Tổng quan nghiên cứu

Bệnh tiêu chảy cấp vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên phạm vi toàn cầu, với khoảng 2 tỷ lượt mắc và 1,9 triệu ca tử vong mỗi năm, trong đó 78% số ca tử vong tập trung tại khu vực Châu Phi và Đông Nam Á. Tại Việt Nam, trung bình mỗi trẻ trải qua 2,2 đợt tiêu chảy cấp mỗi năm và tỷ lệ tử vong do bệnh lý này ước tính khoảng 6,5 trường hợp trên 1.000 trẻ. Theo các báo cáo sức khỏe cộng đồng, khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp lên đến 11%, đứng đầu cả nước. Riêng tại huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai, số lượt trẻ nhập viện điều trị do tiêu chảy cấp liên tục gia tăng qua các năm, từ 658 ca năm 2018 lên 725 ca năm 2019 và đạt mức 869 ca vào năm 2020.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ thực trạng số ca mắc gia tăng phức tạp tại địa bàn miền núi có hơn 50% đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nơi tồn tại nhiều rào cản về điều kiện vệ sinh môi trường và tập quán chăm sóc. Luận văn hướng tới hai mục tiêu cụ thể: mô tả thực trạng thực hành phòng bệnh tiêu chảy cấp của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Chư Păh năm 2022 và xác định các yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh của đối tượng này. Nghiên cứu được triển khai trong giai đoạn từ tháng 11/2021 đến tháng 9/2022. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp bằng chứng khoa học chuẩn xác để can thiệp cải thiện tỷ lệ thực hành đạt từ mức nền 45,3%, góp phần trực tiếp giảm tỷ lệ mất nước nặng và suy dinh dưỡng thứ phát ở trẻ em vùng cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng mô hình cây vấn đề và khung lý thuyết tiếp cận hành vi sức khỏe của Kongsavath Xaybonapanh, kết hợp với các nguyên tắc chuyên môn trong Hướng dẫn xử trí tiêu chảy trẻ em ban hành kèm theo Quyết định số 4121/QĐ-BYT của Bộ Y tế. Các khái niệm nền tảng bao gồm:

  • Tiêu chảy cấp: Tình trạng đi ngoài phân lỏng hoặc nhiều nước bất thường từ 3 lần trở lên trong vòng 24 giờ, kéo dài không quá 14 ngày, chiếm khoảng 80% tổng số các trường hợp tiêu chảy.
  • Bốn nguyên tắc xử trí tại nhà: Tăng cường bù dịch sớm bằng dung dịch bù nước đường uống hoặc dung dịch thay thế; duy trì chế độ dinh dưỡng liên tục chia làm 6 bữa nhỏ mỗi ngày; bổ sung kẽm từ 10mg đến 20mg mỗi ngày trong 10 đến 14 ngày; phát hiện sớm các dấu hiệu mất nước nặng để chuyển tuyến kịp thời.
  • Vòng xoắn bệnh lý tiêu chảy và suy dinh dưỡng: Tình trạng niêm mạc ruột tổn thương dẫn đến kém hấp thu chất dinh dưỡng, khiến trẻ suy dinh dưỡng có nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy lên đến 65,2% so với mức 25,9% ở nhóm trẻ có thể trạng bình thường.
  • Hành vi vệ sinh phòng bệnh: Thực hành vệ sinh cá nhân, rửa tay xà phòng, sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp chuẩn theo chu trình phòng ngừa lây truyền qua đường phân - miệng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu:

