Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu Sử dụng dịch vụ y tế: Sử dụng dịch vụ y tế là nhu cầu của người dân nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe của họ. Sử dụng dịch vụ y tế có thể cho mục đích phòng bệnh hoặc điều trị bệnh hoặc sử dụng các dịch vụ y tế khác tại cơ sở y tế công lập hoặc y tế tư nhân tại các tuyến cơ sở y tế [6]. Dịch vụ chăm sóc trước sinh: là quá trình theo dõi, chăm sóc bà mẹ tại cơ sở y tế (CSYT) được thực hiện bởi nhân viên Y tế (NVYT) đã qua đào tạo, từ khi bắt đầu có thai cho đến trước khi chuyển dạ.
Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo rằng “tất cả phụ nữ mang thai cần được khám thai ít nhất 04 lần trước khi sinh, với lần khám đầu tiên diễn ra trong 03 tháng đầu mang thai (<16 tuần tuổi). Các đợt khám thai giúp cho việc lập kế hoạch trước khi sinh và sinh con an toàn với sự hỗ trợ của nhân viên y tế có chuyên môn, vì nếu không đi khám thai những phụ nữ có thai này có thể sẽ không tìm kiếm dịch vụ đỡ đẻ của người có chuyên môn trong khi sinh. Thông qua việc PNCT sử dụng dịch vụ khám thai, các nhân viên y tế (NVYT) có thể khuyến khích và thúc đẩy những PNCT thực hiện các hành vi và thói quen tốt khác như khám sức khỏe sau khi sinh, tiêm chủng, thực hành cho con bú đúng cách và sử dụng dịch vụ và các biện pháp KHHGĐ”[2, 6]. Ba nội dung: “Đo huyết áp, xét nghiệm nước tiểu, xét nghiệm máu là các chỉ số cơ bản nhất trong CSTS.Phụ nữ có nguy cơ mắc các tai biến sản khoa cũng cần được phát hiện thông qua dịch vụ CSTS, và các NVYT cần tư vấn cho phụ nữ và bạn tình của họ về các yếu tố nguy cơ trong thời kỳ mang thai, lúc chuyển dạ và lúc sinh” Dịch vụ chăm sóc trong và ngay sau sinh: Là dịch vụ Y tế được thực hiện tại cơ sở Y tế, chăm sóc BM-TSS từ lúc chuyển dạ sinh đến hết 24 giờ đầu sau sinh tức là vào ngày thứ nhất sau sinh, bao gồm các chăm sóc thiết yếu (CSTY) cơ bản và các chăm sóc thường quy tại một cuộc đẻ cho BM-TSS theo qui định, nhằm phát hiện những trường hợp không được bình thường để xử trí kịp thời, đồng thời hướng dẫn bà mẹ biết cách chăm sóc bản thân và cho trẻ được khỏe mạnh [27, 29].
5 - Chăm sóc bà mẹ:Chăm sóc cho bà mẹ trong và ngay sau sinh gồm các CSTY cơ bản tại CSYT như kẹp cắt dây rốn muộn có kiểm soát; tiêm thuốc Oxytocin gây co hồi tử cung; xoa đáy tử cung 15 phút/lần sau liên tục trong 2 giờ đầu sau khi nhau thai sổ ở giai đoạn 3, cho trẻ bú ngay sau sinh. Để bảo đảm có được các chăm sóc thiết yếu, bà mẹ sinh con cần có sự tham gia hỗ trợ của CBYT và nơi sinh con có đầy đủ phương tiện thiết yếu. Sau những chăm sóc thiết yếu sớm, bà mẹ sẽ được cung cấp cách dịch vụ thường qui như uống Vitamin A ngay, đảm bảo vệ sinh, dinh dưỡng và theo dõi các diễn biến bất thường sau đẻ[27, 41]. - Chăm sóc thiết yếu TSS: gồm những CSTY cơ bản và những chăm sóc thường quy cho TSS ngay sau khi trẻ vừa lọt lòng mẹ trong ngày đầu sau sinh, nhằm bảo đảm cho TSS thích nghi đáp ứng với môi trường sống bên ngoài dạ con.
