CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Chăm sóc trước sinh: là những chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ tính từ thời điểm có thai cho đến trước khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con khỏe mạnh; tập trung chủ yếu vào một số hoạt động như khám thai, tiêm phòng uốn ván, phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm và kịp thời điều trị, truyền thông về dinh dưỡng … (9). COVID-19 là bệnh do một loại Coronavirus mới có tên là SARS-CoV-2 gây ra. Loại vi rút mới này được xác định vào tháng 12 năm 2019, sau một báo cáo về một nhóm các trường hợp viêm phổi do vi rút ở Vũ Hán, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (10).
Tầm quan trọng của chăm sóc trước sinh Chăm sóc trước sinh bao gồm các chăm sóc ngay từ lúc mang thai cho đến khi chuyển dạ. Nội dung của chăm sóc trước sinh bao gồm: khám thai, tiêm phòng uốn ván, phát hiện các dấu hiệu nguy hiểm và kịp thời điều trị, truyền thông về dinh dưỡng … Chăm sóc trước sinh cũng là dịp để phụ nữ được tư vấn về chế độ làm việc, chuẩn bị cho cuộc đẻ, dự định nơi sinh con và các chăm sóc thiết yếu khi trẻ sơ sinh ra đời như nuôi con bằng sữa mẹ, giữ ấm, tiêm phòng,. Chăm sóc trước sinh giúp bà mẹ mang thai theo dõi tình trạng sức khoẻ của bản thân mình và sự phát triển của thai nhi. Bà mẹ mang thai cần được khám thai sớm, tư vấn, hướng dẫn về chăm sóc hợp lý nhằm bảo đảm sức khoẻ bà mẹ và sự phát triển của thai nhi.
Chăm sóc trước khi sinh cũng giúp dự phòng, phát hiện sớm các bất thường trong thai kỳ. Vì vậy, các bà mẹ phải được chăm sóc ngay từ khi mang thai giúp giảm rủi ro trong quá trình mang thai, ngăn ngừa các tai biến trong quá trình sinh nở và làm tăng cơ hội cho cả mẹ và con được an toàn và khỏe mạnh. Thực hành chăm sóc trước sinh của các bà mẹ mang thai và sinh đẻ Khám thai và sàng lọc trước sinh Thai nghén là giai đoạn nhiều nguy cơ tiềm ẩn, có thể dẫn đến những vấn đề sức khỏe trầm trọng như bệnh tật và tử vong mà bất cứ một phụ nữ nào cũng có thể 5 mắc phải trong thời kỳ mang thai. Để hạn chế những vấn đề sức khỏe đó, khám thai là một biện pháp hết sức quan trọng.
Tại Việt Nam mỗi phụ nữ mang thai phải được quản lý thai và khám thai ít nhất 4 lần trong thai kỳ (1 lần trong 3 tháng đầu, 1 lần trong 3 tháng giữa, 2 lần trong 3 tháng cuối). Người mẹ đi khám thai sớm và đầy đủ cho đến khi sinh là yếu tố quan trọng để tránh rủi ro cho bà mẹ và thai nhi (11). Trong báo cáo MICS 2021 cho thấy 88,2% phụ nữ khám thai ít nhất 4 lần (41) và 87,5% sản phụ khám thai đủ 4 lần trong thai kỳ trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Trâm và cộng sự (29). Nghiên cứu của Ogbo FA và cộng sự cho kết quả: 16,6% phụ nữ Ấn Độ không có lần khám thai nào, 31,7% có từ một đến ba lần khám thai và chỉ hơn một nửa thực hiện từ bốn lần khám thai trở lên (51,7%) (12).
Các xét nghiệm nên thực hiện trong thời gian mang thai: + Siêu âm: Nên được thực hiện tại thời điểm thai nhi khoảng 11-13 tuần, 20 – 24 tuần, 30 – 32 tuần, để xác định chính xác tuổi thai và sàng lọc dị tật. Nếu có điều kiện: Thực hiện sàng lọc và chẩn đoán trước sinh các bất thường số lượng nhiễm sắc thể 21, 18, 13 của thai nhi dựa trên độ dày khoảng mờ da gáy trên siêu âm và sự phát triển của thai nhi. Xét nghiệm là một nội dung quan trọng trong chăm sóc trước sinh. Xét nghiệm nước tiểu để tìm xem có protein không (nhằm phát hiện sớm dấu hiệu nhiễm độc thai nghén), thử huyết sắc tố (xem có thiếu máu không).
