
    • Thành phần loài và mật độ bọ gậy Anopheles tại các loại thủy vực tự nhiên ở Khánh Vĩnh và Krông Pa.
    • Kết quả mổ buồng trứng xác định tỷ lệ đẻ, tỷ lệ sống sót hàng ngày và ước tính tuổi thọ trung bình của các quần thể véc tơ sốt rét.
  • Vai trò truyền bệnh: Tỷ lệ muỗi nhiễm ký sinh trùng sốt rét qua xét nghiệm ELISA đối với P. falciparum và P. vivax tại khu vực nhà rẫy Khánh Vĩnh và Krông Pa; tính toán chỉ số lan truyền sốt rét (H) của các véc tơ tại các điểm nghiên cứu.
  • Đánh giá sự nhạy cảm của véc tơ với hóa chất diệt: Kết quả thử nghiệm sinh học với giấy tẩm alpha-cypermethrin (30 mg/m2) và lambda-cyhalothrin (0,05%) đối với véc tơ chính (An. minimus, An. dirus) và véc tơ phụ (An. aconitus, An. maculatus) tại 6 địa bàn: huyện Vân Canh (Bình Định), huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), huyện Krông Pa (Gia Lai), huyện Bác Ái (Ninh Thuận), huyện Ea Kar (Đắk Lắk) và huyện Lệ Thủy (Quảng Bình). Trình bày tỷ lệ ngã gục theo thời gian tiếp xúc và tỷ lệ muỗi chết sau 24 giờ theo dõi.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích, so sánh các kết quả thu được với các công trình nghiên cứu trước đây:

  • Bàn luận về thành phần loài và biến động phân bố của muỗi Anopheles tại miền Trung - Tây Nguyên trong mối liên hệ với sự thay đổi sinh cảnh rừng và các can thiệp phòng chống sốt rét kéo dài.
  • Phân tích tập tính đốt mồi (trong nhà so với ngoài nhà, các khung giờ hoạt động cao điểm trong đêm) và tập tính trú đậu trên vách nhà rẫy của An. dirus, An. minimus và các loài véc tơ phụ; giải thích nguyên nhân duy trì sự truyền bệnh dai dẳng tại các vùng nương rẫy.
  • Đánh giá vai trò truyền bệnh của từng loài véc tơ dựa trên mật độ quần thể, tuổi thọ trung bình, chỉ số lan truyền và tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng thực tế qua thử nghiệm ELISA.
  • Phân tích mức độ nhạy cảm sinh học của An. minimus, An. dirus, An. aconitus và An. maculatus đối với hai hóa chất diệt côn trùng nhóm pyrethroid (alpha-cypermethrin và lambda-cyhalothrin), làm rõ sự biến thiên độ nhạy cảm giữa các địa phương và nguy cơ phát sinh tính kháng hóa chất tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại các đóng góp cụ thể về mặt khoa học lý luận và thực tiễn kiểm soát bệnh sốt rét:

Về mặt khoa học và lý luận:

  • Cung cấp bộ dẫn liệu cập nhật, đồng bộ giai đoạn 2014 - 2017 về thành phần loài muỗi Anopheles, đặc tính phân bố sinh cảnh và sinh thái học của các véc tơ truyền bệnh sốt rét tại 6 tỉnh trọng điểm thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
  • Làm sáng tỏ đặc điểm sinh học và tập tính của các véc tơ tại sinh cảnh đặc thù trong rừng (khu vực nhà rẫy), bao gồm mật độ trú đậu vách trong/vách ngoài, hoạt động đốt mồi trong/ngoài nhà theo các khung giờ trong đêm, tuổi thọ trung bình quần thể và tỷ lệ bọ gậy tại các thủy vực tự nhiên.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò truyền bệnh của các véc tơ sốt rét tại thực địa thông qua kỹ thuật sinh học phân tử ELISA xác định tỷ lệ nhiễm thoa trùng ký sinh trùng sốt rét (P. falciparum và P. vivax) và tính toán chỉ số lan truyền sốt rét.
  • Đánh giá hiện trạng nhạy cảm sinh học của cả véc tơ chính (An. dirus, An. minimus) và véc tơ phụ (An. aconitus, An. maculatus) đối với hai hóa chất pyrethroid đang được lưu hành (alpha-cypermethrin 30 mg/m2 và lambda-cyhalothrin 0,05%) theo quy chuẩn WHO 2013 tại 6 địa phương.