Các bước chăm sóc thiết yếu cho TSSngay sau sinh bao gồm gồm là lau khô; Đặt trẻ trên bụng/ngực mẹ tiếp xúc da với da và kéo dài ít nhất là 90 phút; Cắt rốn chậm (ngay sau khi động mạch rốn ngừng đập); Cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn sớm trong 1 giờ đầu ngay sau sinh [27, 41]. Tiếp theo là nhữngchăm sóc thường quy bao gồm: Chăm sóc rốn (để rốn hở, không bôi đắp bất cứ thứ gì lên mặt rốn), cân; đo; nhỏ thuốc mắt cho trẻ; thăm khám toàn thân; tiêm vitamin K1đề phòng xuất huyết não và tiêm vắc xin phòngviêm gan siêu vi B [27, 29]. Dịch vụ chăm sóc 42 ngày sau sinh: Là dịch vụ y tế được thực hiện bởi cán bộ y tế, thăm khám tại nhà hoặc tại CSYT cho bà mẹ và trẻ sơ sinh trong thời kỳ sau đẻ từ khi xuất viện cho đến khi kết thúc thời kỳ hậu sản 42 ngày sau đẻ.[27] Đẻ tại cơ sở y tế: là những trường hợp bà mẹ mang thai đến tại CSYT nhà nước hay tư nhân để sinh con dưới sự theo dõi và chăm sóc của CBYT có tay nghề đỡ đẻ[27] Người đỡ đẻ có kỹ năng: là CBYT gồm hộ sinh (HS), bác sĩ (BS), Y sĩ sản nhi (YSSN), là những người được tập huấn thực hành thành thạo một cách bài bản về kỹ năng đỡ đẻ và CSTY theo qui trình cơ bản. Để giúp chẩn đoán và xử trí, tiên lượng tất cả những trường hợp mang thai, sinh con trong thời gian mang thai, quá trình chuyển dạ và ngay sau sinh một cách chuẩn xác, chuyển tuyến kịp thời các trường hợp biến chứng ở BM-TSS[27, 29] 6 Cô đỡ thôn buôn:là đối tượng phụ nữ người DTTS sinh sống tại các buôn, đã được tham gia học tập ngắn hạn hay liên tục trong 6 tháng về những kỹ năng truyền thông trực tiếp làm mẹ an toàn (LMAT); thành thạo biết cách đỡ đẻ sạch một cách bài bản, tham gia hỗ trợ đỡ đẻ cho các trường hợp sinh tại nhà xảy ra ngoài ý muốn; biết cách chăm sóc BM-TSS trong và ngay sau sinh; tư vấn vận động bà mẹ mang thai sinh con tại CSYT[35].
Tư vấn chăm sóc trước, trong và ngay sau sinh:trước khi thực hiện quy trình chăm sóc thiết yếu,đỡ đẻ cho bà mẹ hay thực hiện thủ thuật cho BM-TSS, gia đình và bà mẹ đã được CBYT tư vấn hướng dẫn về lợi ích của việc chăm sóc sớm cho BM-TSS, để họ an tâm hợp tác, giúp họ biết cách chăm sóc bản thân và trẻ để phát hiện sớm kịp thời nguy cơ tai biến, nhằm hạn chế những hậu quả của nó đem lại là TVM-TVSS ngay sau sinh[27, 28]. Dịch vụ sẵn có về CSSKBM-TSS:“Là nhân sự bao gồm nhân viên đã được tập huấn chuyên sâu về sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em ví dụ như cấp cứu sản khoa; Thuốc sử dụng trong CSTS gồm sắt; axít folic; vắc-xin chống uốn ván; Thuốc sử dụng trong cấp cứu sản khoa theo Quyết định 5231 của Bộ Y tế. Đào tạo bao gồm đào tạo về chăm sóc trẻ sơ sinh; CSSS; chăm sóc cấp cứu sản khoa; KHHGĐ; SKSS vị thành niên; và điều trị các bệnh LTQĐTD” (16) 1. Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ - trẻ sơ sinh trước, trong và ngay sau sinh 1.Trên thế giới Chương trình “Làm mẹ An toàn và các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, trong các thập kỷ gần đây,và các can thiệp về cải thiện SKSS, sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em ngày càng được ưu tiên thực hiện ở các quốc gia đang phát triển.
