Tổng quan luận án

Luận án Tiến sĩ Y học với đề tài "Đặc điểm cấu trúc và can thiệp các bất thường van mũi trong qua nội soi", chuyên ngành Tai Mũi Họng (mã số: 62720155), được nghiên cứu sinh Nguyễn Triều Việt thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lâm Huyền Trân, bảo vệ năm 2016.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Khu vực van mũi trong (Internal Nasal Valve - INV) là đoạn cắt ngang hẹp nhất của đường dẫn khí qua mũi, chiếm trên 50% tổng trở kháng của toàn bộ đường hô hấp trên. Mặc dù các phẫu thuật can thiệp vách ngăn và cuốn mũi dưới truyền thống đã được áp dụng từ lâu để điều trị triệu chứng nghẹt mũi, nhiều trường hợp bệnh nhân vẫn không đạt được sự cải thiện thông khí như mong đợi do tổn thương bệnh lý tại khu vực van mũi trong bị bỏ sót. Theo các khảo sát y văn được tác giả tổng hợp, trong số bệnh nhân nghẹt mũi mạn tính, có 13% trường hợp ghi nhận tình trạng sụp vách mũi bên (với 88% xảy ra ở một bên).

Mặc dù các phương pháp thăm dò chức năng và chẩn đoán hình ảnh như đo sóng âm mũi (acoustic rhinometry), đo khí áp mũi (rhinomanometry) và chụp cắt lớp vi tính (CT scan) đã được đưa vào ứng dụng từ thập niên 1980, cho đến thời điểm thực hiện luận án vẫn chưa có kỹ thuật nào được công nhận là tiêu chuẩn vàng. Việc đánh giá giải phẫu van mũi trong chủ yếu dựa vào quan sát nội soi và các nghiệm pháp lâm sàng.

Về mặt điều trị, việc chỉnh hình van mũi trong chỉ bắt đầu phổ biến từ cuối thập niên 1980, chủ yếu thông qua đường mổ hở (external/exonasal approach). Kỹ thuật can thiệp van mũi trong qua nội soi (endonasal endoscopic approach) còn rất mới trên thế giới, mới chỉ được báo cáo trên mô hình xác bởi Clark Huang (2006) và trên lâm sàng bởi Bassiouny (2010) với cỡ mẫu nhỏ gồm 17 bệnh nhân. Tại Việt Nam, các công trình trước đó (như tác giả Nguyễn Thị Thanh Thúy) chủ yếu sử dụng đường mổ hở. Chưa có công trình nào trong nước nghiên cứu hệ thống về đặc điểm giải phẫu - hình thái học van mũi trong qua nội soi, ứng dụng phần mềm đồ họa chuyên dụng như AutoCAD 2007 để lượng hóa trị số góc van mũi trong, cũng như đánh giá hiệu quả can thiệp đồng thời ba cấu trúc (vách ngăn, vách mũi bên và cuốn mũi dưới) hoàn toàn qua nội soi.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 03 mục tiêu cụ thể:

  1. Khảo sát đặc điểm cấu trúc van mũi trong qua nội soi theo phân loại của Miman.
  2. Xác định trị số góc van mũi trong qua nội soi bằng phần mềm AutoCAD 2007.
  3. Đánh giá hiệu quả can thiệp các bất thường cấu trúc của vách mũi bên, vách ngăn và cuốn mũi dưới tại khu vực van mũi trong gây nghẹt mũi qua nội soi bằng bảng điểm NOSE và nội soi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bao gồm 02 nhóm:
    • Nhóm chứng (không nghẹt mũi): Nhóm người tình nguyện trưởng thành (sinh viên) không có tiền sử và không có than phiền nghẹt mũi mạn tính, phục vụ việc khảo sát giải phẫu và xác định trị số góc sinh lý.
    • Nhóm bệnh lý (nhóm can thiệp): Bệnh nhân nghẹt mũi mạn tính do bất thường các cấu trúc tại khu vực van mũi trong (lệch vách ngăn, quá phát cuốn mũi dưới, sụp vách mũi bên) có chỉ định và đồng ý phẫu thuật nội soi.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu được triển khai tại cơ sở chuyên khoa Tai Mũi Họng tại Việt Nam, hoàn thành và nghiệm thu vào năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong và ngoài nước