  • Nghiên cứu định lượng: Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với tỷ lệ thực hành chuẩn giả định p = 0,35, dự phòng hao hụt 10%, xác định cỡ mẫu thực tế thu thập được là 267 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp đang điều trị tại khoa Nội - Nhi - Nhiễm thuộc Trung tâm Y tế huyện Chư Păh. Kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện liên tiếp được áp dụng để tiếp cận toàn bộ các đối tượng đủ tiêu chuẩn trong 1 đến 2 ngày đầu nhập viện.
  • Nghiên cứu định tính: Tiến hành chọn mẫu có chủ đích để thực hiện 5 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện ban giám đốc, cán bộ chuyên trách chương trình phòng tiêu chảy, bác sĩ điều trị, điều dưỡng trưởng, cùng 2 cuộc thảo luận nhóm với 12 bà mẹ đại diện cho nhóm thực hành đạt và chưa đạt.
  • Xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu định lượng được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, sau đó phân tích trên phần mềm Stata 14. Phân tích đơn biến được áp dụng để xác định tỷ số chênh OR cùng khoảng tin cậy 95% CI với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05, giúp kiểm định mối liên quan nhân quả giữa các biến số độc lập và thực hành của bà mẹ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa trên 267 bà mẹ cho thấy tỷ lệ thực hành chung đạt yêu cầu về phòng bệnh tiêu chảy cấp cho trẻ dưới 5 tuổi chỉ đạt 45,3%, trong khi 54,7% bà mẹ có thực hành chưa đạt. Tỷ lệ thực hành đạt có sự phân hóa rõ rệt theo từng nhóm nuôi dưỡng: cao nhất ở nhóm bà mẹ có con ăn dặm hoàn toàn với 60,4%, và thấp nhất ở nhóm bà mẹ có con đang bú mẹ hoàn toàn với chỉ 35,3%.

Về kiến thức, 61,1% bà mẹ có kiến thức chung đạt tiêu chuẩn và 95,5% hiểu rõ tác dụng bù nước điện giải của dung dịch Oresol. Tuy nhiên, vẫn còn 22,9% bà mẹ thực hành pha Oresol sai quy cách bằng cách chia nhỏ gói thuốc để pha nhiều lần hoặc ước lượng lượng nước tùy tiện.

Phân tích các yếu tố liên quan ghi nhận những chỉ số tác động nổi bật:

  • Bà mẹ từ 23 tuổi trở lên có khả năng thực hành đạt cao gấp 4,9 lần so với nhóm dưới 23 tuổi (OR = 4,9).
  • Bà mẹ người Kinh có tỷ lệ thực hành đạt cao gấp 2,5 lần so với nhóm bà mẹ dân tộc thiểu số (OR = 2,5).
  • Bà mẹ có từ 1 đến 2 con đạt kết quả thực hành cao gấp 1,8 lần so với nhóm sinh trên 2 con (OR = 1,8).
  • Bà mẹ có kiến thức đạt có khả năng thực hành đúng cao gấp 7,4 lần nhóm có kiến thức chưa đạt (OR = 7,4).
  • Trẻ được tiêm chủng mở rộng đầy đủ giúp tăng tỷ lệ thực hành phòng bệnh của mẹ lên 2,4 lần (OR = 2,4).
  • Bà mẹ từng tham gia các buổi thực hành dinh dưỡng do cán bộ y tế hướng dẫn có khả năng thực hành đạt cao gấp 21,2 lần nhóm chưa từng tham gia (OR = 21,2).
  • Hộ gia đình có nhà vệ sinh hợp chuẩn ghi nhận tỷ lệ thực hành đạt cao gấp 2,5 lần so với hộ chưa có nhà vệ sinh hợp chuẩn (OR = 2,5).

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ thực hành đạt 45,3% tại Chư Păh tương đồng với kết quả nghiên cứu tại Hoài Đức - Hà Nội (46,8%) và Trà Vinh (40%), nhưng thấp hơn rõ rệt so với nghiên cứu tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng (70,9%). Nguyên nhân chính xuất phát từ đặc thù địa bàn miền núi với 61,4% đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số Jrai và Ba Na, 65,5% làm nghề nông, 52,1% chưa có hố xí hợp vệ sinh và 95,9% hộ gia đình phải sử dụng nguồn nước giếng tự nhiên thay vì nước máy (chỉ chiếm 4,1%).

Về kỹ năng can thiệp y tế, tỷ lệ pha Oresol đúng đạt 77,1%, cao hơn mức 60,6% tại Bệnh viện Sản nhi Nghệ An, song việc 22,9% bà mẹ pha sai tỷ lệ vẫn tạo ra nguy cơ rối loạn điện giải nghiêm trọng cho bệnh nhi. Việc nhóm bà mẹ cho con bú hoàn toàn có tỷ lệ thực hành đạt thấp nhất (35,3%) phản ánh tâm lý chủ quan, xem nhẹ khâu rửa tay bằng xà phòng trước khi cho bú và chậm trễ trong nhận biết dấu hiệu mất nước sơ cấp.

