Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cấu trúc giải phẫu, sinh lý xoang 1. Cấu trúc giải phẫu xoang Hệ thống xoang mặt có 10 xoang xếp thành 5 đôi, cân đối 2 bên hố mũi, gồm các xoang: xoang trán, xoang hàm, xoang sàng trước, xoang sàng sau và xoang bướm [7].1: Sơ đồ vị trí các xoang (Nguồn Atlas giải phẫu [46]) 1. Xoang hàm Xoang hàm là một hình tháp nằm trong xương hàm trên, gồm 3 mặt, 1 nền, 1 đỉnh [7].
- Các mặt của xoang hàm: + Mặt trên: là sàn ổ mắt rất mỏng và dễ vỡ. Có ống xương cho thần kinh và mạch máu chạy qua, có khoảng 14% ống này không kín để lộ thần kinh dưới ổ mắt ngay dưới lớp niêm mạc xoang, khi viêm xoang rất dễ bị tổn thương gây nhức ở mặt trước xoang hàm. + Mặt sau: dày, ngăn cách xoang với hố chân bướm hàm. 4 + Mặt trước ngoài: là mặt phẫu thuật, có lỗ thần kinh dưới ổ mắt.
- Đáy xoang hàm: Đáy xoang hàm tương ứng với mặt ngoài của hốc mũi, đáy xoang được chia làm hai phần. + Phần dưới: mỏng, được cấu tạo bởi mỏm hàm của xương cuốn dưới và mỏm hàm xương khẩu cái khớp lại với nhau. + Phần trên: có lỗ thông với xoang hàm, vùng tương ứng với vùng khuyết xương nằm giữa chân bám của xương cuốn dưới và mỏm móc chỉ có niêm mạc che phủ. Phần trên có ống lệ tỵ đi từ trên xuống.
- Đỉnh của xoang: thường kéo dài ra đến tận củ gò má xương hàm. - Lỗ thông xoang hàm: lỗ xoang hàm trên thực tế là một ống nhỏ, rộng khoảng 2,5mm, có thể coi là một phần cấu trúc của hệ thống mê đạo sàng. ống này có cấu tạo phía trên là thành dưới bọt sàng, phía dưới là phần hàm của mỏm móc. Ở tư thế bình thường để đầu thẳng thì lỗ này nằm ở 1/4 sau trên tức là ở góc sau của xoang.
Do vậy cơ chế dẫn lưu của xoang hàm hoàn toàn không phải chỉ đơn thuần là dẫn lưu cơ học qua chỗ thấp nhất. Ống này đổ vào hốc mũi qua vùng phức hợp lỗ ngách. Lỗ thông xoang có ý nghĩa rất quan trọng trong bệnh học viêm xoang, lỗ này ở trẻ nhỏ dễ phù nề. Nếu nó bị tắc nghẽn sẽ cản trở sự dẫn lưu của xoang, dẫn tới rối loạn hoạt động của hệ thống lông nhầy gây viêm xoang [23], [39].
Giải phẫu xoang sàng Là một phức hợp có từ 5 - 15 hốc xương nhỏ, gọi là các tế bào sàng, nằm trong mỗi khối bên xương sàng. Khối bên có hình hộp chữ nhật, gắn vào mảnh ngang xương sàng ở phía trên. Mỗi tế bào sàng có lỗ dẫn lưu riêng đường kính khoảng 1-2mm. Các xoang sàng nằm trong một hành lang bằng 5 xương hẹp, ngăn cách với hốc mắt bằng một vách xương rất mỏng (xương giấy), dễ bị tổn thương trong phẫu thuật [7].
Phân chia xoang sàng: theo Mouret phân chia căn cứ vào lỗ đổ của xoang sàng vào khe giữa hay khe trên và vị trí của các lỗ này so với chân bám của xương cuốn giữa [7]. * Nhóm xoang sàng trước Nằm ở phía dưới và phía trước của khe giữa, dẫn lưu vào ngách giữa vùng phễu sàng, liên quan với lỗ thông xoang hàm. Phía trước có một TB rất to, tạo thành một ụ nằm ngang tầm với cuốn giữa ngay trước đầu cuốn, dưới ngách trán gọi là tế bào đê mũi “aggernasi”, đây là mốc để vào xoang sàng trước. Phía trong và dưới ổ mắt có một tế bào lớn khác gọi là tế bào Haller, đây là một mốc cần chú ý để tránh làm tổn thương vào hốc mắt [7].
