ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và những tiến bộ về y học nhƣng trên thế giới vẫn còn khoảng 1 tỷ ngƣời bị thiếu dinh dƣỡng, 1 tỷ ngƣời khác lại đối mặt với thừa dinh dƣỡng [15]. Trong các đối tƣợng thiếu và thừa dinh dƣỡng thì đối tƣợng ngƣời bệnh trong bệnh viện là gặp phổ biến và đáng đƣợc quan tâm. Tình trạng dinh dƣỡng bệnh nhân điều trị nội trú trong bệnh viện đã đƣợc mô tả trong nhiều nghiên cứu ở trong nƣớc và ngoài nƣớc trong thời gian gần đây. Tình trạng thiếu dinh dƣỡng gặp ở tất cả các nhóm bệnh nhƣ bệnh phổi mãn tính, bệnh tim mạch, đột quỵ, suy thận mãn.
Thiếu dinh dƣỡng liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong tại bệnh viện, làm tăng nguy cơ các biến chứng nhƣ nhiễm khuẩn, viêm phổi, chậm liền sẹo sau phẫu thuật, suy hô hấp,…đặc biệt nguy cơ tăng cao ở ngƣời cao tuổi, Do vậy, thiếu dinh dƣỡng làm tăng thời gian nằm viện và chi phí y tế [6]. Ở các nƣớc phát triển, không còn vấn đề suy dinh dƣỡng ngoài cộng đồng thì suy dinh dƣỡng trong bệnh viện vẫn là hiện tƣợng thƣờng gặp. Tại hội nghị Tổ chức Y tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dƣơng lần thứ 63 diễn ra từ ngày 24-28 tháng 9 năm 2012 tại Hà Nội, trong nhiều vấn đề đƣợc nêu ra thì vấn đề dinh dƣỡng là một trong những vấn đề quan trọng trong chƣơng trình nghị sự của Uỷ ban khu vực Thái Bình Dƣơng. Dinh dƣỡng là tiền đề cho sức khoẻ và phòng ngừa bệnh tật.
Hội nghị đã đề cập tới nhiều chủ đề về sức khỏe nhƣ: suy dinh dƣỡng, béo phì, sức khoẻ bà mẹ trẻ em…và đề ra nhiều biện pháp cân thiệp trong đó can thiệp dinh dƣỡng đƣợc coi là biện pháp hữu hiệu nhất để cắt giảm chi phí chăm sóc sức khỏe [15]. Ở các bệnh viện nƣớc ta vấn đề suy dinh dƣỡng trong điều trị lâu nay còn ít quan tâm đặc biệt trong điều kiện hiện nay lĩnh vực khoa học dinh dƣỡng lâm sàng còn chƣa phát triển [4]. Vai trò của dinh dƣỡng tiết chế vẫn chƣa đƣợc các nhà Quản lý bệnh viện, các bác sỹ và cán bộ nhân viên y tế khác đánh giá đúng vị trí trong nâng cao chất lƣợng điều trị tại các bệnh viện. Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng của bệnh nhân trong bệnh viện chƣa đƣợc quan tâm đúng mức.
Việc đánh giá tình trạng dinh dƣỡng của bệnh nhân từ khi nhập viện và trong quá trình điều trị bằng chỉ số BMI, các chỉ số sinh hóa và các công cụ khác chƣa đƣợc sử dụng rộng rãi trong bệnh viện, nếu có thì công cụ đánh giá phổ biến thông qua sử dụng các chỉ số nhân trắc (chiều cao, cân nặng và chỉ số BMI). Việc triển khai đánh giá tình trạng dinh dƣỡng chủ yếu đƣợc tiến hành ở một số nghiên cứu nhƣ: Nghiên cứu của Viện Dinh Dƣỡng năm 2006 tại bệnh viện Bạch Mai, nghiên cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dƣơng năm 2010…. Qua khảo sát tình hình dinh dƣỡng và báo cáo tổng kết về dinh dƣỡng tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Bình cho thấy các bệnh viện chƣa quan tâm đến vấn đề dinh dƣỡng của bệnh nhân, các hoạt động mới chỉ dừng lại ở hình thức căng tin phục vụ nấu ăn cho toàn bệnh viện, chƣa có các đánh giá, nghiên cứu tình trạng dinh dƣỡng của bệnh nhân khi nhập viện và trong quá trình điều trị nội trú tại bệnh viện. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng dinh dƣỡng, tình hình ăn uống của ngƣời bệnh và một số yếu tố liên quan tại khoa nội bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình năm 2013”.