Tác giả đã tổng thuật các hướng tiếp cận chính trong y văn về giải phẫu, sinh lý bệnh, lượng giá lâm sàng và phẫu thuật van mũi trong:

  1. Định danh giải phẫu và sinh lý bệnh van mũi trong:

    • Hướng dẫn đồng thuận lâm sàng của Hội Tai Mũi Họng và Phẫu thuật Đầu Cổ Hoa Kỳ (Rhee et al., 2010), cùng các công trình của André (2010), Cole (1980s), Bloching: Định nghĩa van mũi trong là vùng cắt ngang tạo trở kháng lớn nhất đối với luồng khí hít vào. Vùng này được giới hạn phía trong bởi sụn vách ngăn, phía trên-bên bởi rìa đuôi sụn cánh mũi bên trên (upper lateral cartilage - ULC), phía dưới bởi sàn mũi/gờ trước hố lê, phía bên là tam giác trống mô sợi - mỡ và phía sau bởi đầu cuốn mũi dưới.
    • Về động học, Sanford (2009) mô tả cơ chế sụp vách mũi bên do áp lực âm trong khoang mũi tạo ra khi hít vào (hiệu ứng Bernoulli). Hiện tượng này gia tăng khi sụn cánh mũi bên trên bị mềm hoặc mất liên kết nâng đỡ.
    • Về cấu trúc vách ngăn, Cole (1980s) chứng minh qua đo khí áp mũi rằng độ lệch vách ngăn chỉ khoảng 3 mm tại khu vực van mũi trong đã làm thay đổi trở kháng mũi nhiều hơn bất kỳ vị trí nào khác trong hốc mũi.
    • Khái niệm "thân vách ngăn" (septal turbinate/septal swell body) được Elwany (1999), Wexler (2006), Gupta và Setlur (2010) mô tả là vùng niêm mạc và mô cương dày lên ở phía trên-trước cuốn dưới, có khả năng gây hẹp góc van mũi trong tương tự như lệch vách ngăn phần cao.
  2. Khảo sát hình thái và đo đạc góc van mũi trong qua nội soi:

    • Miman và cộng sự (2006): Nghiên cứu trên 124 người (248 bên mũi) bằng ống soi 0°, phân loại cấu trúc van mũi trong thành 06 dạng hình thái giải phẫu: (1) góc nhọn, (2) góc tù, (3) lõm đuôi, (4) lồi đuôi, (5) xoắn đuôi, và (6) góc hình thành bởi thân vách ngăn. Tác giả sử dụng phần mềm Scion Image for Windows để đo góc nhưng chỉ xác định được góc ở 89/248 bên (chiếm 38%), không tính được góc ở dạng góc tù, dạng xoắn đuôi và dạng tạo bởi thân vách ngăn.
    • Ichimura và cộng sự (Nhật Bản): Khảo sát 116 người bằng phương pháp in ảnh nội soi ra giấy và đo thủ công, ghi nhận góc trung bình là 28,3° (từ 16° đến 45°), đo được ở 160/232 bên (69%).
    • Suh và cộng sự (2008) ghi nhận trị số góc van mũi trong trung bình là 19,x° trên 24 ảnh nội soi; Bloom (2012) ghi nhận trị số 9,x° ở người da trắng.
  3. Công cụ đánh giá lâm sàng và lượng giá triệu chứng:

    • Nghiệm pháp Cottle (Heinberg & Kern, 1973; Maurice H. Cottle): Kéo má sang bên để mở rộng góc van mũi.
    • Nghiệm pháp Cottle cải tiến và nghiệm pháp que thăm dò mô phỏng mảnh ghép (probing simulation): Constantinides (1998), Fung (2004), André (2004, 2010) sử dụng que tăm bông nâng đỡ sụn cánh mũi bên trên để tiên lượng kết quả phẫu thuật đặt mảnh ghép.
    • Bảng điểm đánh giá triệu chứng nghẹt mũi NOSE (Nasal Obstruction Symptom Evaluation Scale): Stewart và cộng sự (2004) phát triển thang đo chất lượng cuộc sống đặc hiệu cho bệnh lý nghẹt mũi gồm 5 tiêu chí với thang điểm Likert 0-4.
  4. Kỹ thuật phẫu thuật chỉnh hình van mũi:

