ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh tay chân miệng (TCM) là một bệnh truyền nhiễm có thể gây thành dịch do vi rút, lây truyền theo đƣờng tiêu hóa và thƣờng gặp ở trẻ nhỏ. Dấu hiệu đặc trƣng của bệnh là sốt, đau họng, tổn thƣơng niêm mạc miệng và da chủ yếu dƣới dạng phỏng nƣớc thƣờng thấy ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông. Tuy bệnh nhiên cũng có thể biến chứng với nhiễm trùng thần kinh trung ƣơng nhƣ viêm não, viêm màng não, bại liệt, ngoài ra còn có viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong. Các trƣờng hợp biến chứng nặng thƣờng do Enterovirus 71 (EV71) [2], [3].
Trƣớc đây, các vụ dịch xảy ra do tay chân miệng thƣờng do Coxsackievirus A16. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây xuất hiện nhiều vụ dịch bệnh tay chân miệng trong một phạm vi rộng lớn ở nhiều nơi và quốc gia trên thế giới, mà đặc biệt là khu vục Châu Á, trong đó nguyên nhân đƣợc xác định do Enterovirus 71. Điều này làm gia tăng mối lo ngại ở nhiều quốc gia. Cho đến nay , bệnh tay chân miệng chƣa có vắc xin phòng bệnh cũng nhƣ thuốc điều trị đặc hiệu [17], [61].
Phƣơng châm phòng chố ng dich ̣ bê ̣nh trên thế giới tâ ̣p trung chủ yế u vào công tá c can thiê ̣p Y tế công cô ̣ng (YTCC). Năm 2010, Tổ chƣ́c Y tế Thế giới (WHO) đã ban hành hƣớng dẫn về quản lý lâm sàng và đáp ƣ́ng YTCC về phòng chố ng bê ̣nh TCM. Mô ̣t trong các phƣơng pháp phòng chố ng bê ̣nh TCM đƣơ ̣c WHO khuyế n cáo là tiến hành các chiến dịch truyền thông về vệ sinh tốt và vệ sinh cơ bản cho ngƣời dân [65]. Tại Việt Nam, bệnh tay chân miệng xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2003.
Ƣớc tính tổng số ca mắc bệnh tay chân miệng (TCM) tích lũy từ năm 2003 – 2010 là 125.000 trƣờng hợp.046 trƣờng hợp mắc bệnh tay chân miệng ở khắp 63 tỉnh thành trên cả nƣớc, trong đó có 08 trƣờng hợp tử vong [18]. Hiện nay, tình hình bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp trên phạm vị cả nƣớc. Tại các tỉnh phía Nam bệnh có xu hƣớng gia tăng cao vào thời điểm tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 [15], [16]. Tại tỉnh Hậu Giang tính đầu năm 2014 đến ngày 24/12/2014 đã có 955 trƣờng hợp mắc bệnh, chỉ riêng ở huyện Vị Thủy có 244 trƣờng hợp mắc bệnh tay chân miệng cao thƣ́ 2 so với 07 đơn vi ̣huyê ̣n , thị xã, thành phố của toàn tỉnh và chủ yếu các trƣờng hợp 2 mắc bệnh nằm ở độ tuổi dƣới 5 tuổi [52].
Bệnh TCM đƣợc ghi nhận chủ yếu ở trẻ em dƣới 5 tuổi, đặc biệt trẻ dƣới 3 tuổi; bệnh lây truyền qua đƣờng tiêu hóa, sự lây lan của bệnh liên quan đến các thói quen hành vi không hợp vệ sinh của ngƣời chăm sóc trẻ, điều kiện vệ sinh môi trƣờng không đảm bảo vệ sinh [20]. Trong năm 2011 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang bùng phát bệnh TCM với số ca là 1.830 ca, riêng huyện Vị Thủy đã có 546 ca. Địa phƣơng đã khai tốt các hoạt động tuyên truyền phòng bệnh TCM nhƣ tập huấn kiến thức, thực hành về phòng bệnh TCM cho giáo viên các điểm trƣờng mầm non, mẫu giáo, tiểu học trên địa bàn huyện. Công tác phòng chống bệnh TCM trong nhà trƣờng đƣợc thực hiện khá tốt qua các năm.
