Chương 1: “Giới thiệu”. Tổng quan chung về tình hình hệ thống y tế Lâm Đồng; nêu lý do hình thành đề tài; vấn đề nghiên cứu, vấn đề quản lý, mục tiêu nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. -8- - Chương 2: “Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu”. Giới thiệu các khái niệm then chốt và các nghiên cứu trước đây từ đó xây dựng nên các giả thuyết và mô hình nghiên cứu cho đề tài.
- Chương 3: “Phương pháp nghiên cứu”. Xây dựng các bước cho quy trình nghiên cứu, tiến hành thiết kế thang đo, quá trình hiệu chỉnh, đánh giá các thang đo, các khái niệm nghiên cứu. Trình bày phương pháp thu thập dữ liệu, cách xử lý dữ liệu để kiểm định các giả thuyết và mô hình đã đề ra. - Chương 4: “Kết quả nghiên cứu”.
Trình bày kết quả sau nghiên cứu thực nghiệm bao gồm kết quả lấy mẫu, thống kê mẫu, kết quả phân tích dữ liệu và bàn luận, so sánh về kết quả có được. - Chương 5: “Kết luận và kiến nghị”. Tóm tắt kết quả nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu ở góc độ lý thuyết, thực tiễn. Đề xuất giải pháp, kiến nghị cho các nhà quản lý để nâng cao chất lượng đội ngũ bác sĩ tại các Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng làm cho bệnh nhân ngày càng tin tưởng, hài lòng hơn, qua đó bệnh nhân cũng trung thành và giảm tình trạng vượt tuyến.
Chương này cũng trình bày những hạn chế của nghiên cứu và đưa ra những kiến nghị, hướng nghiên cứu tiếp theo. -9- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. ĐẶC THÙ NGHỀ Y Nghề y nói chung, bác sĩ nói riêng là một nghề rất quan trọng trong xã hội luôn gắn trách nhiệm cao trước sức khỏe và tính mạng con người. Vào thế kỷ XVIII, Lê Hữu Trác đã nói rằng “nghề y là nghề cao quý, nghề giúp nước, giúp dân, là nghề nhân thuật, nghề liên quan đến tính mệnh con người.
Vì vậy, người làm nghề y không thể là người kém cỏi về tài năng cũng như đạo đức”. Bộ Chính Trị (2005) cũng đã nói “Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt…”. Một số đặc trưng nổi bật và quan trọng của nghề y cụ thể như sau: - Nghề y là một nghề có nguy cơ mắc bệnh cao: Bác sĩ thường xuyên tiếp xúc với người đau ốm, bệnh tật đặc biệt là những người mắc bệnh truyền nhiễm như viêm gan siêu vi, HIV/AIDS, lao phổi. - Nghề y là một nghề đòi hỏi có phẩm chất đạo đức và tinh thần trách nhiệm cao, vì luôn phải đối diện giữa sự sống và cái chết nên cần phải hết sức thận trọng nếu không sẽ rất dễ xảy ra sai sót trong quá trình phục vụ, khám và điều trị cho bệnh nhân dẫn đến những hậu quả thương tâm, đáng tiếc cho bệnh nhân.
- Nghề y là một nghề nhạy cảm với những dư luận xã hội trước áp lực của nền kinh tế thị trường và sự cám dỗ của đồng tiền. Đôi khi bác sĩ cũng có những cân nhắc giữa lợi ích bản thân và lợi ích người bệnh. - Nghề y là một nghề học suốt đời: Bệnh tật biến thiên vạn hóa theo thời gian đòi hỏi y học cũng phải phát triển theo, do đó đội ngũ y - bác sĩ phải luôn cập nhật kiến thức, nắm bắt những khám phá y học mới nhất. - Hạnh phúc riêng có của nghề y: Khi cứu sống một người qua khỏi cơn nguy kịch, chữa khỏi một căn bệnh phức tạp hoặc kết thúc thành công một ca mổ khó… 2.
MỘT SỐ THUẬT NGỮ Khám bệnh: Là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận (Quốc Hội, 2009). -10- Chữa bệnh: Là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh (Quốc Hội, 2009). Cơ sở khám và chữa bệnh: Là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh (Quốc Hội, 2009). Bệnh nhân: Là những người có tình trạng bất thường về sức khỏe kéo dài từ một ngày trở lên, tình trạng bất thường này do người được hỏi nhận thức trả lời hoặc do xác định của nhân viên y tế (Dự, 2007).
Bác sĩ: Gồm ba loại (Bộ Y Tế, 2014): - Bác sĩ hạng I: Là viên chức chuyên môn cao nhất của từng lĩnh vực chuyên môn y tế, tổ chức chỉ đạo, thực hiện công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. - Bác sĩ hạng II: Là viên chức chuyên môn y tế, chủ trì và thực hiện công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân. - Bác sĩ hạng III: Là viên chức chuyên môn y tế, làm công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân. DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ Y TẾ 2.
Dịch vụ Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa nào chung và hoàn toàn được chấp nhận về khái niệm dịch vụ. Một số nhà nghiên cứu trước đã đưa ra định nghĩa về dịch vụ như Zeithaml & Bitner (2000) định nghĩa dịch vụ là quá trình bao gồm các hoạt động, hành vi tương tác giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong đợi của khách hàng, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng. Như vậy, giá trị dịch vụ thực sự được tạo ra khi khách hàng sử dụng và tiêu dùng nó, giá trị này sẽ tiếp tục được tạo ra giữa nhà cung cấp và khách hàng trong suốt quá trình thụ hưởng của khách hàng. -11- Đặc tính của dịch vụ: Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt có nhiều đặc thù hay tính chất giúp ta phân biệt với các loại hàng hóa hữu hình khác.
