ĐẶT VẤN ĐỀ Thai nghén và sinh nở là sự kiện quan trọng trong cuộc đời mỗi ngƣời phụ nữ cũng nhƣ trong cuộc sống của mỗi gia đình. Mặc dù đây là một quá trình sinh lý bình thƣờng nhƣng cũng có nhiều nguy cơ về sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh. Vì vậy, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trong thời gian mang thai, trong sinh và sau sinh là nhiệm vụ trung tâm trong các can thiệp nâng cao sức khỏe phụ nữ và trẻ em. Với những cố gắng nỗ lực của nhiều quốc gia, tỷ lệ tử vong mẹ trên toàn thế giới vào năm 2010 đã giảm gần 50% so với năm 1990.
Tuy nhiên Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi ngày vẫn còn có khoảng 800 phụ nữ tử vong do các nguyên nhân liên quan đến mang thai và sinh đẻ, trong số đó có đến 99% xảy ra ở các nƣớc đang phát triển [40]. Thành công của chƣơng trình làm mẹ an toàn có tác động rõ rệt đến giảm tử vong sơ sinh, tuy nhiên hàng năm trên thế giới vẫn còn hơn 3 triệu trẻ sơ sinh không sống qua 1 tháng sau đẻ trong đó có đến 75% trẻ tử vong xảy ra trong tuần đầu [54]. Tại Việt Nam, tỷ số tử vong mẹ trong những năm gần đây đã giảm mạnh, từ mức 233/100.000 trẻ đẻ sống năm 1990 xuống còn 69/100.000 trẻ đẻ sống năm 2009 và đến năm 2010 con số này là 59/100. Tuy nhiên, các kết quả điều tra cũng cho thấy có sự chênh lệch rất lớn về tỷ số tử vong mẹ giữa các vùng miền.
Kết quả điều tra tử vong mẹ ở Việt Nam 2006-2007 do Viện Chiến lƣợc và Chính sách Y tế - Bộ Y tế thực hiện cho thấy tỷ số tử vong mẹ ở khu vực miền núi (108/100.000 trẻ đẻ sống) vẫn cao hơn khoảng 3 lần so với vùng đồng bằng (36/100. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở, tỷ suất chết trẻ em dƣới 1 tuổi giảm nhanh từ 44,4% năm 1990 xuống còn 16‰ năm 2008-2009, trong số đó có đến 70-75% là tử vong sơ sinh. Tƣơng tự nhƣ tử vong mẹ, tỷ suất tử vong sơ sinh ở nông thôn miền núi cao hơn hai lần so với nông thôn đồng bằng, ở các dân tộc ít ngƣời cao hơn gấp 2 lần so với ngƣời Kinh [6]. Kim Thủy, Ngân Thủy, Lâm Thủy là ba xã miền núi vùng sâu vùng xa của huyện Lệ Thủy với 98% dân số là dân tộc Vân Kiều sinh sống.
Ba xã này có số bà mẹ sinh con trong độ tuổi vị thành niên nhiều hơn các xã khác trong huyện và gần 40% phụ 2 nữ sinh con tại nhà. Theo các báo cáo của Trung tâm Y tế huyện cho thấy các hoạt động chăm sóc y tế trong còn gặp nhiều khó khăn đặc biệt là việc chăm sóc thai nghén, sinh đẻ và sau sinh do điều kiện địa lý của vùng miền núi, địa hình không thuận tiện cho đi lại và tiếp cận các dịch vụ y tế. Những trƣờng hợp sinh con tại nhà thƣờng đƣợc chăm sóc theo kinh nghiệm và một số phong tục, tập quán lạc hậu nên đã để lại một số hậu quả đáng tiếc cho sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh. Để đánh giá về hiện trạng chăm sóc thai nghén, sinh đẻ và sau sinh, phát hiện các vấn đề tồn tại nhằm cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, hạn chế những tai biến cho bà mẹ và trẻ sơ sinh, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến chăm sóc bà mẹ, trẻ sơ sinh trước, trong và 7 ngày sau sinh của phụ nữ Vân Kiều tại 3 xã miền núi huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2014” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
Mô tả kiến thức, thực hành chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh trƣớc, trong và 7 ngày sau sinh của các bà mẹ ngƣời dân tộc Vân Kiều có con dƣới 1 tuổi tại 3 xã miền núi huyện Lệ Thủy. Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh trƣớc, trong và sau sinh của các bà mẹ ngƣời dân tộc Vân Kiều có con dƣới 1 tuổi tại 3 xã miền núi huyện Lệ Thủy. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Chăm sóc trƣớc, trong và sau sinh là nội dung cơ bản của chƣơng trình làm mẹ an toàn nhằm bảo đảm cho bà mẹ và trẻ sơ sinh an toàn và khỏe mạnh khi phải trải qua giai đoạn mang thai và sinh đẻ. Sáng kiến về làm mẹ an toàn đƣợc một số tổ chức Quốc tế khởi xƣớng từ năm 1987 với mục tiêu là giảm tử mẹ và trẻ sơ sinh và hơn 100 quốc gia hƣởng ứng và chọn làm kế hoạch hành động.