    • Sheen (1984): Đưa ra kỹ thuật đặt mảnh ghép dài (spreader graft) qua đường mổ hở nhằm mở rộng góc van mũi trong và gia cố vách mũi bên.
    • Kỹ thuật đặt mảnh ghép qua đường trong mũi: André (2004, 2010) báo cáo trên 89 bệnh nhân (120 bên mũi), ứng dụng 3 phương pháp cố định: tạo khoang khít dạng ống (tight-fitting tunnel fixation), dùng keo sinh học, và khâu xuyên da - vách ngăn.
    • Kỹ thuật nội soi: Clark Huang (2006) thực hiện trên 8 xác tươi; Bassiouny (2010) báo cáo đặt mảnh ghép dài qua nội soi trên 17 bệnh nhân sống để điều trị ngáy và nghẹt mũi.
    • Phân loại can thiệp vách ngăn: Hong-Ryul Jin và cộng sự (2007) phân loại lệch vách ngăn qua nội soi theo 3 mức độ và 4 nhóm vị trí; Friedman phân độ quá phát cuốn dưới thành 3 độ.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án giải quyết các khoảng trống:

  • Cung cấp dữ liệu nhân trắc học giải phẫu về tỷ lệ các dạng hình thái van mũi trong theo phân loại Miman trên người Việt Nam không có triệu chứng nghẹt mũi.
  • Ứng dụng phần mềm thiết kế vi tính AutoCAD 2007 để chuẩn hóa việc đo trị số góc van mũi trong trên hình ảnh nội soi chuẩn, khắc phục hạn chế đo thủ công hoặc các phần mềm xử lý ảnh chưa tối ưu trước đây.
  • Xây dựng và đánh giá quy trình can thiệp phối hợp toàn diện ba cấu trúc (đặt mảnh ghép dài chỉnh hình van mũi trong, chỉnh hình vách ngăn, và thu nhỏ cuốn mũi dưới bằng đốt điện đơn cực) thực hiện hoàn toàn qua phẫu thuật nội soi nội mũi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên lý thuyết khí động học của đường dẫn khí trên mũi và nguyên lý cơ sinh học của phức hợp van mũi trong. Luồng khí đi qua khoang mũi chịu sự chi phối của tiết diện dòng chảy và trở kháng cơ học. Khi diện tích tiết diện van mũi trong bị thu hẹp do biến dạng giải phẫu hoặc khi vách mũi bên bị yếu sụn nâng đỡ, áp lực âm khi hít vào sẽ làm thành mũi bên xẹp vào trong, gây tắc nghẽn thông khí nghiêm trọng.

Khung phân tích của luận án kết hợp:

  • Phân loại hình thái học van mũi trong của Miman (2006).
  • Phân loại vị trí và mức độ lệch vách ngăn qua nội soi của Hong-Ryul Jin (2007).
  • Phân độ quá phát cuốn mũi dưới của Friedman và đáp ứng co mạch tại chỗ sau 15 phút.
  • Thang đo chất lượng cuộc sống đặc hiệu NOSE của Stewart (2004).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp kết hợp mô tả cắt ngang và nghiên cứu can thiệp lâm sàng tiến cứu, tự đối chứng trước - sau:

Tiêu chí Nhóm không nghẹt mũi mạn tính Nhóm can thiệp phẫu thuật
Mục đích Xác định tỷ lệ các dạng cấu trúc và trị số góc van mũi trong sinh lý Đánh giá hiệu quả chỉnh hình van mũi trong, vách ngăn, cuốn dưới qua nội soi
Tiêu chuẩn lựa chọn Người trưởng thành, không có than phiền nghẹt mũi, không tiền sử phẫu thuật mũi Bệnh nhân nghẹt mũi mạn tính do bất thường van mũi trong/vách ngăn/cuốn dưới
Thiết bị thu thập Ống nội soi cứng 0°, đường kính 4,0 mm, hệ thống camera phẫu thuật Hệ thống phẫu thuật nội soi, dao điện đơn cực, dụng cụ phẫu thuật vách ngăn
Phương pháp đo góc Chụp hình nội soi ở tư thế chuẩn, đo góc bằng phần mềm AutoCAD 2007 Đo góc bằng AutoCAD 2007 trước mổ và sau mổ 12 tuần
Thang đo lâm sàng Khảo sát hình thái Miman, mức độ lệch vách ngăn, tình trạng cuốn dưới Nghiệm pháp Cottle, Cottle cải tiến, que thăm dò, bảng điểm NOSE
Thời điểm theo dõi Thu thập dữ liệu một lần tại thời điểm khám Đánh giá trước mổ và sau mổ tại 01 tuần, 04 tuần, 12 tuần