Nhằm xác định thực trạng dinh dƣỡng trong bệnh viện, mô tả tình hình ăn uống của bệnh nhân đồng thời bƣớc đầu tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dƣỡng của ngƣời bệnh. Qua đó, tạo cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách đề ra các giải pháp thực hiện trong thời gian tới về dinh dƣỡng tiết chế, nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng chăm sóc dinh dƣỡng cho ngƣời bệnh trong bệnh viện, giảm tỷ lệ suy dinh dƣỡng, giảm tỷ lệ mắc bệnh kéo dài và tử vong. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá thực trạng dinh dƣỡng và mô tả tình hình ăn uống của bệnh nhân điều trị tại các khoa hệ nội của bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình năm 2013.
Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu năng lƣợng trƣờng diễn của bệnh nhân điều trị tại các khoa hệ nội của bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình năm 2013. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Ăn uống là một trong các bản năng quan trọng nhất của con ngƣời và các loại động vật. Ăn uống không chỉ là đáp ứng nhu cầu cấp thiết hàng ngày, mà còn là biện pháp để duy trì sức khoẻ và tăng tuổi thọ [25]. Hypocrate - Danh y thời cổ đã nêu lên vai trò ăn uống trong việc bảo vệ sức khoẻ.
Trong việc sử dụng ăn uống để trị bệnh ông viết “thức ăn cho bệnh nhân phải là một trong phƣơng tiện để điều trị và trong phƣơng tiện điều trị phải có chất dinh dƣỡng (DD)” hoặc “hạn chế ăn thiếu chất bổ rất nguy hiểm đối với những ngƣời mắc bệnh mãn tính” [20]. Trạng thái dinh dƣỡng của cơ thể: 1. Trạng thái cân bằng dinh dưỡng của cơ thể Hình 1: Cân bằng dinh dưỡng của cơ thể (Nguồn: giáo trình dinh dưỡng tiết chế, Viện Dinh Dưỡng, 2012) 1. Trạng thái mất cân bằng dinh dưỡng của cơ thể: Dinh dƣỡng là một yếu tố quan trọng liên quan tới nguyên nhân sinh bệnh và quá trình điều trị các loại bệnh có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao.
Dinh dƣỡng không hợp lý là nguyên nhân sinh bệnh của nhiều bệnh tật nhƣ: Xơ vỡ động mạch, béo phì, ung thƣ,. Các loại thực phẩm và số lƣợng thực phẩm tiêu thụ có liên quan tới một số bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhƣ: Bệnh tim mạch, đột quỵ, đái tháo đƣờng, một số bệnh ung thƣ,. Trạng thái thiếu hụt hoặc dƣ thừa chất dinh dƣỡng xuất hiện khi khẩu phần dinh dƣỡng không cân bằng với nhu cầu dinh dƣỡng đặc hiệu cho một trạng thái sức khoẻ tốt. Trong phạm vi “khẩu phần an toàn”, cơ chế “điều chỉnh cân bằng” của cơ thể đƣợc thực hiện hiệu quả.
Khi tình trạng thiếu hụt hoặc dƣ thừa dinh dƣỡng xuất hiện, cơ thể con ngƣời tự điều chỉnh để tạo ra một trạng thái cân bằng mới mà không làm suy giảm chức năng sinh học của cơ thể. Khi vƣợt quá phạm vi khẩu phần an toàn, các cơ quan trong cơ thể điều chỉnh để thích ứng với những thay đổi của khẩu phần bằng cách giảm chức năng hoặc thay đổi khối lƣợng/trọng lƣợng. Khi dự trữ dinh dƣỡng cạn kiệt hoặc khẩu phần DD không đủ cho nhu cầu chuyển hoá hàng ngày của cơ thể, trạng thái thiếu dinh dƣỡng (TDD) xuất hiện. Thiếu hụt DD có thể do thiếu ăn, rối loạn tiêu hoá và hấp thu, chuyển hoá kém hoặc do cơ thể tăng cƣờng bài tiết các chất dinh dƣỡng thiết yếu.
