ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh cúm là một trong những bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm cho toàn xã hội, có thể bùng phát thành đại dịch. Bệnh do virus cúm gây nên, dựa trên cơ sở căn nguyên gây bệnh mà người ta phân chia ra các type cúm: A, B và C. Virus type B và C thường là lành tính và chỉ gây các bệnh cảm cúm thông thường, nhưng virus cúm type A thường gây bệnh nặng và có thể phát triển thành dịch. Trong lịch sử thế giới, các đại dịch cúm đã xẩy ra, thủ phạm là virus type A (H3N2, H5N1, H1N1…).
Do sự thích nghi loài, một số phân type virus cúm A có thể gây bệnh cho gia cầm như H5N1, H7N7. Đặc biệt, virus cúm A H5N1 rất độc đối với loài gà. Trong một số điều kiện nhất định, các virus cúm A thường gây bệnh cho gia cầm và cũng có thể gây bệnh cho người [1], [10]. Lần đầu tiên vào năm 1918, người ta nhận thấy ở lợn mắc chứng bệnh mà triệu chứng giống như bệnh cúm ở người trong đại dịch cúm năm 1918.
Do thương tổn biểu hiện giống nhau như vậy, nên bác sĩ Koen đã gọi tên bệnh mới này cho lợn là “cúm lợn”. Đến năm 1930, các nhà khoa học mới phân lập được loại virus này trên lợn, sau đó được xác nhận thuộc dòng H1N1 [15]. Có thể sử dụng vác xin để phòng bệnh cúm A. Tuy nhiên do nhiều lý do, hiện nay ở Việt Nam chưa tiến hành tiêm vác xin phòng cúm rộng rãi.
Trước đây bệnh cúm đã gây những đại dịch lớn, gây ra tử vong cho hàng triệu người. Hiện nay, bệnh cúm đã và đang gây ra đại dịch trên toàn cầu, song mức độ bùng phát dịch không rõ rệt như trước. Theo thông báo số 67 của Tổ chức Y tế thế giới, đến ngày 20/9/2009, toàn thế giới đã ghi nhận 318.925 trường hợp dương tính với cúm A H1N1, trong đó có 3.917 trường hợp tử vong, tại 191 quốc gia. Tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á, tình hình dịch tiếp tục diễn biến phức tạp: Ấn Độ đã ghi nhận 277 trường hợp tử vong do cúm A H1N1; Nhật Bản 18; Hàn Quốc 11; Philippine 28; Singapore 18; Malaysia 77; Indonesia 10.
3 Thời gian gần đây, ở Việt Nam số lượng bệnh nhân mắc bệnh cúm vẫn đang tăng nhanh, nhiều cơ quan, công sở và trường học đã phải đóng cửa. Thống kê của Bộ Y tế cho thấy, trong năm 2009 đã diễn ra 2 vụ dịch cúm do virus cúm type A H5N1 và virus cúm type A H1N1 gây ra. Trong đợt dịch này, tính đến ngày 29/9/2009, Việt Nam đã ghi nhận 8.853 trường hợp dương tính với cúm A H1N1, 15 trường hợp tử vong. Số bệnh nhân đã khỏi ra viện là 7.188, các trường hợp còn lại được cách ly, điều trị tại các bệnh viện, cơ sở điều trị, giám sát tại cộng đồng trong tình trạng sức khỏe ổn định [17], [18].
Tại Thái Nguyên, tính đến ngày 20.2009 đã có 11 bệnh nhân dương tính với cúm A H1N1 [42]. Trước tình hình bệnh nhân nhiễm cúm có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt do thời tiết chuyển mùa, sự biến đổi các yếu tố vi khí hậu thất thường không theo quy luật nhất định. Bộ Y tế cảnh báo sắp tới sẽ là giai đoạn dịch cực kỳ phức tạp. Các trường hợp mắc bệnh là do tiếp xúc với gia cầm bị bệnh hay tiếp xúc với lợn chết hay tiếp xúc với giọt nước bọt hay dịch mũi họng người bị bệnh, tiếp xúc đồ vật có dính dịch chứa virus đưa lên mũi, miệng.