Ở nơi có điều kiện còn làm thêm xét nghiệm phát hiện HIV, giang mai, viêm gan (11). Ngoài ra, đo huyết áp cũng cần được thực hiện đầy đủ khi bà mẹ đi khám thai để phát hiện sớm tình trạng tiền sản giật ở phụ nữ thời kỳ mang thai. Tác giả Nguyễn Văn Dậu và cộng sự cũng cho thấy có 60% bà mẹ thực hiện các xét nghiệm máu và nước tiểu khi đi khám thai (40). Dinh dưỡng - Bổ sung sắt, folic Uống ngày 1 viên trong suốt thời gian có thai đến sau đẻ 1 tháng.
Mỗi viên gồm 60mg sắt và 400mcg acid folic. Nếu thai phụ có thiếu máu: cần được điều trị theo phác đồ. 6 Việc cung cấp viên sắt/acid folic cần được thực hiện ngay từ lần đầu khám thai. + Kiểm tra việc sử dụng và cung cấp tiếp viên sắt/acid folic trong các lần khám thai sau (11).
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đỗ Huy và cộng sự thực hiện năm 2017 tại Hà Nội cho thấy 64,8% bà mẹ bổ sung sắt trong thai kỳ (39), trong khi đó, kết quả trong nghiên cứu của tác giả Trần Đình Chắt thực hiện có 99,1% bà mẹ bổ sung sắt trong thời gian mang thai (43). - Chế độ ăn: Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ cho phụ nữ trước khi có thai. Thực hiện chế độ ăn hợp lý, đa dạng, đủ 4 nhóm thực phẩm (đạm, mỡ, đường, vitamin và muối khoáng) nhằm đạt chỉ số khối cơ thể (BMI) bình thường từ 18,5-24 hoặc có cân nặng ít nhất là trên 40kg. Lượng tăng ít nhất 1/4 (tăng số bữa ăn và số lượng cơm, thức ăn trong mỗi bữa).
Tăng chất: Đảm bảo cho sự phát triển của mẹ và con (thịt, cá, tôm, sữa, trứng, đậu lạc, vừng, dầu ăn, rau quả tươi). Uống ít nhất 02 lít nước mỗi ngày (sữa + nước hoa quả + nước lọc) cho đến hết thời kỳ cho con bú. Không nên ăn mặn, nên thay đổi món để ngon miệng, không hút thuốc lá, uống rượu, không uống thuốc nếu không có chỉ định của thầy thuốc. Tránh táo bón bằng chế độ ăn hợp lý, không nên dùng thuốc chống táo bón (11).
Tiêm phòng uốn ván Bệnh uốn ván là một trong năm tai biến sản khoa thường gặp, đây là một bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao cho mẹ và trẻ sơ sinh; và là một trong 5 tai biến sản khoa mà chúng ta có thể phòng chống được nếu trong thời gian mang thai người phụ nữ được tiêm đủ 2 mũi uốn ván (1). Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Bích Trâm cho kết quả 88,6% phụ nữ tiêm phòng vắc-xin đầy đủ (29); kết quả trong Báo cáo của Vụ Sức khỏe sinh sản với tỷ lệ phụ nữ mang thai đi tiêm phòng uốn ván đủ 2 mũi đạt 88,5% (46). Kết quả được đề cập trong Báo cáo về điều tra các mục tiêu phát triển Bền vững về trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2020-2021 có 77,9% phụ nữ mang thai tiêm phòng uốn ván đủ 2 mũi (41). Đối với phụ nữ nếu chưa tiêm hoặc không rõ tiền sử tiêm vắc xin có thành phần uốn ván thì lịch tiêm vắc xin phòng bệnh uốn ván gồm 5 mũi như sau: + Lần 1: Tiêm sớm khi có thai lần đầu hoặc trong độ tuổi sinh đẻ.