Các cấu trúc dữ liệu thực hành và mối tương quan nhân khẩu học được trực quan hóa toàn diện thông qua hệ thống bảng kiểm định tỷ số chênh đơn biến và biểu đồ cột phân tầng theo nhóm tuổi của trẻ, mang lại góc nhìn trực quan cho công tác dịch tễ học thực địa.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa và hạ thấp tỷ lệ mắc tiêu chảy cấp tại địa phương, các nhóm giải pháp hành động được đề xuất như sau:

  • Đào tạo chuẩn hóa chuyên môn: Trung tâm Y tế huyện Chư Păh chủ trì tổ chức các lớp tập huấn cập nhật phác đồ xử trí tiêu chảy cấp và kỹ năng tư vấn truyền thông cho 100% cán bộ y tế trạm và nhân viên y tế thôn bản trong quý 1 năm 2023.
  • Đổi mới truyền thông trực quan: Trung tâm Y tế huyện phối hợp với Ủy ban nhân dân 14 xã, thị trấn xây dựng các buổi thực hành dinh dưỡng và hướng dẫn pha Oresol bằng tiếng Jrai và Ba Na, hướng tới nâng tỷ lệ bà mẹ tiếp cận thông tin dinh dưỡng từ 91,4% lên trên 98% trước quý 3 năm 2023.
  • Cải thiện hạ tầng vệ sinh môi trường: Ngành y tế dự phòng phối hợp với các đoàn thể phát động chiến dịch nước sạch và vệ sinh môi trường, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh từ 47,9% lên tối thiểu 70% trong giai đoạn 2023 - 2025.
  • Lồng ghép tư vấn tiêm chủng: Các trạm y tế xã duy trì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ trên 81,7%, kết hợp tư vấn uống vắc xin Rotavirus và cấp phát tờ rơi hướng dẫn bù kẽm định kỳ trong suốt năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý y tế dự phòng và lãnh đạo y tế tuyến huyện: Sử dụng dữ liệu thực trạng dịch tễ để xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực cho Chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy (CDD) và ban hành các chính sách y tế công cộng phù hợp với đồng bào thiểu số.
  • Bác sĩ, điều dưỡng và cán bộ y tế cơ sở: Ứng dụng các phát hiện về sai sót thực hành (22,9% pha sai Oresol, 38,9% kiến thức chưa đạt) để chuẩn hóa quy trình tư vấn và trực tiếp hướng dẫn thân nhân người bệnh tại buồng điều trị.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu y tế công cộng: Kế thừa bộ công cụ điều tra bảng hỏi cấu trúc, khung lý thuyết phân tích đa chiều và phương pháp kết hợp định tính - định lượng trong nghiên cứu hành vi sức khỏe vùng Tây Nguyên.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ phát triển: Khai thác dữ liệu về hạ tầng nước sạch (chỉ 4,1% dùng nước máy) để thiết kế các dự án viện trợ cung cấp nguồn nước sạch và xây dựng nhà tiêu hợp chuẩn cho phụ nữ và trẻ em vùng khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao tỷ lệ thực hành đạt ở nhóm bà mẹ có con bú mẹ hoàn toàn lại thấp hơn nhóm ăn dặm? Tỷ lệ thực hành đạt ở nhóm bú mẹ hoàn toàn chỉ là 35,3%, thấp hơn nhiều so với nhóm ăn dặm (60,4%). Nguyên nhân chủ yếu do tâm lý chủ quan cho rằng sữa mẹ hoàn toàn vô trùng nên người mẹ thường bỏ qua bước rửa tay xà phòng trước khi cho con bú, đồng thời thiếu kỹ năng nhận biết các biểu hiện mất nước sớm ở trẻ sơ sinh.
  • Yếu tố can thiệp nào mang lại hiệu quả thay đổi hành vi thực hành mạnh mẽ nhất? Tham gia các buổi thực hành dinh dưỡng do cán bộ y tế tổ chức tạo ra tác động vượt trội nhất, giúp tăng khả năng thực hành đúng của bà mẹ lên 21,2 lần. Phương pháp hướng dẫn trực quan "cầm tay chỉ việc" tại thôn bản giúp bà mẹ tiếp thu kỹ năng vệ sinh và chế biến thức ăn an toàn hiệu quả hơn nhiều so với việc chỉ nghe thông tin thụ động qua loa đài.
  • Việc 22,9% bà mẹ pha dung dịch Oresol sai cách có thể gây ra những nguy hiểm gì? Pha Oresol bằng cách chia nhỏ gói thuốc hoặc dùng không đủ lượng nước sẽ làm thay đổi nồng độ thẩm thấu của dung dịch. Pha quá đặc sẽ gây tổn thương niêm mạc ruột và tăng gánh nặng thẩm thấu làm trẻ mất nước tế bào nặng hơn; ngược lại pha quá loãng sẽ không cung cấp đủ lượng muối khoáng cần thiết để hồi phục điện giải.
  • Điều kiện vệ sinh môi trường tại huyện Chư Păh ảnh hưởng thế nào đến tỷ lệ mắc bệnh? Khảo sát chỉ ra 52,1% hộ gia đình không có nhà tiêu hợp vệ sinh và 95,9% hộ dùng nước giếng chưa kiểm định. Hộ gia đình có nhà tiêu hợp chuẩn giúp bà mẹ có thực hành phòng bệnh tốt hơn 2,5 lần, cho thấy môi trường sống chưa đảm bảo chính là nguồn phát tán mầm bệnh qua đường tiêu hóa khiến số ca mắc tăng dần qua các năm.
  • Gia đình đông con ảnh hưởng thế nào đến chất lượng thực hành chăm sóc trẻ bị tiêu chảy? Nghiên cứu chứng minh bà mẹ có từ 1 đến 2 con có khả năng thực hành đạt cao gấp 1,8 lần so với nhóm có trên 2 con. Việc phân tán thời gian chăm sóc cùng gánh nặng kinh tế ở các hộ đông con khiến người mẹ khó duy trì chế độ dinh dưỡng chia nhỏ 6 bữa/ngày và không theo dõi sát sao dấu hiệu chuyển nặng của trẻ.