* Nhóm xoang sàng sau Vị trí của nhóm này nằm ở phía trên và sau của khe giữa, nó bị rễ cuốn mũi trên chia làm hai nhóm: - Nhóm sàng sau chính: gồm các tế bào đổ vào khe trên, tế bào sàng này bao giờ cũng có. Tế bào sàng sau có kích thước lớn gọi là tế bào trước bướm hay tế bào Onodi (có ở khoảng 12% - 42% cá thể), tế bào này phát triển vào trong thân xương bướm và liên quan trực tiếp với dây thần kinh thị giác. Có trường hợp tế bào này chùm lên dây thần kinh thị giác và ống thị giác lồi vào thành bên của tế bào Onodi. Động mạch cảnh trong cũng có thể lồi vào thành bên của tế bào này [7].
- Nhóm sàng sau phụ: gồm các tế bào sàng đổ vào khe cực trên, các tế bào sàng này có thể có hoặc không. Giải phẫu xoang trán Xoang trán có hình tháp tam giác. Mặt trước là da vùng trán, mặt sau liên quan đến màng não (thuỳ thái dương), mặt dưới là trần ổ mắt và hốc mũi, 6 mặt trong là vách liên xoang trán. Ống mũi trán dài 15-20mm, có đường kính khoảng 2-4mm, chung cho cả sàng trước.
Do dài, nhỏ, ngoằn nghèo nên tuy xoang trán ở cao nhưng dẫn lưu lại kém dễ bị tắc ống mũi trán [7], [56]. - Thành trước: ứng với vùng lông mày, không vượt quá khuyết trên ổ mắt. - Thành sau: mỏng và tương ứng với màng não của hố não trước. - Thành trong: là vách ngăn giữa 2 xoang trán.
- Đáy xoang trán thu hẹp lại để xuyên qua hệ thống các hốc sàng ở phía dưới và phía sau bằng ngách mũi trán, đổ vào khe giữa. Lỗ thông của xoang hẹp và dễ bị tắc bởi tế bào Agger nasi, thông bào phát triển và cuốn giữa. Xoang trán được phát triển hoàn toàn ở độ tuổi 15-20 tuổi. Giải phẫu xoang bướm Là một hốc rỗng nằm trong xương bướm hình hộp, kích thước thay đổi.
Có hai xoang bên phải và bên trái ngăn cách nhau bởi một vách xương, lỗ xoang bướm nằm ở mặt trước đổ vào hốc mũi qua ngách bướm sàng, nằm giữa đuôi cuốn mũi trên và vách mũi. Liên quan các thành như sau [7]: - Phía trước: liên tiếp với tế bào Onodi của xoang sàng. - Phía dưới: tạo nên vòm mũi họng. - Phía trên: liên quan nội sọ: màng não, dải thị giác, chéo thị giác.
- Phía ngoài: tương ứng từ sau ra trước có xoang tĩnh mạch hang, ống thị giác. Mảnh nền của cuốn mũi giữa Mảnh nền cuốn mũi giữa được xem là phần quan trọng nhất của cuốn mũi giữa, chia xoang sàng thành xoang sàng trước và xoang sàng sau, vị trí thay đổi tuỳ thuộc vào sự thông khí của xoang sàng [7], [56]. Phức hợp lỗ ngách hay phức hợp lỗ thông khe Phức hợp lỗ ngách là một vùng quan trọng, mấu chốt trong bệnh sinh của bệnh lý viêm mũi xoang. Đây có thể coi là vùng ngã tư dẫn lưu của các 7 xoang trán, xoang hàm, những tế bào sàng trước vào hốc mũi.
Kennedy và Donald C. Lanza thì đỉnh của nó là phía trước khe giữa, nơi mà bờ trước trên của cuốn giữa tiếp giáp với thành bên mũi, giới hạn ở trong là cuốn giữa, ở ngoài là thành bên mũi, mỏm móc chia vùng nầy ra hai phần theo hai hướng trước sau [7], [56]. Phức hợp lỗ ngách được giới hạn bởi các xoang sàng trước, cuốn mũi giữa và mỏm móc, có lỗ đổ vào của các xoang hàm, xoang trán và xoang sàng trước [7], [56]. Tóm lại: - Tất cả các xoang ở mặt đều liên quan và thông với hố mũi, bệnh học tại mũi và bệnh học xoang có mối liên hệ nhân quả.