Đã gần 4 thập kỷ trôi qua kể từ khi chƣơng trình làm mẹ an toàn bắt đầu thực hiện, tử vong mẹ và sơ sinh đã giảm một cách đáng kể. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở, tỷ suất chết trẻ em dƣới 1 tuổi giảm nhanh từ 44,4% năm 1990 xuống còn 16‰ năm 2008-2009. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong sơ sinh còn giảm chậm so với mức độ giảm của tử vong trẻ em, theo ƣớc tính của UNICEF hằng năm Việt Nam vẫn có khoảng 18.000 trẻ sơ sinh tử vong. Các cuộc điều tra gần đây cũng cho thấy có sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền và nhóm dân tộc: Tỷ suất TVSS ở nông thôn miền núi cao hơn hai lần so với nông thôn đồng bằng, ở các dân tộc ít ngƣời cao hơn gấp 2 lần so với ngƣời Kinh.
Nguyên nhân do mẹ không đi khám thai lần nào chiếm 15% TVSS toàn quốc và 25% TVSS tại các tỉnh miền núi, tỷ lệ tƣơng ứng đối với đẻ tại nhà là 20% và 31,5%; Nguyên nhân do cơ sở y tế chậm cấp cứu, chuyển tuyến cũng chiếm tới 11% tổng số trƣờng hợp TVSS. Đẻ non/nhẹ cân là nguyên nhân hàng đầu gây TVSS, chiếm 38,1% TVSS toàn quốc và 48,6% TVSS các tỉnh miền núi, ngạt sơ sinh chiếm tỷ lệ tƣơng ứng là 17,5% và 24,9%, nhiễm khuẩn là 13,7% và 15,8% và dị tật bẩm sinh 8,8% và 10,7% [6]. Tỷ suất tử vong mẹ ở Việt Nam trong những năm gần đây đã giảm mạnh, từ mức 233/100.000 trẻ đẻ sống năm 1990 xuống còn 69/100.000 trẻ đẻ sống năm 2009 đến năm 2010 là 59/100. Tuy nhiên vẫn còn sự chênh lệch rất lớn về tỷ số tử vong mẹ (TVM) giữa các vùng miền.
Kết quả điều tra tử vong mẹ ở Việt Nam 2006-2007 do Viện Chiến lƣợc và Chính sách y tế - Bộ Y tế thực hiện cho thấy tỷ số TVM ở khu vực miền núi (108/100.000 trẻ đẻ sống) vẫn cao hơn khoảng 3 lần so với vùng đồng bằng (36/100. Tƣơng tự, điều tra TVM tại 14 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên do Trƣờng Đại học Y khoa Thái Bình tiến hành cho thấy tỷ số TVM là 119/100.000 trẻ đẻ sống, cao gần gấp khoảng hai lần so với toàn quốc, trong đó cao 5 nhất là vùng Tây Bắc (242/100.000 trẻ đẻ sống), tiếp đến là Tây Nguyên (108/100.000 trẻ đẻ sống) và Đông Bắc (86/100. Đặc biệt, các hoạt động đảo bảo làm mẹ an toàn vẫn còn nhiều khó khăn đối với các khu vực khó khăn, các gia đình nghèo, ngƣời dân tộc. Các can thiệp chăm sóc trƣớc, trong và sau sinh vẫn cần đƣợc ƣu tiên hàng đầu trong chiến lƣợc chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các quốc gia trên thế giới.
