CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm liên quan Khái niệm Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho biết tên gọi chính thức của bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi-rút corona (nCoV) là COVID-19. Tên gọi mới này gọi tắt của coronavirus disease 2019, theo các từ khóa “corona”, “virus”, “disease” (dịch bệnh) và 2019 là năm mà loại virus gây đại dịch này xuất hiện [44]. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu và phân lập được một chủng corona virus mới, được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tạm thời gọi là 2019-nCoV có trình tự gen giống với Sars-CoV trước đây, với mức tương đồng lên tới 79,5%.
Tháng 2/2020, Ủy ban quốc tế về phân loại Virus – International Committee on Taxonomy of Viruses (ICTV) chính thức đặt tên cho chủng mới của vi-rút corona là Sars-CoV-2. Đây là tên gọi khác với tên COVID-19 mà WHO đã chỉ định trước đó. Đặc điểm virus corona 2019-nCoV Virus corona có nhiều chủng loại, trong đó có 7 chủng loại gây bệnh cho người: 229E (alpha coronavirus) NL63 (alpha coronavirus) OC43 (beta coronavirus) HKU1 (beta coronavirus) SARS-CoV (phát hiện 2002 tại Trung Quốc) MERS-Cov (phát hiện 2012 tại Ả rập Xê út) Thư viện ĐH Thăng Long 4 2019 novel Coronavirus (2019- nCoV) là chủng virus từ trước tới nay chưa từng được phát hiện hiện trên người và được WHO xác nhận vào ngày 09/01/2020 trên những người bệnh tại Trung Quốc được phát hiện vào tháng 12/2019. Bộ gen của virus corona là bộ gen lớn nhất trong số các virus RNA, bao gồm các vùng: vùng 5’UTR, khung đọc mở, vùng 3’UTR và cuối cùng là đuôi-poly (A).
Có 4 protein cấu trúc được bảo tồn trên các CoV đó là protein (S), protein màng (M), protein vỏ (E) và nucleocapsid (N) protein. Trong đó, Protein S chịu trách nhiệm liên kết với tế bào vật chủ và là thụ thể để virus xâm nhập vào tế bào. Các protein M, E và N là một phần của nucleocapsid của các hạt virus. Theo các nghiên cứu, bộ gen của virus corona có các mặt tương đồng như sau: Tương đồng 50% mã gen so với chủng virus MERS-CoV; Tương đồng 79,5% mã gen so với chủng virus SARS-CoV; Tương đồng 96% mã gen so với chủng virus Corona được phát hiện trong dơi, đặc biệt là dơi móng ngựa; Tương đồng 99% mã gen so với chủng virus Corona có trong loài Tê tê.
Khi phân tích vi rút Corona, các nhà khoa học nhận thấy vi rút Corona cùng loài với virus gây bệnh SARS vào năm 2003 với độ tương đồng lên đến 94.6% các chuỗi axit amin. Trong bộ gen của vi rút Corona có một gen thiết yếu là RdRp (RNA phụ thuộc RNA polymerase), gen này có độ bảo tồn cao, được dùng để chẩn đoán phát hiện vi rút Corona. Diễn biến thể bệnh COVID-19 Hiện nay COVID-19 đã và đang bùng phát mạnh, thành đại dịch toàn cầu với nhiều người mắc và tử vong ở nhiều quốc gia. Vì vậy mọi người cần biết các triệu chứng nhẹ và trung bình của bệnh để chẩn đoán phát hiện sớm, nhằm xử trí, 5 can thiệp kịp thời, tránh nguy cơ bị biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến sức khỏe, kể cả tính mạng.
Các triệu chứng và thể bệnh của COVID-19 COVID-19 là bệnh do Coronavirus chủng mới SARS-CoV-2 gây ra. Chúng có thể tạo nên một loạt các triệu chứng như sốt, ho, mất khứu giác và vị giác. Thực tế, có một số người bị bệnh nhẹ với ít triệu chứng trong khi đó một số người khác mắc bệnh nặng hơn. Các triệu chứng điển hình là sốt, ho và mệt mỏi.
