Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm [15] Viêm phổi là bệnh nhiễm trùng ở phổi (bao gồm phế nang, tổ chức liên kết, tiểu phế quản tận) làm rối loạn trao đổi khí, tắc nghẽn đường thở dễ gây suy hô hấp và tử vong. Tác nhân gây bệnh [2][4][5] – Do virus: các virus thường gặp là virus hợp bào hô hấp (RSV), virus cúm, á cúm, Adenovirus. Giao mùa là thời điểm virus gây bệnh hô hấp phát triển mạnh.
– Do vi khuẩn: ở các nước đang phát triển nguyên nhân do vi khuẩn còn phổ biến. Các loại vi khuẩn thường gặp là phế cầu, hemophilus, influenza, sau đó là các loại vi khuẩn khác như: tụ cầu, liên cầu, Ecoli, klebsiella pneumonia … – Do nấm: thường gặp là nấm Candida albicans gây tưa miệng có thể gây viêm phổi do nấm. - Do ký sinh trùng: Amip, giun đũa, sán lá phổi, … - Do hóa chất: Xăng, dầu, acid, dịch dạ dày, … - Do các nguyên nhân khác: bức xạ, tắc phế quản do u phế quản phổi, do ứ đọng, … 1. Yếu tố nguy cơ [5] - Trẻ thiếu cân ( dưới 2500g): kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chết do viêm phổi ở trẻ dưới 1 tuổi nếu khi sinh nặng dưới 2500g là 26,4‰ trẻ sống, trong khi nếu khi sinh nặng trên 2500g chỉ là 6,8‰ - Suy dinh dưỡng cũng là yếu tố dễ mắc bệnh hơn trẻ bình thường và khi trẻ bị bệnh thời gian điều trị kéo dài, tiên lượng xấu hơn.
- Không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ: nguy cơ tử vong do viêm phổi ở trẻ không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ cao hơn trẻ được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ. Một nghiên cứu ở Brazin (1985) cho thấy: Nếu nguy cơ tương đối (RR) của tử vong do viêm phổi ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ bằng 1, thì ở trẻ được nuôi bằng sữa mẹ + sữa bò là 1,2 và chỉ nuôi bằng sữa bò là 3,3. download by : skknchat@gmail.dinh 4 - Ô nhiễm nội thất, khói bụi trong nhà sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động bảo vệ niêm mạc hô hấp, các lông rung, quá trình tiết chất nhầy cũng như hoạt động của các đại thực bào, sự sản sinh các globulin miễn dịch, do đó trẻ dễ bị bệnh. - Thuốc lá cũng là nguồn gốc gây ô nhiễm không khí rất nguy hiểm cho trẻ nhỏ.
Theo dõi hơn 1500 trẻ em ở Luân – đôn, Leeder (1976) cho biết số mắc viêm phổi hằng năm ở trẻ em nếu bố mẹ không hút thuốc lá là 6,2%, nếu có một người hút tỷ lệ tặng lên 9,7%, nếu cả hai cùng hút tăng lên đến 15,4%. - Thời tiết lạnh, thay đổi là điều kiện thuận lợi gây bệnh ở trẻ em, đặc biệt là thời điểm chuyển mùa. Ở Việt Nam, qua nghiên cứu ở Viện Lao và Bệnh phổi (1984) cho thấy trẻ thường dễ mắc bệnh không phải vào những lúc trời lạnh nhất (tháng 12, 1, 2) mà vào hai thời điểm tháng 4, 5 và tháng 9, 10, khi chuyển mùa thời tiết. - Ngoài các yếu tố trên, nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp, thiếu vitamin A cũng là những điều kiện làm trẻ dễ mắc bệnh.
Thiếu vitamin A làm giảm đáp ứng miễn dịch của cơ thể và giảm khả năng biệt hoá của các tổ chức biểu mô dễ gây sừng hoá niêm mạc, đặc biệt là niêm mạc đường hô hấp và đường tiêu hoá, do đó trẻ dễ bị bệnh. Phân loại theo lâm sàng - Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng: là viêm phổi xuất hiện bên ngoài Bệnh viện, bao gồm: + Viêm phổi điển hình (viêm phổi kinh điển): viêm phổi do vi khuẩn (ví dụ: viêm phổi do Streptococcus pneumoniae, Hemophylus influenzae. + Viêm phổi không điển hình (viêm phổi do vi khuẩn không điển hình, ví dụ: viêm phổi do Mycoplasma, Legionella, Chlamydia pneumoniae hoặc viêm phổi do virus). - Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện: là viêm phổi xuất hiện sau khi nhập viện 48 giờ hoặc muộn hơn, bao gồm cả viêm phổi xuất hiện ở nhà ăn dưỡng, điều dưỡng, trại tâm thần, trại phục hồi chức năng.
