Tổng quan luận án

Thận mất chức năng do các bệnh lý lành tính như sỏi tiết niệu, bệnh lý khúc nối bể thận niệu quản, viêm xơ teo thận hoặc ứ mủ kéo dài là hậu quả của quá trình tắc nghẽn hoặc nhiễm khuẩn mạn tính. Tình trạng này có thể kèm theo các biến chứng như đau thắt lưng dai dẳng, nhiễm khuẩn đường tiết niệu tái phát, tăng huyết áp do nguyên nhân tại thận. Trong các trường hợp thận mất chức năng có biến chứng, phẫu thuật cắt bỏ thận là phương pháp điều trị triệt để.

Phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt thận tiêu chuẩn qua 3–4 lỗ trocar đã cải thiện nhiều mặt so với mổ mở truyền thống (giảm đau, rút ngắn thời gian nằm viện, giảm mất máu). Tuy nhiên, phương pháp tiêu chuẩn vẫn đòi hỏi một đường rạch da bổ sung để lấy bệnh phẩm ra ngoài, làm gia tăng thêm mức độ xâm lấn thành bụng. Phẫu thuật nội soi một cổng (PTNSMC - Laparoendoscopic Single-site Surgery) ra đời cho phép đưa tất cả các kênh dụng cụ qua một vết rạch duy nhất và tận dụng chính đường rạch này để lấy bệnh phẩm. Khi kết hợp PTNSMC với đường tiếp cận sau phúc mạc (sau PM), phẫu thuật viên có thể tiếp cận trực tiếp cuống thận mà không cần phẫu tích vén đại tràng, lách, gan hay tụy, tránh lan tràn dịch viêm vào ổ phúc mạc và hạn chế nguy cơ tổn thương các tạng trong ổ bụng.

Tại Việt Nam, kỹ thuật PTNSMC sau phúc mạc cắt thận đã được một số nhóm tác giả triển khai bước đầu, song các dữ liệu tổng thể về quy trình kỹ thuật, giải pháp khắc phục xung đột dụng cụ, theo dõi hồi phục chu phẫu theo chương trình ERAS (Enhanced Recovery After Surgery), mức độ đau và sự hài lòng thẩm mỹ của người bệnh vẫn cần được nghiên cứu và chuẩn hóa có hệ thống.