Riêng đối tƣợng bà mẹ có con dƣới 5 tuổi tại cộng đồng chƣa đƣợc tham dự tập huấn phòng bệnh TCM. Số ca TCM tại huyện Vị Thủy xảy ra trong các năm tập trung nhiều tại hai xã Vị Đông và Vĩnh Trung. Đây là hai xã nằm giáp ranh nhau, có các điều kiện tƣơng đồng về dân số, kinh tế, văn hóa xã hội. Đến nay chƣa có nhiều nghiên cứu nào về kiến thức, thái độ và thực hành phòng bệnh của ngƣời dân trên điạ bàn tỉnh Hâ ̣u giang cũng nhƣ tại huyện Vị Thủy, đặc biệt là ở những bà mẹ và ngƣời chăm sóc chính cho trẻ dƣới 5 tuổi (là nhóm tuổi mắc và tử vong do TCM nhiều nhất).
Để góp phần vào công tác phòng, chống bệnh tay chân miệng hiệu quả hơn chúng tôi tiế n hành nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành về phòng bệnh tay chân miệng cho trẻ dưới 5 tuổi của bà mẹ và một số yếu tố liên quan tại 2 xã, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang năm 2015”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CƢ́U 1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh tay chân miệng cho trẻ dƣới 5 tuổi của các bà m ẹ tại Xã Vị Đông và xã Vĩnh Trung , huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ , thực hành phòng bệnh tay chân miệng cho trẻ dƣới 5 tuổi của các bà mẹ tại Xã Vị Đông và xã Vĩnh Trung , huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang năm 2015.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh tay chân miệng 1. Tác nhân gây bệnh tay chân miệng Bệnh tay chân miệng (TCM) do nhóm vi rút đƣờng ruột (enterovirus) gây nên. Bệnh tay chân miệng là một bệnh truyền nhiễm thông thƣờng gây ra bởi một nhóm Enterovirus, bao gồm Coxsackievirus A16 và Enterovirus 71 (EV71).
Bệnh TCM do các chủng Coxsackievirus A16 thƣờng ở thể nhẹ, ít có biến chứng; còn nhiễm EV71 đƣợc quan tâm đặc biệt vì nó có thể gây bệnh nặng (gây các biến chứng thần kinh nặng) ở trẻ em, đôi khi dẫn đến tử vong [2], [3], [25]. Vi rút Coxsackie đƣợc phân lập lần đầu tiên vào năm 1958 bởi Seddom bởi New Zealand và Enterovirus 71 vào năm 1969 tại california, Hoa Kỳ [25]. Nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh TCM là Coxsackievirus A16, tuy nhiên nó cũng có thể gây bệnh bởi những tác nhân khác nhƣ là: Coxsackieviruses A5, A7, A9, A10, B2 và B5 [2], [3]. Bệnh tay chân miệng gây nên bởi những loại tác nhân nêu trên có diễn biến lâm sàng nhẹ, lành tính, hầu hết điều tự khỏi và có thể hồi phục trong vòng 7 – 10 ngày [5].
Mặc dù vậy bệnh nhân bị nhiễm Coxsackie A16 vẫn có thể bị biễn chứng viêm màng não vô khuẩn nhƣng rất hiếm gặp. Khi đó bệnh nhân có biểu hiện sốt, đau đầu, cổ cứng, đau lƣng, cần phải nhập viện vài ngày [25]. Enterovirus 71 là nguyên nhân phổ biến đứng hàng thứ 2 gây bệnh TCM trên ngƣời. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, tác nhân gây bệnh tay chân miệng là Enterovirus 71 có liên quan đến các biến chứng về thần kinh nhƣ: viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng não, bại liệt kiểu polio.
Các biến chứng tim mạch và hô hấp nhƣ: viêm cơ tim, phù não cấp do thần kinh, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch, hầ u hế t nhƣ̃ng b ệnh nhân chuyển sang diễn biến nặng và rất dễ dẫn đến tử vong [13], [16]. Tại Việt Nam, Coxsackievirus A16 và Enterovirus 71 là 2 tác nhân chủ yếu [3]. Các chủng EV71 lƣu hành ở khu vực phía Nam năm 2005 thuộc các nhóm và các phân nhóm C1, C4 và C5. Phân nhóm C5 đƣợc ghi nhận lần đầu tiên ở miền Nam Việt Nam và cũng 5 lần đầu tiên trên thế giới từ năm 2003 đến nay.
