Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Đại cương về tâm thần phân liệt. Tâm thân phân liệt là một bệnh loạn thân nặng, tiên triên từ từ có khuynh hướng mạn tính, căn nguyên chưa rõ, nhân cách bi biến đổi theo kiểu phân liệt, làm cho người bệnh tách đần ra khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm trở nên khô lạnh, học tập và làm việc sút kém [1]. Bệnh tâm thần phân liệt đã được biết từ lâu nhưng đến thế kỷ thứ XVIII mới được mô tả trong y văn.
Năm 1857 nhà tâm thầm học người Pháp Morel B.A (1809 — 1873) lần đầu tiên mô tả một loại bênh tâm thần ở người trẻ tuổi và thường dẫn đến sa sút, gọi là bệnh sa sút sớm. Năm 1863 nhà tâm thần học người Đức Khalbaum K.L lại mô tả một bệnh tâm thần biếu hiện chủ yếu rỗi loạn tâm lý vận động gọi là bệnh căng trương lực (catatom1a). Năm 1892 nhà tâm thần học Pháp Magran (1835 — 1816) mô tả bệnh loạn thần hoang tưởng mạn tính mà một số dẫn đến sa sút và vô cảm. Năm 1989 nhà tâm thần học Đức Karaepelin E.
đã thống nhất các thể bệnh độc lập được tác giả trên mô tả thành một loại bệnh riêng gọi là bệnh sa sút sớm. Năm 1911 nhà tâm thần học Bleuler E (Thụy Sỹ) đưa ra kết luận lý thú về các rối loạn chủ yếu của bệnh là sự chia cắt trong các mặt hoạt động tâm thần, đó là lý do để ông đưa ra thuật ngữ mới: Bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia). Theo ông nét đặc trưng của bênh tâm thần phân liệt gồm 4 chữ A (rỗi loạn sự liên tưởng: Association, réi loan loai cam xtc: Affect, tu ky: Autism va tinh hai chiéu trai ngược : Ambevalence) [15]. mô tả một số triệu chứng hàng đầu, được ong coi la đặc trưng cho tâm thần phân liệt (TTPL): là một bệnh tâm thần nặng, có tính chất 15 tiến triển, căn nguyên chưa rõ ràng, làm biến đổi nhân cách của bệnh nhân theo kiểu phân liệt, biểu hiện bằng sự mất thống nhất trong các hoạt động tâm thần, mat dan liên hệ với thực tại xung quanh, cảm xúc ngày càng khô lạnh, tắc phong ngày càng kỳ dị khó hiểu, tư duy ngày càng lệch lạc trầm trọng cả về hình thức lẫn nội dung [16] [15].
Như vậy, các tác giả đều thống nhất rằng: Bệnh TTPL làm mất tính thống nhất, chia cắt các hoạt động tâm thần, bệnh có xu hướng tiến triển mãn tính, làm biến đổi nhân cách của ngời bệnh theo hướng thiếu hoà hợp và tự kỷ, cùn mòn cảm xúc, tác phong kỳ dị khó hiểu. Người bệnh tâm thần phân liệt là người bệnh được chân đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt. Khái niệm quản lý có tính đa nghĩa, có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp và có sự nhận thức khác nhau theo thời đại, xã hội, nghề nghiệp nên cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Henri Fayol (1841-1925): Quan ly 1a du báo, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều phối và kiểm soát.
Mary Parker Follet (1868-1933): Quản lý là nghệ thuật làm cho các công việc được thực hiện bởi mọi người. Harold Koontz (1909-1984): Quản lý là một nghệ thuật làm cho mọi công việc được thực hiện thông qua các nhóm người trong một tô chức chính thức. Vậy quản lý là sự tác động của đối tượng quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường [7]. Quản lý người bệnh TTPL sẽ bao gồm: thu thập thông tin và nhu cầu của người bệnh, xây dựng kế hoạch trợ giúp người bệnh, thực hiện kế hoạch trợ giúp người bệnh, theo dõi, rà soát việc thực hiện kế hoạch trợ giúp người bệnh và đánh gia [5].