- Viêm phổi ở người suy giảm miễn dịch: + Viêm phổi ở bệnh nhân thiếu hụt globulin miễn dịch và bổ thể. + Viêm phổi ở bệnh nhân thiếu hụt bạch cầu hạt. download by : skknchat@gmail.dinh 5 + Viêm phổi ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch tế bào: ở người mắc bệnh ác tính, ở người ghép tạng, ở bệnh nhân AIDS. + Viêm phổi ở những bệnh nhân có bệnh lý suy giảm miễn dịch khác.
Phân loại theo diễn biến - Viêm phổi cấp tính. - Viêm phổi bán cấp tính. - Viêm phổi mạn tính. Phân loại theo hình ảnh Xquang lồng ngực - Viêm phổi thuỳ.
- Viêm phế quản - phổi (phế quản -phế viêm). - Viêm phổi kẽ. Phân loại theo căn nguyên vi sinh - Viêm phổi do vi khuẩn. - Viêm phổi do vi khuẩn không điển hình.
- Viêm phổi do virus. Hậu quả [4] Viêm phổi không thực sự nguy hiểm nếu như người bệnh được thăm khám và điều trị kịp thời. Tuy nhiên nếu như tình trạng bệnh kéo dài thì sẽ gây ra rất nhiều bệnh lý đặc biệt nghiêm trọng, thậm chí ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của người bệnh. Một số biến chứng nguy hiểm của bệnh viêm phổi như: • Nhiễm trùng huyết • Áp xe phổi • Suy hô hấp cấp • Tràn dịch màng phổi • Nhiễm trùng màng phổi • Ung thư phổi 1.
Dấu hiệu nhận biết [4][5] Cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay, khi trẻ ho, sổ mũi có kèm theo một trong những dấu hiệu sau đây phải ngay lập tức đưa trẻ đến bệnh viện: – Có rút lõm lồng ngực (phần giữa bụng và ngực lõm vào khi trẻ hít vào). – Nhịp thở nhanh: download by : skknchat@gmail.dinh 6 ≥ 60 lần/phút với trẻ dưới 2 tháng ≥ 50 lần/phút với trẻ từ 2 – 12 tháng ≥ 40 lần/phút với trẻ 12 tháng – 5 tuổi – Thở mệt, cánh mũi phập phồng, tím tái. – Thở khò khè hay thở rít khi nằm yên. – Không uống được, co giật hoặc li bì khó đánh thức.
Cách xử trí [4] Việc lựa chọn thuốc điều trị cho trẻ bị viêm phổi còn tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh và do bác sĩ quyết định. Cha mẹ tuyệt đối không tự ý mua thuốc kháng sinh, thuốc giảm ho điều trị cho con tại nhà. Thuốc kháng sinh sẽ không có tác dụng trong trường hợp trẻ bị viêm phổi do virus. Ho là phản xạ tốt để tống xuất chất đờm ra khỏi đường thở, làm thông thoáng đường thở nên không cho trẻ uống thuốc giảm ho khi chưa có chỉ định của bác sĩ.
Một số cách chăm sóc hiệu quả mà cha mẹ có thể làm giúp trẻ nhanh khỏi bệnh như sau: 1. Hạ sốt cho trẻ – Chườm ấm tích cực (nhiệt độ nước chườm được xác định bằng cách nhúng cùi chỏ của người lớn vào chậu nước, nếu thấy ấm là được). – Nếu trẻ sốt ≥ 38,5°C, cho trẻ uống thuốc hạ sốt theo chỉ định của bác sĩ, thông thường có thể sử dụng Paracetamol loại bột, viên đút hậu môn, viên nén hàm lượng 80 - 150 - 250mg (tính theo cân nặng 10 - 15mg/kg). Vỗ lưng và giúp trẻ bài tiết đờm hiệu quả – Phương pháp vỗ lưng cho trẻ khi bị ho có đờm sẽ giúp lưu thông tuần hoàn máu của phổi, giúp đờm trong phế quản long ra và thải ra ngoài dễ dàng.