Trên phạm vi toàn cầu, nhiều tiến bộ đã đạt được, đặc biệt là tiến bộ về giảm tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ em (6). Đánh giá kết quả thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ gia đoạn 1990 – 2015 cho thấy so năm 1990, tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ em đã giảm 45% và 50% vào năm 2015[15]. Tuy nhiên, các kết quả đạt được không đồng đều giữa các nơi và vấn về bình đẳng, công bằng trong SKSS, bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em giữa các quốc gia trên thế giới và trong cùng một quốc gia vẫn còn tồn tại. 7 Trong cùng một quốc gia, vẫn còn có sự bất bình đẳng về khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em giữa các nhóm dân cư có mức độ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) cao và thấp, giữa các nhóm dân tộc thiểu số và đa số, và những người sống ở nông thôn và thành thị [15, 35].
Thế giới, theo WHO năm 2019,“ khoảng 810 phụ nữ tử vong mỗi ngày Có đến 99% các ca tử vong xảy ra ở các nước thu nhập trung bình và thấp[35]. Tỷ lệ tử vong và bệnh tật của mẹ cao nhất trong các nhóm dân nghèo ở khu vực cận Saha-ra Châu Phi và các quốc gia Nam Á. Tỷ lệ tử vong mẹ ở cả 2 khu vực này chiếm hơn 85% tổng số ca tử vong mẹ trên toàn thế giới [15]. Trong năm 2009, ước tính trên toàn thế giới có khoảng 2,6 triệu ca thai chết lưu và khoảng 3/4 trong số đó xảy ra ở Nam Á và khu vưc cận Sahara châu Phi [1].
Điều cần nhấn mạnh là phần lớn các trường hợp tử vong này có thể phòng tránh được nếu phụ nữ tiếp cận được các dịch vụ y tế chất lượng cao trong thời gian họ mang thai và sinh con. Nhiều nghiên cứu đã khảng định là hầu hết các hệ thống y tế đều mang lại lợi ích cho nhóm phụ nữ có ưu thế trong xã hội hơn những phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, tuy nhiên ngay cả khi các dịch vụ CSSKBM có đầy đủ về mặt kỹ thuật và có thể tiếp cận được thì những dịch vụ này vẫn không được sử dụng tối đa nếu không phù hợp hoặc không phải là mong muốn của bệnh nhân [18]. Như vậy, các thách thức liên quan đến việc tiếp cận công bằng các dịch vụ CSSKBM có tính chất hai mặt: thách thức từ phía cung cấp dịch vụ và thách thức từ có nhu cầu nhận dịch [14]. Do đó, chúng ta cần nghiên cứu và tìm hiểu thêm những yếu tố ảnh hưởng cụ thể trong việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trong các cộng đồng dân cư thiệt thòi để đảm bảo tiếp cận công bằng cho tất cả mọi người.
Ở Việt Nam Ở Việt Nam có 75% dân số sống ở khu vực nông thôn và khoảng 19% dân số là người dân tộc thiểu số (DTTS)[20]. Hiện vẫn còn sự khác biệt về tỷ lệ biết chữ giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng có mức độ phát triển KTXH khác nhau, nam và nữ, và giữa các nhóm dân tộc, đặc biệt là ở dân tộc H’mong [35] Việt Nam là quê hương của 53 nhóm DTTS và hầu hết các dân tộc này đều sống ở những vùng núi, vùng sâu vùng xa với sự phát triển KTXH hạn chế và điều kiện giao 8 thông khó khăn.