Kỹ thuật can thiệp phẫu thuật qua nội soi

  • Chỉnh hình vách ngăn và lấy mảnh ghép: Rạch niêm mạc vách ngăn qua nội soi, bóc tách vạt dưới sụn/xương, chỉnh sửa phần vách ngăn vẹo lệch, lấy sụn tứ giác tự thân tạo hình thành mảnh ghép dài (spreader graft) có kích thước phù hợp.
  • Đặt mảnh ghép dài: Dưới quan sát nội soi, bóc tách tạo khoang giữa sụn vách ngăn và sụn cánh mũi bên trên tại vị trí góc van mũi trong, đặt mảnh ghép dài vào khoang và cố định bằng kỹ thuật khoang khít (tight-fitting tunnel fixation) hoặc chỉ khâu tự tiêu xuyên vách ngăn nhằm mở rộng góc van và gia cố thành mũi bên.
  • Can thiệp cuốn mũi dưới: Đốt điện đơn cực dưới niêm mạc cuốn dưới (monopolar submucosal diathermy) ở các trường hợp quá phát cuốn dưới có hồi phục kém hoặc phì đại mô mềm, bảo tồn tối đa niêm mạc biểu mô phủ.

Nguồn dữ liệu và xử lý thống kê

Số liệu được thu thập trực tiếp qua bệnh án nghiên cứu, phiếu khảo sát NOSE, hình ảnh nội soi kỹ thuật số và bản vẽ vector đo góc trên phần mềm AutoCAD 2007. Xử lý số liệu bằng các thuật toán thống kê y học, sử dụng phép kiểm T (paired sample t-test) để so sánh điểm số NOSE và trị số góc van trước - sau can thiệp, kiểm định Chi-bình phương đối với các biến định loại, với mức ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.


Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Tác giả trình bày tổng quan về lịch sử nghiên cứu cấu trúc van mũi trong chuyên ngành Tai Mũi Họng, chỉ rõ mâu thuẫn giữa mức độ phổ biến của phẫu thuật vách ngăn - cuốn dưới truyền thống và tỷ lệ thất bại trong cải thiện lưu lượng khí do không xử trí tổn thương van mũi trong. Xác lập tính cấp thiết của việc nghiên cứu đặc điểm giải phẫu trên người Việt Nam và ứng dụng công nghệ đồ họa máy tính (AutoCAD 2007) cùng kỹ thuật nội soi để can thiệp toàn diện các yếu tố bệnh lý.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này gồm 8 tiểu mục phân tích chi tiết:

  • Hệ thống hóa giải phẫu học ba chiều của van mũi ngoài và van mũi trong; mối quan hệ giữa sụn tứ giác, sụn cánh mũi bên trên, sụn cánh mũi bên dưới và tam giác trống mô sợi - mỡ.
  • Động học luồng khí, sinh lý áp lực âm trong thì hít vào và sinh lý bệnh của hiện tượng sụp vách mũi bên.
  • Phân tích cơ chế gây hẹp van mũi trong do 3 nhóm nguyên nhân chính: lệch vách ngăn (đặc biệt lệch phần cao và phần trước), phì đại cuốn mũi dưới (và hiện tượng phì đại bù trừ đối bên vẹo vách ngăn), sụp sụn cánh mũi bên trên.
  • Tổng thuật 6 dạng hình thái van mũi trong theo Miman (2006) và các nghiên cứu đo góc của Ichimura, Suh, Bloom.
  • Điểm luận các nghiệm pháp lâm sàng (Cottle, Cottle cải tiến, que thăm dò mô phỏng) và thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống NOSE.
  • Phân tích ưu thế và hạn chế của các phương pháp phẫu thuật: đường mổ hở, đường rạch trong mũi kinh điển và đường tiếp cận qua nội soi; kỹ thuật tạo hình mảnh ghép dài (spreader graft) của Sheen, Clark Huang, Bassiouny và André.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu thực nghiệm:

  • Tiêu chuẩn chọn mẫu, tiêu chuẩn loại trừ cho nhóm sinh viên không nghẹt mũi và nhóm bệnh nhân có chỉ định can thiệp.
  • Quy trình chuẩn hóa hình ảnh nội soi: Sử dụng ống soi 0° đường kính 4 mm, định vị đầu ống soi tại vị trí không gây biến dạng mô mềm, chụp ảnh kỹ thuật số khi bệnh nhân ở trạng thái nghỉ không hô hấp gắng sức.
  • Quy trình đo góc van mũi trong trên phần mềm AutoCAD 2007: Xác định trục sụn vách ngăn và trục sụn cánh mũi bên trên, dựng hai đường thẳng tiếp tuyến để xác định góc đỉnh tại khu vực van mũi trong.
  • Quy trình phẫu thuật nội soi ba bước: (1) phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn lấy mảnh ghép sụn tự thân, (2) đặt và cố định mảnh ghép dài dưới nội soi mở rộng van mũi trong, (3) đốt điện đơn cực dưới niêm mạc cuốn dưới.
  • Quy trình đánh giá kết quả sau mổ tại 01 tuần, 04 tuần và 12 tuần bằng thăm khám nội soi và bảng điểm NOSE.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu được tác giả trình bày qua hệ thống 36 bảng số liệu và các hình ảnh nội soi lâm sàng:

1. Đặc điểm cấu trúc và góc van mũi trong ở nhóm không nghẹt mũi:

  • Phân bố các dạng hình thái van mũi trong theo phân loại Miman trên đối tượng người Việt Nam bình thường (bảng 3.2).
  • Trị số góc van mũi trong đo được bằng AutoCAD 2007 ở các dạng hình thái giải phẫu bên phải, bên trái và trị số chung (bảng 3.3, 3.4, 3.5).
  • Tỷ lệ các trường hợp đo được góc và các dạng không thể xác định đỉnh góc chính xác (như dạng góc tù, dạng xoắn đuôi, dạng tạo bởi thân vách ngăn).
  • Tình trạng vách ngăn và mức độ phì đại cuốn dưới trước và sau khi xịt thuốc co mạch 15 phút trên người bình thường (bảng 3.6, 3.7, 3.8, 3.9).

2. Kết quả can thiệp trên nhóm bệnh nhân:

  • Phân bố tuổi, giới tính và nguyên nhân phẫu thuật (bảng 3.10, 3.11, 3.31).
  • Tỷ lệ dương tính của các nghiệm pháp lâm sàng trước mổ: Nghiệm pháp Cottle, Cottle cải tiến và nghiệm pháp que thăm dò mô phỏng mảnh ghép (bảng 3.13, 3.14, 3.15).
  • Đặc điểm giải phẫu trước mổ: Vị trí và mức độ lệch vách ngăn, mức độ quá phát cuốn dưới trước và sau thử nghiệm co mạch (bảng 3.19, 3.20, 3.21, 3.22).
  • Phân bố các loại can thiệp phẫu thuật: Tỷ lệ phối hợp đặt mảnh ghép dài, chỉnh hình vách ngăn và can thiệp cuốn dưới (bảng 3.12).
  • Thay đổi trị số góc van mũi trong trước và sau phẫu thuật trên phần mềm AutoCAD 2007 ở nhóm có đặt mảnh ghép dài (bảng 3.32).
  • Đánh giá sự cải thiện triệu chứng nghẹt mũi qua điểm số NOSE tại các mốc thời gian 01 tuần, 04 tuần và 12 tuần sau phẫu thuật (bảng 3.24, 3.25, 3.26, 3.27, 3.28, 3.29). Kiểm định T-test cho thấy sự giảm điểm NOSE có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) tại các thời điểm theo dõi (bảng 3.30).
  • Kết quả phục hồi niêm mạc, kiểm soát cuốn dưới và vách ngăn sau 12 tuần (bảng 3.35, 3.36).