Một số triệu chứng khác có thể bao gồm: hụt hơi, mất mùi hoặc vị, đau nhức cơ thể, đau đầu, đau họng, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi. Các triệu chứng tiêu hóa như buồn nôn, nôn mửa hoặc tiêu chảy. Bệnh nhẹ khi có bất kỳ một triệu chứng nào đó của COVID-19, ngoại trừ triệu chứng thở gấp và khó thở. Bệnh trung bình khi có triệu chứng bệnh ở đường hô hấp dưới như viêm phổi, nhưng nồng độ oxy trong máu vẫn ở mức 94% hoặc cao hơn.
Bệnh nặng khi có biểu hiện nhịp thở cao, có dấu hiệu bệnh phổi nặng, nồng độ oxy trong máu thấp hơn 94% [5]. Nhiễm trùng không triệu chứng Trên thực tế, có một số người bị nhiễm Coronavirus chủng mới của COVID- 19, nhưng không có biểu hiện bất kỳ một triệu chứng nào. Trường hợp này được gọi là bệnh nhiễm trùng không triệu chứng. Những người mắc COVID-19 không có triệu chứng thì không phải lúc nào cũng được kiểm tra, nên không biết thực trạng người bệnh nhiễm trùng không triệu chứng chiếm tỷ lệ là bao nhiêu trong cộng đồng.Nhiều người không có triệu chứng bệnh nên không biết rằng mình đã bị nhiễm vi rút, tuy vậy họ vẫn có khả năng lây nhiễm vi rút sang cho người khác.
Đó là lý do tại sao phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa như mang khẩu trang khi tiếp xúc với những người ở bên ngoài gia đình của mình, rửa tay thường xuyên, giãn cách mức độ cần thiết, thường xuyên làm sạch và khử trùng các bề mặt tiếp xúc ở trong nhà. Thư viện ĐH Thăng Long 6 Triệu chứng mất khứu giác và vị giác Triệu chứng mất khứu giác và vị giác thường xảy ra ở phụ nữ và trẻ em nhiều hơn ở những người lớn. Triệu chứng này có thể xảy ra mà không bị sổ mũi, nghẹt mũi [5]. Mắc bệnh nhưng không sốt Sốt là một trong những triệu chứng phổ biến khi mắc COVID-19.
Nhưng cũng có các trường hợp bị mắc bệnh nhưng khộng bị sốt. Các nhà khoa học lưu ý những người lớn tuổi có nhiệt độ cơ thể bình thường thấp hơn so với những người trẻ tuổi, do đó nhiệt độ sốt cũng có thể thấp hơn. Điều này là làm cho việc xác định triệu chứng sốt ở nhóm tuổi này cũng gặp khó khăn. Một người bệnh đã nói với bác sĩ là chưa bao giờ bị sốt và ho.
Triệu chứng bệnh chỉ bắt đầu với dấu hiệu đau vòm miệng, chảy nước mũi sau và hắt hơi kéo dài một ngày. Sau đó khứu giác suy giảm nhanh chóng, thậm chí không thể ngủi thấy mùi hôi thối của chất cặn bã thải ra [5]. Mắc bệnh nhưng không ho Giống như triệu chứng sốt, ho cũng là một triệu chứng thường gặp khi mắc COVID-19. Các nhà khoa học ghi nhận phần lớn những người mắc bệnh có triệu chứng ho khan khá phổ biến, triệu chứng ho ướt hay ho có đàm cũng có thể xảy ra.
Tuy vậy cũng có trường hợp không bị ho [5]. Tiến triển bệnh lý của COVID-19 Khi mắc COVID-19, các triệu chứng bệnh có thể tiến triển với khả năng chuyển từ thể bệnh nhẹ hoặc thể bệnh trung bình sang thể bệnh nặng. Tình trạng này thường xảy ra khoảng một tuần sau khi các triệu chứng lâm sàng xuất hiện lần đầu tiên và có thể sớm hơn hay muộn hơn. Các nhà khoa học đã phân tích sự tiến triển của những người mắc COVID-19 ghi nhận khung thời gian từ khi bắt đầu có triệu chứng thông thường đến khi có triệu chứng khó thở khoảng 5 đến 8 ngày.