Luận án "Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính" của nghiên cứu sinh Ngô Thanh Liêm, chuyên ngành Ngoại khoa (Mã số: 9720104), thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Khoa Hùng và PGS.TS. Hoàng Văn Tùng tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Huế (năm 2022), được xây dựng nhằm giải quyết 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân thận mất chức năng do bệnh lý lành tính được cắt thận bằng phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc.
  2. Xác định một số đặc điểm kỹ thuật và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Gồm các bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên, có chỉ số phân loại sức khỏe ASA $\le 3$, được chẩn đoán thận mất chức năng do bệnh lý lành tính có chỉ định cắt thận (mức lọc cầu thận thận bệnh lý $< 10$ ml/phút hoặc tỷ lệ chức năng $< 10%$ trên xạ hình thận khi thận đối diện $\ge 60$ ml/phút; hoặc mất chức năng hoàn toàn kèm biến chứng khi thận đối diện $< 60$ ml/phút). Loại trừ các trường hợp giải phẫu bệnh là ung thư, có tiền sử phẫu thuật mở can thiệp vào thận trước đó, hoặc nhiễm khuẩn niệu đang tiến triển chưa kiểm soát.
  • Phạm vi không gian: Bệnh viện Trung ương Huế.
  • Phạm vi thời gian: Từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các mốc phát triển của phẫu thuật nội soi một cổng và phẫu thuật sau phúc mạc trong chuyên ngành Ngoại Tiết niệu trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Lịch sử phẫu thuật một cổng: Khởi đầu từ các can thiệp phụ khoa đơn giản của Wheeless (1969), Marco Pelosi (1991, 1992) thực hiện cắt tử cung và cắt ruột thừa qua một cổng tại rốn. Clayman và cộng sự (1990) thực hiện ca cắt thận nội soi đầu tiên. Trong chuyên ngành tiết niệu, Hirano và cộng sự (2005) cắt u tuyến thượng thận một cổng sau phúc mạc không bơm khí qua vết rạch 4 cm. Raman và cộng sự (2007), Rane và Rao (2008) công bố các ca cắt thận một cổng đầu tiên qua rốn bằng dụng cụ uốn cong.
  • Phát triển PTNSMC sau phúc mạc trên thế giới: Tiếp cận sau phúc mạc qua một cổng được Ryu (2009) và White (2009) báo cáo khả thi. Tiếp sau đó là các công trình của Chung (2011), Chueh (2011), Nomura (2011), Chen (2012), Dong (2012), Okegawa (2012), Maruyama (2014), Shi (2014), Feng (2016), Singh (2020) với các giải pháp cổng nội soi khác nhau như Alexis, Gelpoint, SILS Port, cổng tự chế hoặc không dùng cổng chuyên dụng.
  • Nghiên cứu trong nước: Vũ Lê Chuyên và Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng (2010) báo cáo PTNSMC cắt thận qua phúc mạc tại rốn; Trương Hoàng Minh (2010) ứng dụng PTNSMC sau phúc mạc cắt chỏm nang thận; Lê Đình Khánh và cộng sự (2013) thực hiện PTNSMC sau phúc mạc lấy sỏi tiết niệu; Trần Ngọc Khánh và Lê Đình Khánh (2014) báo cáo 3 trường hợp cắt thận mất chức năng qua PTNSMC sau phúc mạc.
  • Đánh giá chức năng thận và viêm dính: Các tác giả Ortapamuk (2003), Nayyar (2016), Gnech (2019) nghiên cứu về ngưỡng hồi phục của thận sau tắc nghẽn, chỉ ra rằng thận có mức lọc $< 10%$ hầu như không còn khả năng phục hồi chức năng sau khi giải phóng bế tắc. Bachar Zelhof (2012) nhấn mạnh tính chất phức tạp của cắt thận lành tính do xơ dính mạn tính quanh thận (benign nephrectomy) so với cắt thận ung thư giai đoạn sớm.
  • Giải phẫu cuống mạch thận: Các nghiên cứu giải phẫu của Mehmet Sarier (2017), Sampaio, Raman (2007), Hostiuc (2019), Pozniak (1998), Hoàng Thị Vân Hoa (2020) và Nguyễn Quang Quyền cung cấp dữ liệu nền tảng về chiều dài, đường kính, tỷ lệ phân nhánh sớm của động mạch thận và các biến thể đổ về của tĩnh mạch thận phải/trái.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các thiết bị cổng chuyên dụng (Gelpoint, SILS Port) và dụng cụ nội soi có khớp gập uốn cong có chi phí cao, khó phổ cập rộng rãi. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc chuẩn hóa kỹ thuật ứng dụng toàn bộ bộ dụng cụ thẳng tiêu chuẩn sẵn có của phẫu thuật nội soi thông thường vào phẫu thuật một cổng sau phúc mạc; đồng thời xây dựng quy trình thao tác (bắt chéo dụng cụ, phân tầng trocar, xẹp thể tích thận, xử lý cuống mạch) và lượng giá can thiệp chu phẫu theo thang điểm đau VAS, chương trình ERAS và khảo sát thẩm mỹ vết mổ dài hạn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và giải phẫu ứng dụng

Luận án dựa trên các nền tảng giải phẫu học và sinh lý bệnh học hệ tiết niệu:

  • Giải phẫu khoang sau phúc mạc: Phân chia 3 khoang (khoang quanh thận, cạnh thận trước, cạnh thận sau) ngăn cách bởi hai lá mạc thận. Mặt sau thận là mặt phẫu thuật, liên quan tầng ngực (xương sườn 11, 12, cơ hoành) và tầng thắt lưng (cơ thắt lưng lớn, cơ vuông thắt lưng, cân cơ ngang bụng).
  • Giải phẫu mạch máu thận: Động mạch thận xuất phát từ ĐM chủ bụng, phân nhánh sớm khi vị trí tách nhánh cách gốc $< 2$ cm; các biến thể ĐM phụ, ĐM cực thận. Tĩnh mạch thận chạy trước động mạch; TM thận trái dài hơn (trung bình 6–8,5 cm) nhận các nhánh TM thượng thận, TM sinh dục, TM thắt lưng; TM thận phải ngắn hơn (2–2,5 cm) đổ trực tiếp vào TM chủ dưới.
  • Sinh lý bệnh thận mất chức năng: Quá trình bế tắc đường bài xuất gây tăng áp lực đài bể thận, thiếu máu nhu mô, xơ hóa và teo mỏng vỏ thận. Thận đối diện xuất hiện quá trình phì đại bù trừ.
  • Cơ sở chẩn đoán hình ảnh và thăm dò chức năng:
    • Siêu âm hệ tiết niệu (phân độ ứ nước 1–3 theo Kamaya, 2015; đo độ dày nhu mô).
    • X-quang hệ tiết niệu không chuẩn bị (máy MAGNUM 32KW).
    • Cắt lớp vi tính (CLVT) hệ tiết niệu (máy Spilite - Siemens; phân 4 độ ứ nước theo Quaia, 2014; đo độ mỏng nhu mô 0,5–5 mm).
    • Thận đồ đồng vị phóng xạ (TĐĐVPX) bằng máy SPECT với dược chất phóng xạ $^{99m}\text{Tc-DTPA}$ (liều 3–5 mCi), đánh giá chính xác mức lọc cầu thận riêng biệt từng bên qua hai pha tưới máu và pha chức năng.

2. Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc tiến cứu, can thiệp lâm sàng không đối chứng.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ: $$n = \frac{Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot p(1-p)}{d^2}$$ Với mức độ tin cậy 95% ($Z = 1{,}96$), độ chính xác mong muốn $d$, tỷ lệ thành công tham chiếu $p = 96{,}9%$ (trung vị các nghiên cứu trước). Cỡ mẫu tối thiểu được xác định là $n \ge 47$ bệnh nhân.
Yếu tố phương pháp Nội dung chi tiết trong luận án
Tiêu chuẩn chọn bệnh Tuổi $\ge 16$; ASA $\le 3$; Thận mất chức năng do bệnh lý lành tính kèm biến chứng (đau, nhiễm khuẩn, THA); MLCT $<10$ ml/p hoặc tỷ lệ chức năng $<10%$ (khi thận đối diện $\ge 60$ ml/p) hoặc mất chức năng hoàn toàn (khi thận đối diện $<60$ ml/p).
Tiêu chuẩn loại trừ Bệnh lý ác tính; tiền sử mổ mở vào thận trước đó; nhiễm khuẩn niệu cấp tính đang tiến triển (viêm thận bể thận cấp, nhiễm khuẩn huyết).
Thiết bị và dụng cụ Dàn máy nội soi, ống kính 30 độ; bộ dụng cụ thẳng nội soi tiêu chuẩn; trocar 10 mm kim loại và 2 trocar nhựa ngắn 5 mm; kẹp clip Hem-o-lok 10 mm.
Chuẩn bị chu phẫu (ERAS) Nhịn ăn thức ăn đặc 6 giờ; uống 300 ml nước đường trước mổ 2 giờ; tiêm kháng sinh dự phòng Cephalosporin thế hệ 2 trước rạch da; tư vấn tâm lý tiền phẫu.
Kỹ thuật phẫu thuật Rạch da 2,5 cm tại điểm giao nhau giữa đường xiên hông và đường nách giữa; tách cân cơ vào khoang sau PM; đặt 3 trocar qua một vết mổ; tạo áp lực $\text{CO}_2$ khoang sau phúc mạc.
Kỹ thuật thao tác Chọc hút làm xẹp thận ứ nước lớn; bắt chéo dụng cụ (triangulation recovery) tạo lực kéo căng mô; phân tầng độ cao trocar và tay nắm dài-ngắn để tránh xung đột; bộc lộ và kẹp cuống mạch bằng Hem-o-lok; phẫu tích thận (dưới bao nếu dính nhiều); lấy bệnh phẩm qua vết mổ một cổng; dẫn lưu ổ mổ.
Biến số theo dõi Thời gian đặt cổng; thời gian mổ; lượng máu mất; tai biến trong mổ; điểm đau VAS ngày 1, 2, 3 và khi xuất viện; thời gian dùng giảm đau; thời gian phục hồi nhu động ruột; thời gian rút dẫn lưu; ngày nằm viện; điểm thẩm mỹ thang điểm 10 tại thời điểm tái khám.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Trình bày bối cảnh bệnh học của thận mất chức năng lành tính, phân tích ưu nhược điểm của các đường tiếp cận nội soi (qua phúc mạc và sau phúc mạc), lý giải sự chuyển dịch từ phẫu thuật nội soi tiêu chuẩn sang phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc nhằm tối ưu hóa mức độ xâm lấn thành bụng, giảm đau và nâng cao tính thẩm mỹ. Đặt ra 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này gồm 3 phân mục lớn:

  1. Một số đặc điểm giải phẫu của thận: Vị trí, các khoang và mạc sau phúc mạc (khoang quanh thận, lá trước, lá sau mạc thận); liên quan mặt trước và mặt sau (mặt phẫu thuật); giải phẫu và biến thể của động mạch thận (nguyên ủy, phân nhánh sớm, ĐM phụ, ĐM cực thận) và tĩnh mạch thận (kích thước, số lượng, các nhánh đổ về của TM sinh dục, thượng thận, thắt lưng).
  2. Chẩn đoán và điều trị thận giảm, mất chức năng một bên: Sinh lý bệnh sau giải phóng tắc nghẽn; khả năng bù trừ của thận đối diện; đặc điểm viêm dính và kích thước của thận mất chức năng (thận ứ nước khổng lồ $>1000$ ml); các phương pháp chẩn đoán lâm sàng, xét nghiệm sinh hóa - vi sinh, siêu âm, X-quang, cắt lớp vi tính và tiêu chuẩn vàng xạ hình thận bằng $^{99m}\text{Tc-DTPA}$.
  3. Phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc cắt thận đơn thuần: Lịch sử phát triển PTNSMC; các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam; phân tích những khó khăn kỹ thuật bản chất (mất tam giác phẫu tác, va chạm thân trocar và tay nắm dụng cụ, tầm nhìn thẳng trục bị che khuất) và các giải pháp cải tiến khi sử dụng bộ dụng cụ thẳng tiêu chuẩn.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết tiêu chuẩn lựa chọn, tiêu chuẩn loại trừ, địa điểm và thời gian nghiên cứu (2016–2021 tại Bệnh viện Trung ương Huế). Thiết kế nghiên cứu mô tả theo dõi dọc tiến cứu, can thiệp lâm sàng không đối chứng với cỡ mẫu tính toán $n \ge 47$. Mô tả chi tiết quy trình thu thập số liệu lâm sàng, quy trình xét nghiệm huyết học, nước tiểu, chẩn đoán hình ảnh (X-quang MAGNUM 32KW, siêu âm Medison 128 BW, CLVT Spilite Siemens) và xạ hình SPECT $^{99m}\text{Tc-DTPA}$. Chuẩn hóa quy trình phẫu thuật từng bước từ rạch da 2,5 cm, đặt cổng phối hợp trocar, xử lý va chạm bằng kỹ thuật bắt chéo và dụng cụ so le, kỹ thuật chọc hút giảm áp thận, kiểm soát mạch máu bằng Hem-o-lok, phẫu tích thận viêm dính, lấy bệnh phẩm, dẫn lưu và đóng vết mổ. Quy trình chăm sóc chu phẫu theo ERAS và phương pháp đánh giá điểm đau VAS, thang điểm thẩm mỹ sau mổ 6 tháng.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Ghi nhận toàn bộ các số liệu và bảng biểu thực nghiệm thu được từ nhóm bệnh nhân nghiên cứu:

  • Đặc điểm chung, lâm sàng và cận lâm sàng: Phân bố nhóm tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI), nơi cư trú, phân loại ASA; lý do vào viện, tiền sử can thiệp thận tối thiểu; kết quả xét nghiệm máu (thiếu máu, bạch cầu, creatinine), bạch cầu niệu và cấy vi khuẩn; tỷ lệ phát hiện sỏi và phân độ ứ nước trên X-quang, siêu âm, CLVT; đo độ mỏng nhu mô thận trên CLVT; kết quả mức lọc cầu thận trên TĐĐVPX của thận cắt và thận lành; khảo sát mức độ quan tâm về thẩm mỹ và phục hồi sớm trước mổ.
  • Quy trình và kết quả trong mổ: Thời gian đặt cổng nội soi theo BMI và kỹ thuật tạo khoang; nguyên nhân gây bệnh; tỷ lệ chuyển đổi mổ mở hoặc đặt thêm trocar hỗ trợ; phân bố mức độ viêm dính quanh thận; kỹ thuật tiếp cận cuống thận và phẫu tích nhu mô theo mức độ dính; số lượng nhánh mạch máu thận và biến thể giải phẫu ghi nhận; số lượng clip Hem-o-lok sử dụng; thời gian hoàn thành phẫu thuật và các yếu tố liên quan (BMI, mức độ viêm dính, thể tích thận); lượng máu mất trong mổ và tai biến ghi nhận.
  • Theo dõi hậu phẫu và tái khám: Thể tích và độ mỏng nhu mô thận đo sau mổ; diễn biến điểm đau VAS và nhu cầu thuốc giảm đau tiêm theo các ngày hậu phẫu; thời gian phục hồi nhu động ruột, thời gian rút ống dẫn lưu; biến chứng sau mổ; tổng thời gian nằm viện; kết quả tái khám lâm sàng, đánh giá độ hài lòng của người bệnh và chấm điểm thẩm mỹ sẹo mổ theo thang điểm 10 sau 6 tháng.

Chương 4: Bàn luận

Phân tích, so sánh các kết quả thu được của nghiên cứu với y văn trong nước và quốc tế:

  • Biện luận về đặc điểm dịch tễ, giá trị chẩn đoán của phối hợp CLVT và xạ hình thận $^{99m}\text{Tc-DTPA}$ trong việc xác lập chỉ định cắt thận mất chức năng lành tính.
  • Phân tích tính khả thi và hiệu quả của giải pháp kỹ thuật sử dụng dụng cụ thẳng thông thường: cơ chế triệt tiêu xung đột tay nắm bằng dụng cụ dài-ngắn, phục hồi lực kéo căng mô thông qua kỹ thuật bắt chéo dụng cụ, vai trò của người phụ mổ trong điều khiển camera 30 độ.
  • Bàn luận về mức độ viêm dính, kỹ thuật bóc tách dưới bao đối với thận xơ dính nặng, các giải pháp an toàn trong kiểm soát cuống mạch thận bằng Hem-o-lok.
  • So sánh thời gian phẫu thuật, lượng máu mất, tỷ lệ tai biến - biến chứng, điểm đau VAS và thời gian nằm viện giữa kỹ thuật một cổng sau phúc mạc với các nghiên cứu PTNS tiêu chuẩn và PTNSMC qua phúc mạc trên thế giới.
  • Đánh giá hiệu quả của chương trình ERAS và giá trị thẩm mỹ của vết mổ 2,5 cm tại vùng hông lưng.