Trẻ em, phụ nữ mang thai, đối tƣợng thu nhập thấp, bệnh nhân nội trú, ngƣời già là những đối tƣợng có nguy cơ TDD cao nhất. Tình trạng TDD làm cho cơ thể chậm tăng trƣởng và phát triển, thiếu sức đề kháng với nhiễm trùng, chậm lành vết thƣơng, tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong [7]. Hình 2: Quá trình diễn biến của thiếu hụt dinh dưỡng trong cơ thể (Nguồn:Giáo trình dinh dưỡng tiết chế, Viện Dinh Dưỡng, 2012) Sơ đồ trên đã thể hiện “một chuỗi các giai đoạn” dẫn đến xuất hiện TDD và giúp xác định giai đoạn đánh giá để pháp hiện vấn đề phát sinh và những can thiệp kịp thời để ngăn ngừa thiếu hụt DD sớm. Thừa dinh dƣỡng cũng đem lại nhiều vấn đề về dinh dƣỡng nhƣ béo phì, đái tháo đƣờng, bệnh xơ vỡ động mạch, cao huyết áp và các bệnh rối loạn chuyển hoá.
Đánh giá thiếu hụt DD bao gồm việc xem xét tiền sử lâm sàng và chế độ ăn uống, khám thực thể, xét nghiệm cận lâm sàng, xem xét việc sử dụng các loại thuốc điều trị [19]. Nhiều yếu tố giúp đo lƣờng nguy cơ về DD nhƣ: Khẩu phần thực phẩm và DD, tình trạng tâm lý xã hội, trạng thái cơ thể khi bệnh tật, thay đổi về sinh hoá khi mắc bệnh, tình trạng sử dụng thuốc trong quá trình điều trị. Vai trò của dinh dƣỡng trong điều trị. Đã từ lâu con ngƣời biết đến ăn uống rất quan trọng đối với bệnh nhân vì nó cung cấp các chất dinh dƣỡng cần thiết cho ngƣời bệnh vai trò DD trong điều trị thể hiện: Tác dụng trực tiếp đến nguyên nhân gây bệnh nhƣ thiếu vitamin, thiếu các chất vi lƣợng, các chất khoáng, suy dinh dƣỡng, đái tháo đƣờng, viêm loét hành tá tràng, xơ vỡ động mạch….
tăng sức đề kháng chung của cơ thể chống lại các bệnh tật đặc biệt trong nhiễm độc, nhiễm khuẩn dài ngày. Sức đề kháng của cơ thể biểu hiện bằng các phản ứng đối với bệnh tật. nếu cơ thể suy nhƣợc, ăn uống kém thì dễ bị bệnh. Nếu bệnh nhân khoẻ mạnh ăn ngon miệng phục hồi nhanh và khó bị tái nhiễm [4].
Ảnh hƣởng đến cơ chế điều hoà thần kinh thể dịch: Dinh dƣỡng điều trị cũng rất ảnh hƣởng đến các cơ chế điều hoà thần kinh thể dịch. Sự rối loạn của cơ chế điều hòa này ảnh hƣởng đến quá trình diễn biến của bệnh và thƣờng gây ra các rối loạn chức năng ở một số cơ quan và hệ cơ quan. Sự rối loạn chức năng này thƣờng kèm theo các thay đổi cơ thể học [7]. Một số công trình nghiên cứu đã chứng minh là chất và lƣợng thức ăn ăn vào ảnh hƣởng rất lớn đến hoạt tính của các nội tiết tố: Cho ăn nhiều glucid làm tăng hoạt tính adrenalin; ăn nhiều protid làm tăng hoạt tính của thyroxin.
Hoạt tính của adrenalin còn phụ thuộc vào lƣợng vitamin C ở thƣợng thận. Nếu cho ngƣời bệnh ăn giảm glucid để giảm sự tăng glucose máu và cho ăn nhiều bữa gần nhau để đƣờng huyết khỏi giảm xuống nhanh thì các triệu chứng tăng toan cũng sẽ mất đi. Qua dẫn chứng trên, có thể thấy thành phần hóa học và chế độ ăn có ảnh hƣởng rất rõ đến cơ thể. Đại đa số ngƣời bệnh bị tăng toan dịch vị là những ngƣời thuộc loại thần kinh yếu.