Chương 4: Bàn luận

Chương Bàn luận đối chiếu các phát hiện của luận án với các nghiên cứu trong y văn qua 13 bảng so sánh tổng hợp (bảng 4.1 đến 4.13):

  • So sánh phân bố nhân khẩu học, tỷ lệ các dạng van mũi trong theo Miman giữa nghiên cứu này với công trình gốc của Miman (2006).
  • Bàn luận về tỷ lệ xác định được góc van mũi trong và so sánh trị số góc đo được bằng AutoCAD 2007 với kết quả của Miman (Scion Image), Ichimura (đo thủ công), Suh và Bloom.
  • Phân tích nguyên nhân không đo được trị số góc ở các dạng giải phẫu đặc thù (dạng thân vách ngăn dày tạo diện tiếp xúc phẳng thay vì điểm góc, dạng xoắn đuôi tạo hai góc liên tiếp).
  • Bàn luận về giá trị chẩn đoán và độ nhạy của nghiệm pháp que thăm dò mô phỏng mảnh ghép so với nghiệm pháp Cottle kinh điển trong chỉ định đặt spreader graft.
  • Phân tích kết quả phẫu thuật nội soi: So sánh hiệu quả mở rộng góc van mũi, kỹ thuật cố định mảnh ghép dạng ống khít so với khâu xuyên vách ngăn/keo sinh học của André, Bassiouny.
  • Bàn luận mức độ cải thiện điểm NOSE và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau can thiệp phối hợp so với các báo cáo quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Dữ liệu giải phẫu van mũi trong ở người Việt Nam: Cung cấp bộ số liệu thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam về tỷ lệ phân bố 6 dạng hình thái van mũi trong theo tiêu chuẩn phân loại quốc tế của Miman trên nhóm người không có triệu chứng nghẹt mũi.
  2. Phương pháp luận đo đạc nhân trắc học hình ảnh: Chuẩn hóa quy trình ứng dụng phần mềm thiết kế vi tính AutoCAD 2007 để đo lường trị số góc van mũi trong trên hình ảnh nội soi, đưa ra phương pháp xác định góc khách quan, có độ chính xác cao hơn so với đo đạc thủ công trên giấy.
  3. Lý giải cơ chế giải phẫu gây nghẹt mũi phức hợp: Khẳng định vai trò của phức hợp ba thành phần (vách ngăn, vách mũi bên, cuốn dưới) tại khu vực van mũi trong, chứng minh rằng sự phì đại thân vách ngăn hoặc suy yếu sụn cánh mũi bên trên là nguyên nhân thực thể độc lập gây thất bại cho các phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn đơn thuần.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn lâm sàng