Về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu côn trùng học phục vụ việc xây dựng và điều chỉnh kế hoạch phòng chống véc tơ của Chương trình Quốc gia Phòng chống sốt rét tại các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên.
  • Đề xuất các can thiệp kỹ thuật trọng tâm hướng tới nhóm đối tượng nguy cơ cao có tập quán đi rừng, ngủ rẫy.
  • Cung cấp bằng chứng thực địa phục vụ việc lựa chọn, quản lý và luân chuyển hóa chất diệt côn trùng hợp lý, nhằm ngăn ngừa và kiểm soát sự phát triển tính kháng pyrethroid của các véc tơ sốt rét trong khu vực.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát sâu về sinh thái học nhà rẫy và vai trò truyền bệnh bằng kỹ thuật ELISA mới chỉ tập trung thực hiện tại 2 trọng điểm lưu hành nặng (Khánh Vĩnh - Khánh Hòa và Krông Pa - Gia Lai), trong khi 4 điểm nghiên cứu còn lại (Quảng Bình, Bình Định, Ninh Thuận, Đắk Lắk) chủ yếu điều tra tại sinh cảnh bìa rừng.
  • Đánh giá nhạy cảm hóa chất mới thực hiện trên hai hoạt chất thuộc nhóm pyrethroid tổng hợp là alpha-cypermethrin và lambda-cyhalothrin; chưa tiến hành thử nghiệm mở rộng đối với các nhóm hóa chất diệt côn trùng khác (như phospho hữu cơ, carbamat) hoặc các cơ chế sinh học phân tử xác định gen kháng (như gen kdr hay các enzym giải độc).

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi điều tra sinh thái học và xét nghiệm nhiễm ký sinh trùng bằng ELISA trên các quần thể véc tơ tại các địa bàn đồi núi biên giới và các khu bảo tồn thiên nhiên khác trong khu vực.
  • Ứng dụng các kỹ thuật sinh học phân tử chuyên sâu (như phản ứng chuỗi PCR, giải trình tự gen) để giám sát các đột biến kháng kdr và cơ chế enzym chuyển hóa trên các quần thể véc tơ có dấu hiệu suy giảm độ nhạy cảm với hóa chất pyrethroid.

Giá trị tham khảo

Nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ký sinh trùng - Côn trùng y học, Y tế công cộng và Dịch tễ học: Tham khảo khung thiết kế nghiên cứu thực địa cắt ngang mô tả, quy trình điều tra côn trùng học chuẩn hóa theo WHO (phương pháp mồi người, bẫy đèn CDC, soi vách, bẫy màn gia súc, điều tra bọ gậy), kỹ thuật mổ buồng trứng đánh giá sinh lý muỗi và quy trình xét nghiệm ELISA phát hiện thoa trùng ký sinh trùng sốt rét.
  • Cán bộ quản lý chương trình phòng chống sốt rét và cán bộ y tế dự phòng tuyến tỉnh, huyện: Sử dụng số liệu phân bố véc tơ, tập tính đốt máu trong và ngoài nhà rẫy, cùng các dẫn liệu nhạy cảm hóa chất để xây dựng kế hoạch can thiệp phòng chống véc tơ phù hợp cho từng vùng sinh thái, đặc biệt là nhóm dân tộc thiểu số canh tác nương rẫy.

Câu hỏi thường gặp

1. Tình hình dịch tễ sốt rét tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên trước khi nghiên cứu được tiến hành có đặc điểm gì nổi bật?
Khu vực miền Trung - Tây Nguyên chiếm gần 50% số bệnh nhân sốt rét, 75% số ca nhiễm ký sinh trùng sốt rét, và trên 80% số ca sốt rét ác tính cùng tử vong của cả nước. Năm 2015, toàn khu vực ghi nhận 7.644 bệnh nhân sốt rét (39,7% cả nước) và 6.500 ca có ký sinh trùng (69,7% cả nước); trong đó Gia Lai chiếm 34,1% số ca ký sinh trùng của khu vực, Khánh Hòa chiếm 10% bệnh nhân sốt rét và 11,6% số ca ký sinh trùng. Bệnh nhân là người dân tộc thiểu số chiếm trên 80%; có 21,3% dân số vùng trọng điểm ngủ rẫy và 15% thường xuyên đi rừng khai thác lâm thổ sản. Tỷ lệ mắc tại đây cao gấp 5 lần và tỷ lệ tử vong cao gấp 10 lần mức trung bình toàn quốc.