Cúm A H5N1 có thể lây từ người sang người nên đã làm bệnh dịch lan rộng ra cộng đồng với nhiều nguy cơ trở thành đại dịch. Vì vậy việc chủ động phát hiện dịch, nghiêm túc thực hiện yêu cầu phòng chống cúm tại địa phương là hết sức quan trọng. Tuy nhiên tình hình dịch tễ bệnh cúm ở miền núi phía Bắc còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi nhiều yếu tố kinh tế, văn hoá và xã hội, do vậy công tác phòng chống dịch tại mỗi cộng đồng, địa phương như Thái Nguyên còn gặp nhiều khó khăn [2], [3]. Phong tục, tập quán sản xuất, chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún… làm ảnh hưởng đến việc phát hiện và khống chế, phòng chống dịch [5], [6], [7].
Truyền thông để người dân có hành vi phòng cúm là chiến lược hàng đầu dự phòng cúm trên thế giới cũng như Việt Nam. Đồng Hỷ là một huyện phía bắc tỉnh Thái Nguyên, nơi có nhiều người dân tộc thiểu số với điều kiện kinh tế còn khó khăn, chăn nuôi gia súc, gia 4 cầm nhỏ lẻ, nuôi thả rông.năm 2008 đã xảy ra dịch cúm A H5N1 ở gia cầm [51], [52]. Câu hỏi đặt ra là hành vi phòng cúm A (H5N1, H1N1) của người dân Thái Nguyên, đặc biệt là huyện Đồng Hỷ ra sao? Hành vi này đang chịu tác động bởi những yếu tố nào? Làm thế nào để cải thiện hành vi cho người dân? Và liệu có các giải pháp cải thiện được hành vi phòng cúm cho người dân hay không? Huy động cộng đồng truyền thông phòng chống một số bệnh đã được nhiều nhà khoa học áp dụng có hiệu quả, đây sẽ là hướng đi của chúng tôi trong nghiên cứu này. Chính vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm các mục tiêu sau: 1.
Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người dân ở 2 xã Hòa Bình và Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên về phòng bệnh cúm A. Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người dân trong phòng bệnh cúm A. Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng huy động cộng đồng truyền thông cải thiện hành vi phòng bệnh cúm A cho người dân ở xã Hòa Bình huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Tình hình dịch cúm hiện nay 1.
Sơ lược về bệnh cúm *Khái niệm: Bệnh cúm là bệnh của loài chim và động vật có vú do siêu vi trùng dạng RNA thuộc họ Orthomyxoviridae. Bệnh nhân mắc bệnh cúm thường bị sốt, đau đầu, rát họng, đau nhức khắp cơ thể, ho, mệt mỏi. Cúm cũng có thể gây viêm phổi và có thể dẫn đến tử vong nhất là ở trẻ em và người lớn tuổi sức đề kháng kém [11]. Bệnh cúm lây theo đường hô hấp, do tiếp xúc với gia cầm, lợn chết hoặc bị bệnh hoặc do tiếp xúc với giọt nước bọt hay dịch mũi họng người bị bệnh hay tiếp xúc đồ vật có dính dịch chứa virus đưa lên mũi, miệng [14].
*Căn nguyên gây bệnh: Căn nguyên gây bệnh cúm là do virus cúm gây nên, có nhiều loại virus cúm. Về mặt cấu trúc, virus cúm được chia làm ba nhóm A, B và C. Virus nhóm B và C thường là lành tính và chỉ gây các bệnh cảm cúm thông thường. Trong lịch sử các đại dịch cúm của thế giới, thủ phạm chỉ là virus cúm nhóm A.
Mỗi một đại dịch cúm xảy ra, các nhà khoa học cho rằng có vai trò biển đổi vật chủ, các virus cúm ở động vật như lợn và chim, vượt rào cản chủng loại lây sang người. Virus cúm type A có khả năng lây nhiễm cao trên cả người, chim, lợn, ngựa, hải cẩu, cá voi và nhiều động vật khác, trong đó các loài chim hoang dại là vật chủ chính của các virus này. Cúm type A được phân lọai thành nhiều type phụ dựa trên cơ sở của 2 protein có mặt ở lớp vỏ của virus. Những protein này được gọi là hemagglutinin (H) và neuraminidase (N).