Theo Hùng & Loan (2011) thì dịch vụ có các tính chất đặc trưng: - Tính vô hình: Dịch vụ không có hình dạng cụ thể và nắm bắt được như sản phẩm. - Tính không thể tách rời: Việc tạo thành dịch vụ và sử dụng nó xảy ra đồng thời, không thể tách thành hai giai đoạn là giai đoạn tạo thành và giai đoạn sử dụng. - Tính không đồng nhất: Dịch vụ được thực hiện ở các mức độ khác nhau và được xếp hạng từ rất kém cho đến rất hoàn hảo. - Tính chất không thể tồn trữ: Dịch vụ không thể tồn trữ vì nó sẽ biến mất nếu không được sử dụng, do đó không thể cất hay lấy ra dùng hoặc đem bán.
Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Dịch vụ y tế Là dịch vụ chỉ toàn bộ các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, con người mà kết quả tạo ra là các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng gia tăng của cộng đồng và con người về chăm sóc sức khỏe (Bộ Y Tế - Tổ chức y tế thế giới, 2001). Đặc điểm dịch vụ y tế: Theo Bộ Y tế - Tổ chức Y tế Thế giới (2001), dịch vụ y tế có các đặc điểm sau: - Dịch vụ y tế gồm 2 yếu tố: Tiêu thụ và đầu tư, sức khỏe là kết quả trực tiếp của việc tiêu thụ phúc lợi đồng thời người lao động có sức khỏe sẽ đóng góp cho sản xuất và đầu tư. - Chi phí chăm sóc sức khỏe có thể cao hơn so với thu nhập, sức khỏe kém sẽ làm giảm khả năng kiếm sống, khi bị bệnh người bệnh ít tính toán khả năng kinh tế mà dồn hết sức để chữa bệnh, thậm chí cầm cố cả gia sản để điều trị, số khác có tiền thường yêu cầu phục vụ rất cao.
-12- - Người bệnh trực tiếp tham gia sản xuất cũng như tiêu thụ dịch vụ y tế. - Quyết định dịch vụ y tế có khi không hồi phục được (thầy thuốc quyết định chữa bệnh, còn bệnh nhân phải trả tiền, có khi phải trả tiền nhưng vẫn bi đát). - Dịch vụ y tế không hướng đến tự do cạnh tranh. - Sự cạnh tranh và hành nghề phải có tiêu chuẩn và cần có cả uy tín và sự tin cậy (bệnh nhân nào cũng muốn đến nơi chữa bệnh tốt dù chi phí rất cao).
Mục đích của y tế là làm sao đảm bảo sức khỏe cho người dân ít vào bệnh viện. - Dịch vụ y tế hoạt động ở bệnh viện không phải bao giờ cũng lãi, có khi lỗ nhưng vẫn phải duy trì lợi ích của xã hội và cộng đồng. - Đo lường lợi nhuận ở bệnh viện không có tiêu chuẩn, không rõ ràng, ở bệnh viện không khuyến khích lợi nhuận. Phân loại dịch vụ y tế: Có nhiều cách để phân loại dịch vụ, như của Bowen (1990) dịch vụ được phân loại theo ba nhóm: (1) dịch vụ yêu cầu liên hệ hay tiếp xúc thường xuyên giữa khách hàng và nhà cung cấp; (2) dịch vụ thích ứng theo yêu cầu từng cá nhân; (3) dịch vụ yêu cầu liên hệ hay tiếp xúc ở mức trung bình và bán thích ứng theo nhóm khách hàng.
(1992) cũng phân dịch vụ thành 3 nhóm: dịch vụ chuyên môn (như y tế) có mức độ tập trung cao vào con người, dịch vụ đại chúng (như hàng không) tập trung nhiều vào trang thiết bị, và dịch vụ cửa hàng ở vị trí trung gian của hai loại này. Ngoài ra cũng còn nhiều cách phân loại dịch vụ khác trong đó chủ yếu được phân loại theo các tiêu chí của Lovelock (1983), dựa theo các tiêu chí này tác giả phân loại dịch vụ y tế như Bảng 2.1: Phân loại dịch vụ y tế Tiêu chí Dịch vụ y tế Bản chất hoạt động Đối tượng trực tiếp Con người dịch vụ Bản chất hoạt động dịch vụ Vô hình Không chính thức, cần có sự gắn Mối quan hệ với Loại quan hệ kết lâu dài. khách hàng Bản chất cung cấp dịch vụ Dịch vụ riêng rẻ. Sự sáng tạo, thay Mức độ đáp ứng nhu cầu khách hàng Thấp đổi theo nhu cầu Mức độ thay đổi theo yêu cầu khách khách hàng Thấp hàng Sự thay đổi về nhu cầu Hẹp Bản chất nhu cầu Hạn chế trong việc cung cấp dịch vụ Thường xuyên quá tải.
Nơi cung cấp dịch vụ Cơ sở y tế, phòng khám, bệnh viện Phương thức cung cấp dịch vụ Quá trình khám và chữa bệnh Bản chất sự tương tác giữa bác sĩ - bệnh nhân.