Các khái niệm về chăm sóc trƣớc, trong và sau sinh [2] Chăm sóc trước sinh là những dịch vụ đáp ứng việc chăm sóc sản khoa cho ngƣời phụ nữ tính từ thời điểm có thai cho đến khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai đƣợc an toàn, sinh con đƣợc khỏe mạnh và đƣợc chuẩn bị nuôi dƣỡng tốt. CSTS vẫn là một trong những chiến lƣợc đƣợc sử dụng rộng rãi nhất để cải thiện sức khỏe bà mẹ trong thời kỳ mang thai tại các quốc gia đang phát triển. Mục đích của CSTS là đảm bảo bà mẹ và em bé khỏe mạnh sau thời kỳ mang thai. Chăm sóc trong sinh là theo dõi và chăm sóc bà mẹ nhằm tiên lƣợng cuộc đẻ để có hƣớng xử trí thích hợp đảm bảo cho quá trình sinh đẻ đƣợc an toàn.
Chăm sóc sau sinh là những chăm sóc tính từ sau khi cuộc đẻ đƣợc hoàn tất đến 42 ngày sau đẻ, phát hiện những bất thƣờng để xử trí, hƣớng dẫn bà mẹ chăm sóc sơ sinh khỏe mạnh. Một số những bất thƣờng có thể xảy ra trong quá trình mang thai hoặc trong quá trình chuyển dạ cần phải phát hiện sớm và xử lý kịp thời vì những bất thƣờng này xảy ra đe dọa đến tính mạng của cả bà mẹ và thai nhi. Những bất thƣờng này có thể xảy ra từ từ hoặc cũng có thể xảy ra đột ngột và diễn biến nhanh chóng dẫn đến tử vong cho thai hoặc có khi cho cả mẹ lẫn thai nhi hoặc là để lại những tổn thƣơng hay những di chứng nặng nề cho ngƣời mẹ. Nếu có chảy máu trong ba tháng đầu phải nghĩ đến các khả năng có thể xảy ra nhƣ: dọa sảy thai và sảy thai, chửa ngoài tử cung, chửa trứng hoặc thai chết trong tử cung Nếu có chảy máu xảy ra trong ba tháng cuối và trong chuyển dạ thì cần phải xem máu đó có phải là do rau tiền đạo, rau bong non hoặc dọa vỡ và vỡ tử cung hay không để xử trí kịp thời.
6 Nếu chảy máu sau đẻ thì thƣờng là đờ tử cung, sót rau, chấn thƣơng đƣờng sinh sản nhƣ: rách âm hộ, rách âm đạo, rách tầng sinh môn, rách cổ tử cung và vỡ tử cung Phải chú ý đến một số vấn đề khác nhƣ choáng trong sản khoa, tăng huyết áp, rối loạn tăng huyết áp trong thai nghén, tiền sản giật và sản giật, đẻ nhiều thai, các ngôi thế bất thƣờng. đặc biệt là những tƣ vấn và quản lý và xử trí cho những phụ nữ bị nhiễm HIV khi có thai và khi sinh cũng nhƣ các trẻ em có bà mẹ bị nhiễm HIV. Những biểu hiện nặng cần phải chuyển trẻ sơ sinh đến bệnh viện: Bỏ bú hoặc bú kém, co giật, ngủ li bì khó đánh thức hoặc vật vã kích thích; thở nhanh khó thở, cánh mũi phập phồng; thở rên; thóp phồng; nôn tiêu chảy, ỉa phân có máu, chƣớng bụng; mụn mủ nhiễm khuẩn nặng ở da, mủ mắt hay nhiễm khuẩn rốn; sốt hoặc hạ nhiệt độ; vàng da sớm và kéo dài. Nội dung về chăm sóc trƣớc, trong và sau sinh [5] 2.