Không có sự khác biệt về mức độ nặng nhẹ trên lâm sàng giữa các nhóm của EV71 [23]. Tóm lại, bệnh TCM do nhóm vi rút đƣờng ruột (Enterovirus) gây nên, Coxsaskievirus A16 và EV71 là 2 tác nhân gây bệnh chủ yếu. Các nhóm Enterovirus có nhiều chủng với cấu tạo khác nhau. Trong đó, chủng EV71 là thủ phạm nguy hiểm gây ra những biến chứng thần kinh, biến chứng tim mạch, hệ hô hấp và có thể dẫn đến tử vong nếu không đƣợc điều trị kịp thời.
Phương thức lây truyền bệnh tay chân miệng Bê ̣nh lây chủ yế u theo đƣờng tiêu hóa , nguồ n lây chin ́ h tƣ̀ nƣớc bo ̣t , phỏng nƣớc , phân của trẻ bi ̣bê ̣nh. Do đó n gƣời bệnh hay ngƣời lành không triệu chứng là những ổ chứa tác nhân gây bệnh [2], [3]. Vi rút có mặt sớm nhất ở dịch tiết trong họng khoảng từ 5 - 7 ngày kể từ khi xâm nhập vào cơ thể. Vi rút có trong dịch tiết của các bóng n ƣớc từ 1 - 2 tuần và có thể tồn tại trong phân tƣơi hơn một tháng sau khi xâm nhập vào cơ thể [2].
Bệnh TCM có thể lây từ ngƣời sang ngƣời thông qua tiếp xúc trực tiếp với các chất tiết từ mũi, họng, nƣớc bọt, mụn nƣớc hoặc phân của ngƣời bị nhiễm. Bệnh TCM không lây truyền qua vật nuôi, động vật khác và ngƣợc lại. Chƣa có bằng chứng bệnh TCM lây nhiễm qua nƣớc và thực phẩm [21]. Đặc điểm bệnh tay chân miệng theo tuổi – giới: Mọi ngƣời có nguy cơ bị nhiễm vi rút gây bệnh TCM nhƣng không phải ai bị nhiễm cũng có biểu hiện bệnh [2].
Trẻ em dƣới 10 tuổi thƣờng có nguy cơ mắc bệnh TCM cao hơn nhóm tuổi khác, đặc biệt nhóm tuổi có nguy cơ mắc cao nhất là trẻ dƣới 5 tuổi và trẻ sơ sinh [32]. Trẻ em, trẻ nhỏ và thiếu niên thì dễ bị mắc bệnh hơn vì chúng có miễn dịch từ những lần phơi nhiễm trƣớc đó thấp hơn so với ngƣời lớn. Bệnh TCM cũng có khi gặp ở trẻ lớn hơn. Ở Đài Loan, 1998 cũng xảy ra dịch bệnh TCM do EV71.
Từ tháng 3 năm 1998 đến tháng 12/2005 có tổng cộng 1.548 trƣờng hợp mắc bệnh TCM và hầu hết (92%) trẻ em mắc bệnh là trẻ nhỏ dƣới 4 tuổi [14]. Năm 2000 ở Singapore có hầu hết bệnh nhân mắc bệnh TCM là trẻ em dƣới 4 tuổi [13]. Cho thấy trong tổng số 175 bệnh nhân TCM có 138 bệnh nhân (78,8%) là trẻ dƣới 4 tuổi; 12 bệnh nhân (6,9%) là trẻ trên 10 tuổi. Bệnh nhân nhiều tuổi nhất là 71 tuổi [5].
6 Cũng ở Singapore từ năm 2001 đến 2007, nhóm tuổi dƣới 4 tuổi có tỉ lệ mắc bệnh TCM cao nhất [12]. Kế t quả nghiên cứu đặc điểm bệnh tay chân miệng tại Bệnh viện Nhi Đồng I năm (2009) cho thấy: 538 trẻ em bệnh TCM nhập viện, có đến 91% các trẻ này chƣa đến 36 tháng tuổi. Số trẻ có triệu chứng thần kinh là 448 (83,3%). Trong số trẻ có biến chứng thần kinh, 189 trẻ (35,1%) có biến chứng nặng (viêm màng não, viêm não thân não, viêm não tủy và liệt mềm cấp).
90 trẻ bị biến chứng hô hấp tuần hoàn (16,7%), trong đó 22 trẻ (4,1%) phù phổi và sốc [38].