  1. Quy trình khám và chẩn đoán trước mổ: Ứng dụng thành công nghiệm pháp que thăm dò mô phỏng mảnh ghép kết hợp nội soi và nghiệm pháp co mạch 15 phút, giúp phẫu thuật viên đánh giá chính xác vị trí tắc nghẽn và cá thể hóa chỉ định can thiệp cho từng cấu trúc.
  2. Quy trình phẫu thuật nội soi can thiệp van mũi trong toàn diện: Triển khai thành công kỹ thuật phẫu thuật nội soi đặt mảnh ghép dài (spreader graft) tự thân từ sụn vách ngăn kết hợp chỉnh hình vách ngăn và đốt điện đơn cực cuốn dưới trong cùng một thì phẫu thuật. Phương pháp này bảo tồn tối đa cấu trúc giải phẫu ngoài mũi, không để lại sẹo trên da, hạn chế biến dạng sống mũi và giảm thiểu tổn thương niêm mạc.
  3. Đánh giá kết quả bằng thang đo chuẩn hóa: Sử dụng thang điểm NOSE để lượng hóa sự cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau mổ một cách khoa học, chứng minh hiệu quả giảm nghẹt mũi rõ rệt và duy trì ổn định sau 12 tuần theo dõi.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đưa quy trình nội soi đánh giá van mũi trong và các nghiệm pháp lâm sàng (Cottle cải tiến, que thăm dò mô phỏng) vào quy trình thăm khám thường quy cho các bệnh nhân có than phiền nghẹt mũi mạn tính trước khi quyết định phẫu thuật.
  • Khuyến cáo áp dụng kỹ thuật đặt mảnh ghép dài qua nội soi phối hợp chỉnh hình vách ngăn và cuốn dưới tại các cơ sở chuyên khoa Tai Mũi Họng có trang thiết bị phẫu thuật nội soi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Thời gian theo dõi sau phẫu thuật: Luận án đánh giá kết quả can thiệp tại các mốc 01 tuần, 04 tuần và 12 tuần sau mổ. Đây là khoảng thời gian đủ để đánh giá sự liền thương và cải thiện triệu chứng ban đầu, nhưng chưa đánh giá được độ bền cơ học lâu dài của mảnh ghép sụn tự thân sau nhiều năm.
  • Giới hạn kỹ thuật đo góc: Việc xác định trị số góc van mũi trong trên hình ảnh nội soi 2D bằng phần mềm AutoCAD 2007 chỉ thực hiện được ở các dạng hình thái giải phẫu có đỉnh góc rõ ràng (góc nhọn, lõm đuôi, lồi đuôi); chưa đo lường được ở các dạng phức tạp như dạng thân vách ngăn phì đại, dạng góc tù hoặc dạng xoắn vặn sụn.
  • Phạm vi can thiệp giải phẫu: Luận án tập trung chuyên biệt vào khu vực van mũi trong, chưa mở rộng can thiệp các bất thường giải phẫu phức tạp của van mũi ngoài (như sụp sụn cánh mũi bên dưới cần ghép mảnh cánh dơi - alar batten graft).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng theo dõi đánh giá kết quả phẫu thuật ở các mốc thời gian dài hơn (từ 1 đến 3 năm sau mổ) để kiểm tra tính ổn định lâu dài của cấu trúc van mũi trong và mức độ hấp thu của mảnh ghép sụn.
  • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tái tạo hình ảnh 3D hoặc chụp cắt lớp điện toán đa dãy (MDCT) kết hợp mô phỏng động lực học chất lưu (Computational Fluid Dynamics - CFD) để phân tích trường vận tốc và áp suất luồng khí qua van mũi trong trước và sau can thiệp.
  • Nghiên cứu mở rộng kỹ thuật can thiệp phối hợp cả van mũi trong và van mũi ngoài qua nội soi hoặc đường mổ tối thiểu.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành trong lĩnh vực Tai Mũi Họng và Phẫu thuật Tạo hình Mũi - Xoang:

  • Đối với bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng và Phẫu thuật viên: Cung cấp kỹ thuật chi tiết về tiếp cận nội soi bóc tách khoang đặt mảnh ghép dài, kỹ thuật cố định mảnh ghép dạng ống khít (tight-fitting tunnel), và kỹ thuật can thiệp bảo tồn cuốn dưới bằng đốt điện đơn cực. Các thao tác thực hiện nghiệm pháp lâm sàng (Cottle cải tiến, nghiệm pháp que thăm dò) là công cụ thực hành hữu ích khi khám tiền phẫu.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học: Luận án là tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nhân trắc học hình thái, ứng dụng phần mềm kỹ thuật số (AutoCAD 2007) trong y học, và phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp lâm sàng có đánh giá bằng thang đo chuẩn hóa quốc tế (NOSE).
  • Đối với cơ sở đào tạo và quản lý y tế: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho việc chuẩn hóa quy trình kỹ thuật can thiệp van mũi qua nội soi theo danh mục kỹ thuật được Bộ Y tế phê duyệt.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại hình thái van mũi trong theo tiêu chuẩn của tác giả nào và gồm những dạng nào?

Luận án áp dụng hệ thống phân loại hình thái học van mũi trong qua nội soi của Miman và cộng sự (2006). Phân loại này bao gồm 06 dạng cấu trúc:

  1. Dạng góc nhọn
  2. Dạng góc tù
  3. Dạng lõm đuôi
  4. Dạng lồi đuôi
  5. Dạng xoắn phần đuôi
  6. Dạng góc hình thành bởi thân vách ngăn

2. Vì sao một số dạng cấu trúc van mũi trong không thể xác định được trị số góc trên phần mềm AutoCAD 2007?

Tương tự như ghi nhận của Miman, phần mềm AutoCAD 2007 không thể xác định trị số góc ở các trường hợp:

  • Dạng góc hình thành bởi thân vách ngăn: Do thân vách ngăn phình dày lên tiếp xúc với sụn cánh mũi bên trên trên một diện/đoạn phẳng dài chứ không tạo thành một đỉnh góc tiếp tuyến duy nhất.
  • Dạng góc tù: Không xác định được điểm hội tụ rõ ràng của góc đỉnh.
  • Dạng xoắn đuôi: Sụn bị vặn xoắn tạo ra hai góc liên tiếp, không phản ánh chính xác một góc van mũi duy nhất.

3. Nghiệm pháp que thăm dò mô phỏng mảnh ghép được thực hiện như thế nào và có giá trị gì?

Nghiệm pháp được thực hiện bằng cách dùng đầu que tăm bông đặt vào bên trong hốc mũi tại vị trí đỉnh góc van mũi trong (nơi dự kiến đặt mảnh ghép dài), nhẹ nhàng nâng đỡ sụn cánh mũi bên trên mô phỏng tác dụng của mảnh ghép, sau đó yêu cầu bệnh nhân đánh giá mức độ cải thiện thông khí khi hít vào. Nghiệm pháp dương tính khi bệnh nhân cảm thấy luồng khí lưu thông tốt hơn rõ rệt, giúp phẫu thuật viên xác định nguyên nhân nghẹt mũi do sụp vách mũi bên và dự đoán chính xác hiệu quả của phẫu thuật đặt spreader graft.

4. Kỹ thuật phẫu thuật nội soi trong luận án can thiệp đồng thời những cấu trúc nào?

Luận án thực hiện can thiệp phối hợp 03 cấu trúc giải phẫu gây nghẹt mũi trong cùng một cuộc mổ hoàn toàn qua nội soi:

  1. Vách mũi bên: Bóc tách khoang và đặt mảnh ghép dài (spreader graft) tự thân lấy từ sụn tứ giác vách ngăn vào góc van mũi trong, cố định khít dạng ống hoặc khâu xuyên vách ngăn.
  2. Vách ngăn mũi: Phẫu thuật chỉnh hình vách ngăn qua nội soi, sửa chữa các gai, mào, vẹo phần cao hoặc lệch phần trước.
  3. Cuốn mũi dưới: Đốt điện đơn cực dưới niêm mạc (monopolar submucosal diathermy) nhằm thu nhỏ thể tích cuốn dưới phì đại nhưng bảo tồn nguyên vẹn bề mặt niêm mạc chức năng.

5. Thang điểm NOSE đánh giá những triệu chứng nào và kết quả cải thiện sau mổ ra sao?

Thang điểm NOSE (Stewart, 2004) gồm 5 triệu chứng nghẹt mũi được bệnh nhân tự chấm điểm từ 0 (không ảnh hưởng) đến 4 (rất nhiều):

  1. Nghẹt mũi
  2. Tắc mũi
  3. Khó khăn khi thở bằng mũi
  4. Khó khăn khi ngủ
  5. Không thể thở bằng mũi khi tập thể dục hay gắng sức

Tổng điểm dao động từ 0 đến 20. Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm NOSE trung bình của nhóm bệnh nhân sau phẫu thuật giảm rõ rệt tại các thời điểm 01 tuần, 04 tuần và 12 tuần, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê cao ($p < 0,05$), chứng minh hiệu quả giải quyết tắc nghẽn thông khí mũi của phương pháp can thiệp.


Kết luận

Luận án của NCS. Nguyễn Triều Việt là công trình nghiên cứu lâm sàng chuyên khảo về giải phẫu và phẫu thuật nội soi van mũi trong tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp phân loại hình thái của Miman, ứng dụng phần mềm đồ họa AutoCAD 2007 để lượng hóa trị số góc van mũi và đánh giá kết quả phẫu thuật qua thang điểm chuẩn hóa NOSE, luận án đã cung cấp dữ liệu nhân trắc học giải phẫu trên người Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu chứng minh tính khả thi, độ an toàn và hiệu quả cải thiện thông khí rõ rệt của kỹ thuật phẫu thuật nội soi tích hợp ba cấu trúc: đặt mảnh ghép dài van mũi trong, chỉnh hình vách ngăn và đốt điện cuốn dưới.