Chăm sóc người bệnh TTPL là hoạt động bao gồm: Hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hắp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiệt, tư thê, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý, hỗ trợ điêu trị 16 và phòng tránh cac nguy co ti méi trudng [6]. Người chăm sóc người bệnh TTPL ngoại trú là cá nhân, thường là thành viên trong gia đình người bệnh, người đã đành phần lớn thời gian trong việc chăm sóc, cung cấp hỗ trợ các hoạt động hàng ngày, kiểm tra thuốc men cho người bệnh [3 1]. Tình hình dịch tễế học 1. Tình hình dịch tễ học thế giới Từ xa xưa, những người bệnh tâm thần thường được coi là do ma quỷ, thánh thần và không được điều trị, họ thường bị nhốt trong các nhà lao, trại giam.
Cùng với sự phát triển của khoa học, xã hội, nền y học nói chung và tâm thần học nói riêng, quan niệm về bệnh tâm thần và sức khỏe tâm thần ngày càng đúng đắn. Năm 1948 Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra định nghĩa về sức khỏe, bao gôm sự thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, thì quan niệm về sức khỏe tâm thần mới được hiểu rõ ràng hơn, phạm vi các rối loạn về tâm thần được mở rộng hơn [1] [4] [15]. Trên thế giới, tỷ lệ các bệnh tâm thần tăng dần từ sau đại chiến thế giới lần thứ 2 bởi các yếu tố [4] [15] [1]: + Tỷ lệ chết giảm, dân số tăng, tuổi thọ tăng. Ví dụ: Tăng dân số ở độ tuổi nguy cơ đối với bệnh tâm thần phân liệt (độ tuổi 15-45) nên tỷ lệ bệnh này tăng.
Tăng dân số ở người cao tuổi nên tỷ lệ các bệnh tâm thần ở người già tăng. + Sự biến động lớn về tâm lý- xã hội. Trong hơn 40 năm qua do van đề công nghiệp hoá, đô thi hoa. Vi du: Tỷ lệ các rỗi loạn tâm thần tăng liên quan đến stress, rỗi loạn hành vi và phạm pháp ở thanh thiếu niên, lạm dụng rượu, nghiện ma tuý, tram cam, tu sat.
Ở Hoa Kỳ, theo nghiên cứu của Darrell Regier: tỷ lệ mắc trong đời các rối loạn tâm thần là 32,2% dân số, ít nhất 15% dân số Hoa ky bi rỗi loạn tâm thần trong 1 năm.Kaplan, tỷ lệ mắc trong đời 1 số bệnh tâm thần như sau [4]: Bệnh Tâm thần phân liệt 1,5% Rối loạn trầm cảm 1 cực 6,0% Rối loạn trầm cảm 2 cực 1,0% 17 Nghiện rượu 13,3% Nghiện ma tuý 5,9% Rối loạn tâm căn 3-8% Theo thông cáo báo chí của WHO năm 2001. Trên thế giới cứ 4 người thì có một người sẽ mắc chứng rỗi loạn tâm thần hoặc rối loạn thần kinh vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Thế giới có khoảng 24 triệu người mắc bệnh tâm thần phân liệt, mỗi năm trong số đó có khoảng: 1 triệu người tự sát, 10-20 triệu người có ý định tự sát [4]. Tình hình dịch tễ học ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ năm 1964 đến nay đã có một số công trình điều tra cơ bản về bệnh tâm thần và thu được một số kết quả.
Song do phương pháp, công cụ và đặc biệt là tiêu chuẩn chân đoán bệnh tâm thần ở mỗi thời kỳ có khác nhau nên tỷ lệ một số rối loạn tâm thần có thay đổi [4]. Năm 1981 Trần Văn Cường, Nguyễn Khánh Hợi điều tra tâm thần ở xã Hoà Bình. Nguyễn Thị Mai và cộng sự điều tra về các bệnh tâm thần tại phường Lê Đại Hành, Hà Nội. Nguyễn Văn Siêm và cộng sự điều tra Handicap tâm thần ở 4 xã (phường) Hà Nội.