Tên của các phân type virus cúm A như H3N2, H5N1, H1N1 bao hàm ý nghĩa đặc thù cấu trúc kháng nguyên vỏ ngoài virus. Chữ H (chất ngưng kết hồng cầu) và N (enzim tan nhầy) là ký hiệu của 2 kháng nguyên gây nhiễm trên vỏ của hạt virus cúm A, giúp virus gắn vào thành tế 6 bào và sau đó đột nhập vào tế bào hô hấp. là chỉ số thứ tự của kháng nguyên H và N đã biến đổi. Hiện có 15 dạng H và 9 dạng N khác nhau.
Sự kết hợp đa dạng giữa các protein nói trên là điều hoàn toàn có thể xảy ra [1], [16]. Lần đầu tiên vào năm 1918, người ta nhận thấy ở lợn mắc chứng bệnh mà triệu chứng giống như bệnh cúm ở người trong đại dịch cúm năm 1918. Do thương tổn thể hiện giống nhau như thế, nên bác sĩ Koen đã gọi tên bệnh mới này cho lợn là “cúm”. Tuy nhiên mãi cho đến năm 1930, các nhà khoa học mới phân lập được loại virus này trên lợn, được xác nhận là dòng H1N1.
Đến năm 1974, các nhà khoa học mới phân lập được virus cúm của lợn ở người, ca bệnh đầu tiên ở Fort Dix, tiểu bang New Jersey, Mỹ. Sau đó các xét nghiệm huyết thanh học ở người cũng cho thấy sự hiện diện của virus cúm lợn, từ đó một đầu mối nghi ngờ có thể đường lây là từ lợn, các virus gây bệnh ở lợn vượt hàng rào chủng loại, truyền bệnh sang cho người. Các điều tra dịch tễ học trên diện rộng về sau cho thấy rằng mức độ vụ dịch lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào lượng kháng thể chống virus cúm lợn ở người cao hay thấp. Ngoài ra, người ta cũng thấy có một mối liên quan giữa quy mô nuôi lợn với tỷ lệ bệnh cúm trong vùng đó, và vì thế mà các nhà khoa học suy luận rằng chính virus cúm ở lợn là nguồn lây bệnh dịch cho con người [15].
*Cơ chế lây truyền của bệnh cúm Lây truyền qua tiếp xúc: Lây truyền qua tiếp xúc xảy ra do sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp giữa mô/tổ chức của cơ thể (gồm cả da và niêm mạc) với da/niêm mạc hoặc các phương tiện vật liệu bị ô nhiễm. Đây là đường lây truyền chủ yếu nhất làm lan truyền vi rút cúm từ người bệnh này qua người bệnh khác hay từ nhân viên y tế sang người bệnh và ngược lại. Tác nhân thường lây truyền qua đường này gồm những vi sinh vật đa kháng, các nhiễm trùng da và đường ruột như MRSA, Herpes Simplex, chốc, ghẻ, chấy rận, đậu mùa, zona, nhiễm cúm kể cả H5N1, SARS [1]. 7 Lây truyền qua giọt bắn: Lây truyền qua giọt bắn xảy ra do hít phải những giọt phân tử hô hấp chứa các vi sinh vật gây bệnh có kích thước ≥5m tạo ra khi ho, hắt hơi, nói chuyện hoặc khi thực hiện một số thủ thuật như hút rửa, nội soi khí/phế quản.
Lây truyền qua giọt bắn cần sự tiếp xúc gần giữa người bệnh đường hô hấp và người nhận bởi vì những giọt bắn chứa vi sinh vật thường chỉ di chuyển một khoảng ngắn trong không khí (< 1 mét) và đi vào kết mạc mắt, niêm mạc mũi, miệng của người kế cận.