Ở những người bị bệnh nặng, thời gian từ khi bắt đầu xuất hiện các triệu 7 chứng cho đến khi nhập viện để được điều trị tại phòng chăm sóc đặc biệt ICU (Intensive Care Unit ) khoảng 9,5 đến 12 ngày. Thời gian phục hồi sau khi bị mắc COVID-19 thể nặng và nghiêm trọng là bao lâu, hiện chưa được xác định rõ, vì thời gian này có thể khác nhau ở từng người. Kết quả phục hổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tuổi tác và sự hiện diện của các vấn đề về sức khỏe tiềm ẩn khác. Đối với trường hợp mắc COVID- 19 thể nhẹ hoặc trung bình kéo dài bao lâu cũng tương tự, vì phần lớn các nghiên cứu về bệnh chỉ tập trung vào những bệnh nặng, do đó ít có thông tin về thời gian tiến triển chính xác ở các bệnh thể bênh này [5].
Trường hợp dai dẳng kéo dài Trên thực tế, một số người mắc COVID-19 bất kể ở mức độ bệnh nặng và nghiêm trọng hay không vẫn có thể gặp các triệu chứng dai dẳng kéo dài trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau khi các triệu chứng cấp tính qua đi. Các dấu hiệu biểu hiện được ghi nhận trong những trường hợp này là mệt mỏi, hụt hơi, đau khớp xương, đau ngực hoặc đánh trống ngực, bị nhầm lẫn hoặc có dấu chứng sương mù não. Hiện nay rất ít thông tin về những nguyên nhân hay lý do giải thích tạo sao các triệu chứng của COVID-19 kéo dài dai dẳng xuất hiện ở một số bệnh nhân. Vấn đề này đang được các nhà khoa học nghiên cứu để tìm ra lý giải [5].
Dịch tễ bệnh Trên thế giới Vào tháng 12 năm 2019, một số bệnh nhân tại tỉnh Vũ Hán, Trung Quốc, đã bị viêm phổi và suy hô hấp gợi nhớ đến đại dịch SARS năm 2003 (WMHC 2019, www. Đầu tháng 1 năm 2020, một loại virus mới đã được phát hiện từ các mẫu dịch phế quản, virus corona nhóm beta (Zhou 2020). Từ đó đến ngày 7 tháng 6, chủng virus này – sau đó được đặt tên là SARS-CoV- 2, đã lây lan khắp toàn cầu. Hàng triệu người đã được chẩn đoán nhiễm virus và hàng trăm ngàn người đã chết vì COVID-19 , căn bệnh gây ra bởi SARS-CoV-2.
Thư viện ĐH Thăng Long 8 Theo trang thống kê worldometers.info, đến tối 3-1 (giờ Việt Nam), số ca mắc COVID-19 trên toàn thế giới đã vượt con số 85 triệu người, trong đó có 1.047 người chết. Hơn 60 triệu người bệnh đã phục hồi. Mỹ, Ấn Độ và Bra- xin tiếp tục đứng đầu danh sách các nước chịu ảnh hưởng nặng nhất. Cũng theo trang thống kê worldometers.info, tính đến 22h00 ngày 10/8, thế giới đã ghi nhận 204.366 ca nhiễm virus SARS-CoV-2, trong đó có 4.777 ca tử vong [9].
Mỹ vẫn là nước bị ảnh hưởng nhất thế giới với 36.842 ca nhiễm và 633.799 ca tử vong. Số ca mắc và nhập viện do COVID-19 tại Mỹ hiện đang tăng ở mức cao trong 6 tháng qua do sự lây lan nhanh của biến thể Delta tại những vùng có tỉ lệ tiêm chủng thấp. Trên toàn nước Mỹ, số ca mắc ở mức trung bình 100.000 ca trong 3 ngày liên tiếp, tăng 35% trong tuần qua. Các bang Louisiana, Florida và Arkansas ghi nhận số ca mắc mới nhiều nhất.
Trong khi đó, tỉ lệ nhập viện tăng 40% và tỉ lệ tử vong tăng 18%, trong đó bang Ankarsas có số ca tử vong cao nhất. Trong khi đó, trên phạm vi toàn nước Mỹ, số trẻ nhập viện do COVID-19 đang gia tăng, một xu hướng mà các chuyến gia y tế cho là biến thể Delta có khả năng lây nhiễm cao ở trẻ em sơ với biến thể Alpha. Ấn Độ có số ca nhiễm cao thứ hai thế giới, với 31.