7 + Lần 2: Ít nhất 1 tháng sau lần 1. + Lần 3: Ít nhất 6 tháng sau lần 2 hoặc thời kỳ có thai lần sau. + Lần 4: Ít nhất 1 năm sau lần 3 hoặc thời kỳ có thai lần sau. + Lần 5: Ít nhất 1 năm sau lần 4 hoặc thời kỳ có thai lần sau.
- Nếu khoảng thời gian giữa các liều tiêm bị chậm, vượt quá khoảng thời gian theo lịch tiêm chủng thì tiêm mũi tiếp theo mà không cần tiêm lại từ đầu (1). Chế độ làm việc Quá trình mang thai là thời kỳ khó khăn với các bà mẹ, vì vậy các bà mẹ cần có thời gian nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe cho bản thân, sức khỏe bà mẹ tốt thì thai nhi mới phát triển tốt và khỏe mạnh. Làm theo khả năng, xen kẽ nghỉ ngơi nhưng không quá nặng nhọc, tránh làm ban đêm (nhất là từ tháng thứ bảy). Không làm việc vào tháng cuối để đảm bảo sức khỏe cho mẹ và để con tăng cân; Không mang vác nặng trên đầu, trên vai; Không để kiệt sức; Không làm việc dưới nước hoặc trên cao; Không tiếp xúc với các yếu tố độc hại; Tránh đi xa, tránh xóc xe hay va chạm mạnh; Quan hệ tình dục thận trọng; Duy trì cuộc sống thoải mái, tránh căng thẳng; Ngủ ít nhất 8 giờ mỗi ngày.
Chú trọng ngủ trưa (1). Chăm sóc đặc biệt trong bối cảnh COVID-19: - Tiêm phòng vắc xin COVID-19 trong thời gian mang thai Tại Việt Nam, vắc-xin COVID-19 bắt đầu được tiêm vào ngày 8 tháng 3 năm 2021. Đến hết ngày 7/11/2021, cả nước đã tiêm được hơn 90 triệu liều với hơn 83,8% số người từ 18 tuổi được tiêm ít nhất 1 liều và hơn 40% số người từ 18 tuổi trở lên tiêm đủ 2 liều vắc xin (13). Để loại bỏ COVID-19, nhiều quốc gia đã tiến hành tiêm vắc xin, tuy nhiên thành công phụ thuộc vào trình độ hiểu biết và tỷ lệ chấp nhận của mọi người.
Ngày 10/8, Bộ Y tế Việt Nam đã đưa ra hướng dẫn tạm thời về khám sàng lọc trước tiêm chủng vắc xin phòng COVID-19, ban hành kèm Quyết định 3802/QĐ-BYT. Bộ Y tế cũng lưu ý khi tiêm vắc xin ngừa COVID-19 cho thai phụ cần hỏi rõ tuổi thai và giải thích lợi ích, nguy cơ; phải cân nhắc tiêm vắc xin phòng COVID-19 cho phụ nữ mang thai từ 13 tuần trở lên; thai phụ cần ký cam kết nếu đồng ý tiêm và được tiêm vắc xin COVID-19 ở các cơ sở y tế có cấp 8 cứu sản khoa, vắc xin khuyến cáo là Pfizer. Khảo sát cắt ngang các sản phụ tại hai bệnh viện sản Hà Nội và Cà Mau, dữ liệu về sự chấp nhận đối với COVID-19, đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm của bà mẹ và nhận thức về nguy cơ đối với COVID-19 đã được thu thập. Trong số 651 phụ nữ mang thai, 60,4% chấp nhận tiêm vắc-xin.
Lý do từ chối tiêm chủng phổ biến nhất là “lo lắng về tính an toàn của vắc xin” (66,9%) ở Hà Nội và “hiệu quả phòng ngừa của COVID-19 thấp” (45,2%) ở Cà Mau. Thu nhập cao hơn, có con, tự nhận thức nguy cơ nhiễm Covid-19 và nhận thức nguy cơ với bạn bè có liên quan đến khả năng chấp nhận đối với vắc xin cao hơn (14).