Các công trình này cho tỷ lệ mắc bệnh tâm thần dao động 18- 20% dân số [4]. Năm 1994 được sự giúp đỡ của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, ngành tâm thần Việt Nam đã tiến hành điều tra tâm thân tại 3 điểm : xã Tự Nhiên, xã Quất Động thuộc huyện Thường Tín, xã Tiên Kiên, huyện Lâm thao — Phú Thọ và xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng động. Cho tỷ lệ một số rối loạn tâm thần như sau [4]: Bệnh TTPL: 0,3% - 1% dân số. Rối loạn cảm xúc trầm cảm:2,0% - 3,0% dân số.
Rối loạn tâm căn ( lo âu, ám ảnh, suy nhược thần kinh): 4. Nhân cách bệnh: 0,5% - 1,0%. Nghiện ma tuý: 0,15% - 1,5%. Rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên (độ tuổi 10 — 17) là: 0,3% - 3,7%.
Loạn thần do chấn thương sọ não: 0,15% - 0,2%. Chậm phát triển tâm thần: 0,5% - 1,0%. Điều tra dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần thường gặp tại cộng đồng từ năm 2000-2002 cho thấy [4]: Bảng 1. Tình hình dịch tễ học các bệnh tâm than ở Việt Nam STT Tên bệnh Tỷ lệ % 1 Tâm thân phân liệt.
2,8 4 Lo âu 2,7 5 Cham phat trién tri tué 0,63 6 RLTT chân thương sọ não 0,51 7 RL hành vi thanh thiêu niên 0,9 8 Mat tri tudi già 0,88 9 Lam dụng rượu 5,3 10 Nghién ma tuy 0,3 1. Tình hinh dich té hoc tai tinh Nam Định Theo điều tra dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần thường gặp của Bệnh viện Tâm thần Nam Định. Tỷ lệ mắc bệnh tâm thân phân liệt trên địa bàn tỉnh là 0,31%. Tính đến năm 2017 trong danh sách quán lý và theo dõi của Bệnh viện Tâm than Nam Định có 4235 người bệnh tâm thần phân liệt [17].
Tinh hinh dich té hoc tai tinh Nam Dinh STT Don vi Số xã | Người bệnh TTPL đến 12/2016 1 | TP.Nam Định 25 467 2_ | Giao Thủy 22 400 3 | Mỹ Lộc 11 180 19 4 | Vụ Bản 18 347 5_ | Xuân Trường 20 378 6 | Truc Ninh 21 500 7 | Hải Hậu 35 602 8 | Nghia Hưng 25 502 9_ | Nam Trực 20 460 10 |Y Yên 32 489 Tổng 229 4325 1. Nguyên nhân gây bệnh tâm than phân liệt Hiện nay chưa xác định được nguyên nhân đơn độc nào gây bệnh TTPL, tuy nhiên có một vài yếu tố cho thấy có liên quan tới việc phát bệnh [1] [15]: + Căng thắng thần kinh: Các căng thăng thần kinh thường là tiền đề cho việc khởi phát bệnh tâm thần phân liệt. Những căng thắng thần kinh đóng vai trò như biến cố thúc đây người dễ mắc bệnh. Người bệnh TTPL thường trở nên lo âu, cáu kỉnh và không thể tập trung tư tưởng.
Điều này gây rắc rối cho công việc và học hành, làm cho các mối quan hệ dần suy tàn. + Dùng rượu bia và các chất ma túy khác: Dùng rượu, bia và các chất ma túy độc hại khác có thể khơi dậy triệu chứng loạn thần ở những người dễ mắc bệnh TTPL. Mặc dù dùng chất ma túy không gây ra bệnh TTPL, việc sử dụng nó có liên quan mạnh mẽ tới tái phát bệnh.