2. Nghiên cứu thực hiện thu thập mẫu côn trùng tại những địa phương và sinh cảnh nào?
Nghiên cứu khảo sát tại 6 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên giai đoạn 2014 - 2017 chia làm hai nhóm sinh cảnh:

  • Sinh cảnh bìa rừng: Xã Ngân Thủy (huyện Lệ Thủy, Quảng Bình), xã Canh Hòa (huyện Vân Canh, Bình Định), xã Phước Thành (huyện Bác Ái, Ninh Thuận) và thôn Ea Puk - xã Ea Sô (huyện Ea Kar, Đắk Lắk).
  • Sinh cảnh trong rừng (nhà rẫy): Xã Khánh Phú và xã Sơn Thái (huyện Khánh Vĩnh, Khánh Hòa) cùng xã Ia Mlah và xã Chư R Căm (huyện Krông Pa, Gia Lai).

3. Luận án đã sử dụng các phương pháp điều tra muỗi thực địa nào theo hướng dẫn của WHO?
Luận án áp dụng 5 phương pháp điều tra muỗi trưởng thành và 1 phương pháp điều tra giai đoạn ấu trùng:

  • Bắt muỗi bằng mồi người trong nhà (MNTN) và ngoài nhà (MNNN) ban đêm từ 18h00 đến 06h00.
  • Bẫy đèn CDC trong nhà (BĐTN) và ngoài nhà (BĐNN) ban đêm từ 18h00 đến 06h00.
  • Soi bắt muỗi trú đậu vách trong (SVT) và vách ngoài (SVN) ban đêm từ 19h00 đến 23h00 tại 10 nhà/điểm.
  • Soi bắt muỗi chuồng gia súc ban đêm (SCGS) dùng trâu/bò làm mồi từ 18h00 đến 06h00.
  • Điều tra bọ gậy tại các thủy vực tự nhiên từ 08h00 đến 11h00 bằng phương pháp vớt bát (20 bát/điểm, 100 bát/thủy vực).

4. Kỹ thuật thử nhạy cảm của véc tơ với hóa chất được tiến hành với những loại hóa chất và nồng độ nào?
Thử nghiệm nhạy cảm thực hiện theo quy chuẩn WHO (2013) sử dụng bộ ống chuẩn 12 ống, cho muỗi cái 1 - 2 ngày tuổi chưa hút máu tiếp xúc 60 phút với hai loại giấy tẩm hóa chất thuộc nhóm pyrethroid: alpha-cypermethrin với nồng độ 30 mg/m2 (Fendona) và lambda-cyhalothrin với nồng độ 0,05% (Icon). Muỗi được ghi nhận tỷ lệ ngã gục sau 60 phút và theo dõi tỷ lệ chết sau 24 giờ nuôi nghỉ với nước đường glucose 10%.

5. Những loài véc tơ sốt rét nào được luận án tập trung khảo sát mức độ nhạy cảm với hóa chất?
Nghiên cứu tập trung thử nghiệm độ nhạy cảm hóa chất trên hai loài véc tơ truyền bệnh chính là Anopheles dirus và Anopheles minimus, cùng hai loài véc tơ truyền bệnh phụ là Anopheles aconitus và Anopheles maculatus tại các địa bàn nghiên cứu thuộc 6 tỉnh miền Trung - Tây Nguyên.

Kết luận

Luận án tiến sĩ đã thực hiện khảo sát dịch tễ học côn trùng toàn diện tại 6 tỉnh trọng điểm khu vực miền Trung - Tây Nguyên trong giai đoạn 2014 - 2017. Công trình làm rõ thành phần loài Anopheles, đặc điểm phân bố theo sinh cảnh bìa rừng và nhà rẫy trong rừng, tập tính đốt máu, trú đậu và vai trò truyền bệnh của các véc tơ chính (An. dirus, An. minimus) và véc tơ phụ (An. maculatus, An. aconitus). Đồng thời, luận án cung cấp dữ liệu thực nghiệm chuẩn hóa về mức độ nhạy cảm của các véc tơ đối với hai hóa chất diệt côn trùng alpha-cypermethrin và lambda-cyhalothrin. Đây là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định và triển khai các giải pháp phòng chống sốt rét hiệu quả tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên.