ĐẶT VẤN ĐỀ Truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) có vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân và đã được Tổ chức y tế Thế giới xếp là nội dung số một trong các nội dung về Chăm sóc sức khỏe ban đầu (1). Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước rất quan tâm đến hoạt động TTGDSK. Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị đã khẳng định công tác thông tin, TTGDSK là một trong những nhiệm vụ và là giải pháp chủ yếu để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình hiện nay. TTGDSK góp phần tích cực trong tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về y tế, trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết để mỗi người mỗi nhà có thể chủ động phòng chống bệnh tật, nâng cao sức khỏe cho mình và cho cả cộng đồng (2).
Ở nước ta, hệ thống TTGDSK đã được thành lập từ tuyến trung ương đến tuyến cơ sở. Phòng TTGDSK của Trung tâm y tế (TTYT) quận, huyện được thành lập theo Nghị định số 172/2004/NĐ-CP và được quy định về chức năng nhiệm vụ theo Quyết định số 26/2005/QĐ-BYT nhằm tăng cường năng lực, nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở (3), (4). Phòng TTGDSK của Trung tâm y tế quận huyện có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hoạt động TTGDSK của TTYT quận huyện và chỉ đạo công tác TTGDSK cho tuyến trạm y tế phường. Phòng TTGDSK cũng chịu trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn cho mạng lưới TTGDSK tuyến dưới.
Đặc biệt là trong bối cảnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp như hiện nay thì hoạt động TTGDSK càng có vai trò vô cùng quan trọng. TTYT quận Thủ Đức là đơn vị y tế tuyến quận/huyện, thực hiện các chức năng dự phòng, trong đó TTGDSK là một phần quan trọng trong chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm. Mục tiêu, kế hoạch hoạt động TTGDSK của TTYT Thủ Đức giai đoạn 2021- 2025 là: 100% bệnh nhân và thân nhân người bệnh được truyền thông về phòng chống dịch bệnh cũng như các lĩnh vực chuyên khoa khác của đơn vị; 100% bệnh nhân và thân nhân người bệnh được truyền thông các Luật của Chính phủ liên quan đến lĩnh vực Y tế; và nâng cao điểm đánh giá về các tiêu chi của cấp trên. 2 Tuy nhiên hiện nay, TTYT quận Thủ Đức chưa có nghiên cứu nào liên quan đến thực trạng hoạt động cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TTGDSK của đơn vị và trên địa bàn.
Do đó, công tác TTGDSK tại TTYT quận Thủ Đức chưa đánh giá được thực trạng, những khó khăn và thuận lợi trong việc triển khai kế hoạch. Nhất là trong lúc dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến phức tạp thì công tác TTGDSK ở TTYT quận Thủ Đức gặp phải rất nhiều khó khăn. Một phần do đây là lần đầu tiên một đợt dịch bùng phát dữ dội, kéo dài qua nhiều năm, lây lan tới nhiều khu vực trong cả nước và trên thế giới. Thứ hai, TTYT quận Thủ Đức tuy đã có những sự quan tâm đặc biệt tới ngành truyền thông cho nên chưa tổng hợp được những khó khăn thuận lợi của hoạt động TTGDSK.
Chính vì vậy, có những khó khăn nhất định trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân. Cũng chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Hoạt động Truyền thông giáo dục sức khỏe của Trung tâm y tế quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2018-2020 và một số yếu tố ảnh hưởng” nhằm cung cấp những thông tin khách quan và cập nhật về thực trạng triển khai hoạt động TTGDSK của Trung tâm y tế quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh; qua đó đề xuất những khuyến nghị giúp hoạt động TTGDSK thực hiện hiệu quả tốt hơn. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của Trung tâm y tế quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2018-2020.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của Trung tâm y tế quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về truyền thông giáo dục sức khỏe 1. Khái niệm truyền thông Truyền thông là một quá trình trao đổi chia sẻ thông tin, hiểu biết, kinh nghiệm, tình cảm.
Một quá trình truyền thông cần hội tụ đầy đủ các yếu tố cơ bản như: người gửi, người nhận, kênh truyền thông, thông điệp và sự phản hồi. (1) Truyền thông có hai hình thức đó là truyền thông trực tiếp được thực hiện giữa người với ngưới đối diện nhau và truyền thông gián tiếp được thực hiện qua các phương tiện truyền thông như: loa truyền thanh, tranh ảnh, băng rôn, áp phích, v. Mục đích của truyền thông là hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng giá trị cho công chúng (7). Truyền thông chính là yếu tố rất quan trọng trong những chiến lược xây dựng và phát triển sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Đây chính là phương tiện để truyền đạt thông tin, làm thay đổi nhận thức và hành vi. Nếu vận dụng truyền thông trong quá trình hoạt động để truyền bá hay lan truyền thông tin sẽ mang lại những giá trị tuyệt đối cho các hoạt động CSSK của cơ sở mình. Nếu như không biết cách khai thác và tận dụng truyền thông thì sẽ rất lạc hậu và bị bỏ lại phía sau. Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin 4.0 như hiện nay, sức lan tỏa ngày càng phát triển trên các trang mạng xã hội với tốc độ nhanh chóng thì truyền thông chính là công cụ định hướng hành vi của mọi người (10).
Khái niệm sức khỏe Trong đời sống hiện nay, lĩnh vực liên quan đến tất cả mọi người, đó là sức khỏe. Có sức khỏe thì mới có điều kiện để duy trì sự tồn tại và phát triển của từng con người trong toàn xã hội Theo Tổ chức Y tế thế giới: "Sức khỏe là một trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần xã hội chứ không chỉ là không có bệnh hay thương tật". Như vậy, sức khỏe là trạng thái phát triển hài hòa của mỗi con người cả về thể lực, trí tuệ và khả năng 5 hòa nhập cộng đồng, chứ không chỉ là tình trạng không mắc bệnh tật, ốm đau hoặc không bị tàn phế (5), (6). Sức khỏe có vai trò rất quan trọng, sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội.
Điều này được thể hiện trong nhiều văn bản được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 30/06/1989 ghi rõ: “Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, là một trong những điều kiện cơ bản để con người sống hạnh phúc, là mục tiêu là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ Tổ quốc” (7). Khái niệm truyền thông giáo dục sức khỏe Truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) là quá trình tác động thông tin có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng. TTGDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được tiếp nhận hiểu rõ hơn về các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực, giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe. Từ đó cho thấy TTGDSK là một quá trình nên cần tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài bằng nhiều biện pháp khác nhau.
Vì vậy, để thực hiện công tác TTGDSK cần có sự đầu tư thích đáng, kiên trì thì mới đem lại hiệu quả. TTGDSK không chỉ là cung cấp các thông tin chính xác, đầy đủ về sức khỏe, bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe con người. Người làm công tác TTGDSK không chỉ cung cấp cho công chúng của mình thông tin mà còn thu nhận thông tin phản hồi để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những thông tin thiếu sót làm cho các chương trình thông tin tư vấn sức khỏe thêm sinh động và thu hút sự quan tâm của cộng đồng. Bên cạnh đó, TTGDSK sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giúp cho mọi người hiểu được hoàn cảnh riêng của họ và chọn các hành động tăng cường sức khỏe thích hợp (7).
Hoạt động TTGDSK chia thành 2 nhóm: 6 - Truyền thông trực tiếp: tư vấn, thăm hộ gia đình, truyền thông nhóm, TTGDSK học đường. - Truyền thông gián tiếp: qua các phương tiện truyền thông đại chúng như loa, đài, pano, áp phích, băng rôn, tờ rơi, v. Ưu điểm, nhược điểm của các hình thức TTGDSK 1. Truyền thông trực tiếp: Ưu điểm: Người phát tin tiếp xúc trực tiếp với người nhận tin nên cảm nhận được thái độ của người nhận từ đó điều chỉnh những ứng xử của mình cho phù hợp.
Có điều kiện thu nhận phản hồi nên có thể điều chỉnh thông điệp giúp người nhận tiếp nhận đúng thông tin muốn truyền đạt. Hạn chế: Không đưa được thông tin đến nhiều người trên diện rộng. Khó tạo được dư luận và tác động dây chuyền làm chuyển đổi thái độ của nhiều người. Truyền thông gián tiếp: Ưu điểm: Đưa thông tin đến được nhiều người trên diện rộng.
Tạo được dư luận và tác động dây chuyền làm chuyển đổi thái độ của người dân góp phần giúp thay đổi hành vi. Hạn chế: Người phát tin không tiếp xúc trực tiếp với người nhận tin nên không cảm nhận được thái độ của người nhận tin, không thể điều chỉnh các ứng xử của mình cho phù hợp, nhận thông tin phản hồi chậm khó nắm bắt được thông tin phản hồi. Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe TTGDSK giúp trang bị cho người dân các thông tin về sự việc, quan điểm và thái độ họ cần có để đưa ra quyết định về các hành vi sức khỏe. Những thông điệp về sức khỏe là những điều quan trọng cần được cân nhắc cho mọi người trong cộng đồng biết và làm.
Nếu đối tượng nghe hiểu thông điệp tin tưởng và thay đổi hành vi có lợi cho sức khỏe thì đó là quá trình TTGDSK đạt hiệu quả tốt và ngược lại (5), (6). Hoạt động TTGDSK là phương pháp dự phòng có chi phí thấp nhưng hiệu quả cao và bền vững, giảm được gánh nặng cho hệ điều trị nói riêng và kinh tế quốc gia nói chung.