- Các lỗ thông xoang tự nhiên đều không thuận lợi cho việc dẫn lưu, dễ ứ đọng và tắc nghẽn khi bị viêm nhiễm rất dai dẵng, khó chữa. - Các xoang trước đổ vào khe giữa khi khám khe nầy thấy có mủ ứ đọng là dấu hiệu chẩn đoán viêm xoang trước. - Vị trí liên hoàn của các xoang mặt và lỗ thông xoang, khi có sự viêm nhiễm xoang nầy sẽ lan sang các xoang khác tạo nên viêm nhiều xoang. - Liên quan các xoang với các cơ quan lân cận như: ổ mắt, răng hàm số 4, 5, 6, 7 hàm trên, có thể lan vào hốc mắt, viêm xoang do răng.
Sinh lý học xoang Xoang là các hốc rỗng trong xương mặt. Thành trong các xoang được lót bởi lớp niêm mạc lông chuyển, tiết nhầy, các lớp niêm mạc tiết nhầy luôn luôn di chuyển theo một chiều về phía lỗ thông, chúng hoạt động như những cây chỗi, quét các chất nhầy, vật lạ, xác vi khuẩn ra khỏi các xoang qua lỗ thông đưa ra hốc mũi. Bình thường các xoang đều thoáng, khô và sạch, niêm mạc tiếp xúc trực tiếp với oxy ngoài môi trường [7]. 8 Chức năng của xoang : - Hấp thu oxy từ môi trường không khí.
- Làm ẩm không khí trước khi vào phổi bởi lớp niêm mạc lót. - Sưởi ấm không khí trước khi vào phổi, luôn cân bằng với nhiệt độ cơ thể. - Làm nhẹ trọng lượng khối xương đầu mặt. - Đảm bảo sự cân bằng cần thiết giữa mặt và sọ, làm cho mặt được cử động thuận lợi hơn.
- Cộng hưởng âm thanh. Đại cương về viêm xoang 1. Định nghĩa Viêm xoang là tình trạng viêm niêm mạc xoang cạnh mũi, gây tắc các lỗ thông xoang, nhất là những xoang nhỏ như xoang sàng [3], [49]. Phân loại viêm xoang Có nhiều phương pháp phân loại viêm xoang như sau [3], [49]: - Theo diễn tiến lâm sàng: + Viêm xoang cấp: < 4 tuần.
+ Viêm xoang mạn tính: ≥12 tuần. - Theo vị trí giải phẫu, xoang bị ảnh hưởng: viêm xoang hàm, viêm xoang sàng, viêm xoang bướm, viêm xoang trán. - Theo mức độ ảnh hưởng ngoài xoang (biến chứng, không biến chứng). - Theo tác nhân gây bệnh: viêm xoang do virus, vi khuẩn, nấm.
Phân loại viêm xoang theo lâm sàng * Viêm xoang cấp Là bất kỳ quá trình nào của viêm xoang kéo dài từ < 4 tuần. Điều trị viêm xoang cấp bao gồm nội khoa và ít khi phẫu thuật 9 * Viêm xoang mạn tính Là viêm xoang kéo dài hơn 12 tuần do viêm xoang cấp không điều trị hoặc điều trị không đầy đủ. Lúc này quá trình viêm làm huỷ cơ chế tự nhiên không thể đảo ngược được mà phải can thiệp phẫu thuật làm sạch chất nhầy mủ ra khỏi xoang. Thông khí và dẫn lưu xoang phải được thiết lập để làm giảm triệu chứng viêm xoang mạn.
Ngày nay, viêm xoang mạn tính được phân loại như sau [47], [48]: - Theo diễn biến lâm sàng: các trường hợp viêm xoang mạn tính được phân chia thành: + Viêm xoang mạn tính, dai dẳng: điều trị nội khoa không dứt. + Viêm xoang mạn tính hồi viêm: mỗi năm có trên 4 đợt hồi viêm với các triệu chứng cấp tính nặng nề, ngoài ra vẫn còn tồn tại những triệu chứng tối thiểu, âm ỉ, khó chịu.