Kết luận

  • Thực hành phòng bệnh tiêu chảy cấp của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại huyện Chư Păh năm 2022 ở mức trung bình thấp với tỷ lệ đạt 45,3%, thấp hơn đáng kể so với mức đạt về kiến thức (61,1%).
  • Kỹ năng xử trí lâm sàng tại nhà còn nhiều bất cập khi có tới 22,9% bà mẹ pha Oresol sai tỷ lệ và nhóm nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đạt tỷ lệ thực hành thấp nhất (35,3%).
  • Các yếu tố tác động then chốt đến thực hành gồm độ tuổi của mẹ (tăng 4,9 lần), trình độ kiến thức (tăng 7,4 lần), việc tiếp cận buổi thực hành dinh dưỡng (tăng 21,2 lần) và sự hiện diện của nhà tiêu hợp chuẩn (tăng 2,5 lần).
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thực địa đầu tiên về hành vi phòng bệnh tiêu chảy cấp ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Gia Lai, làm sáng tỏ các rào cản dịch tễ học hành vi.
  • Lộ trình tiếp theo giai đoạn 2023 - 2025 cần tập trung nguồn lực ngân sách cho y tế dự phòng cơ sở, triển khai đồng bộ chương trình truyền thông song ngữ và mở rộng độ bao phủ nhà tiêu hợp vệ sinh.

Để bảo vệ sức khỏe trẻ em và kiểm soát hiệu quả gánh nặng tiêu chảy cấp vùng Tây Nguyên, hãy chia sẻ tài liệu nghiên cứu này đến cộng đồng y khoa và liên hệ ngay với các đơn vị y tế dự phòng địa phương để cùng phối hợp triển khai các giải pháp can thiệp thực tế.