Thực hiện vỗ lưng tốt nhất là trước bữa ăn hoặc sớm nhất là 1 giờ sau khi ăn để tránh gây nôn, bằng cách gập bàn tay của bạn ở chỗ cổ tay rồi khum bàn tay lại. Giữ cho ngón cái ép vào ngón trỏ. Vỗ bên trái rồi sang bên phải, khoảng 3-5 phút ở mỗi khu vực. Chú ý không vỗ vào vùng dạ dày, xương ức hay xương sống.
download by : skknchat@gmail.dinh 7 Hình ảnh: Tư thế bàn tay đúng khi vỗ lưng – Hướng dẫn trẻ ho: Ho làm thông thoáng đường thở, đẩy chất xuất tiết ra khỏi phổi. Với trẻ lớn, yêu cầu các cháu ho sau khi được vỗ ở từng khu vực. Khi trẻ chưa ngừng ho thì chưa được vỗ tiếp. Thực hiện các bước sau: + Cho trẻ ngồi dậy, đầu ngả nhẹ về phía trước.
+ Mở miệng và thót cơ bụng để ho thật sâu, không ho ở cổ họng. + Hít vào lần nữa + Tiếp tục ho cho tới khi khạc được đờm ra ngoài. + Đối với trẻ nhỏ, điều dưỡng có thể dùng máy hút đờm dãi ra khỏi hầu họng khi trẻ không tự ho khạc ra được. Vệ sinh và chế độ ăn cho trẻ – Vệ sinh: + Vệ sinh mũi miệng: Dùng khăn giấy mềm lau sạch nước mũi, nước dãi rồi vứt bỏ khăn ngay sau khi sử dụng.
Nếu dùng khăn xô thì phải đặc biệt chú ý giữ vệ sinh khăn. Việc dùng đi dùng lại khăn xô đã nhiễm bẩn và không được giặt sạch sẽ tạo điều kiện để vi khuẩn/ virus bám trên khăn quay trở lại cơ thể bé. + Vệ sinh nhà cửa, đồ chơi, đồ dùng của trẻ. Người chăm sóc cần rửa tay sạch sẽ khi chăm sóc và chuẩn bị đồ ăn cho trẻ.
– Chế độ ăn: download by : skknchat@gmail.dinh 8 + Cho trẻ ăn thức ăn giàu dinh dưỡng, mềm, dễ tiêu, dễ nuốt. + Cho trẻ ăn theo nhu cầu, chia nhiều bữa trong ngày và số lượng mỗi bữa ít hơn bình thường, không nên ép trẻ ăn hết phần thức ăn cha mẹ đã chuẩn bị. + Có thể dùng quất hấp mật ong, hoa hồng hấp đường, gừng, chanh cho trẻ uống để giảm. Phòng bệnh [6] Viêm phổi là một trong những bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới phổ biến nhất, ngày nay nhờ vào nhiều loại kháng sinh mới, mạnh nên tỷ lệ biến chứng và tử vong giảm nhiều.
Tuy nhiên vẫn có trường hợp xảy ra thành những vụ dịch nhất là do virus. Để đề phòng bệnh, giảm biến chứng phải nâng cao thể trạng, giữ ấm trong mùa lạnh, loại bỏ những yếu tố làm dễ như môi trường không trong sạch, không hút thuốc lá, phòng ngừa và điều trị sớm, tận gốc các nhiễm trùng ở đường hô hấp trên, các đợt cấp của bệnh phổi mạn tính, điều trị sớm và theo dõi sát giai đoạn sớm của nhiễm trùng đường hô hấp, tránh lây lan. Vệ sinh sạch sẽ, tránh lây lan. Không hút thuốc, đun nấu trong phòng có trẻ nhỏ.
Cách ly trẻ với người bị bệnh để tránh lây lan thành dịch là quan trọng nhất. [6] – Nơi ở đủ ánh sáng, thoáng mát, lưu thông không khí tốt. Nếu sử dụng điều hòa thì nên điều chỉnh sao cho chênh lệch nhiệt độ trong nhà và ngoài trời từ 5 – 7°C để trẻ có thể thích ứng được.