Kiến nghị

Đưa ra các đề xuất về việc áp dụng quy trình kỹ thuật PTNSMC sau phúc mạc cắt thận mất chức năng lành tính tại các cơ sở ngoại khoa có trang bị phẫu thuật nội soi cơ bản, các lưu ý về đào tạo phẫu thuật viên và định hướng mở rộng nghiên cứu.


Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Chuẩn hóa hệ thống tiêu chí chẩn đoán chỉ định cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính, kết hợp giữa đo độ mỏng nhu mô thận trên cắt lớp vi tính và định lượng mức lọc cầu thận phân chia từng bên bằng xạ hình thận $^{99m}\text{Tc-DTPA}$ (ngưỡng MLCT $< 10$ ml/phút hoặc tỷ lệ chức năng $< 10%$).
  • Chứng minh trên cơ sở thực nghiệm lâm sàng rằng việc ứng dụng bộ dụng cụ thẳng tiêu chuẩn trong phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc hoàn toàn đảm bảo nguyên tắc tam giác phẫu tác và an toàn ngoại khoa nếu áp dụng đúng kỹ thuật bắt chéo dụng cụ và phân tầng độ cao trocar.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn và kỹ thuật can thiệp

  • Xây dựng quy trình kỹ thuật một cổng sau phúc mạc khả thi, tiết kiệm chi phí: Sử dụng vết rạch da 2,5 cm tại giao điểm đường xiên hông và đường nách giữa, phối hợp 1 trocar 10 mm và 2 trocar nhựa 5 mm thông thường, không cần mua sắm các bộ cổng nội soi hay dụng cụ gập uốn chuyên dụng đắt tiền.
  • Giải pháp kiểm soát phẫu trường và tai biến:
    • Kỹ thuật chọc hút nước tiểu/mủ làm xẹp thể tích thận ứ nước lớn giúp mở rộng không gian phẫu tác sau phúc mạc.
    • Kỹ thuật phân tách mạch máu thận và kẹp cắt an toàn bằng clip Hem-o-lok qua việc hoán đổi linh hoạt vị trí trocar 10 mm.
    • Áp dụng phẫu tích dưới bao thận đối với các trường hợp viêm dính xơ hóa phức tạp quanh thận, giảm thiểu nguy cơ chảy máu và rách tạng lân cận.
  • Tối ưu hóa hồi phục sau mổ: Ứng dụng chương trình ERAS kết hợp đường mổ nhỏ duy nhất 2,5 cm giúp giảm mức độ đau sau mổ (đánh giá theo thang điểm VAS), giảm nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau dạng tiêm, giúp nhu động ruột phục hồi sớm, rút ngắn thời gian nằm viện và đạt điểm số thẩm mỹ cao khi theo dõi sau 6 tháng.

3. Kiến nghị từ luận án

  • Khuyến cáo ứng dụng quy trình kỹ thuật phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc cắt thận mất chức năng lành tính tại các trung tâm ngoại tiết niệu có kinh nghiệm về phẫu thuật nội soi tiêu chuẩn.
  • Cần chú trọng tập huấn kỹ năng phối hợp giữa phẫu thuật viên và người cầm camera (xoay góc nhìn 30 độ, di chuyển linh hoạt theo biên độ dụng cụ) để hạn chế va chạm dụng cụ trong không gian hẹp sau phúc mạc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

1. Hạn chế của nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Là nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng, theo dõi dọc tiến cứu tại một trung tâm đơn lẻ (Bệnh viện Trung ương Huế), chưa tiến hành nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) so sánh song song với nhóm PTNS tiêu chuẩn nhiều cổng.
  • Phạm vi đối tượng: Nghiên cứu giới hạn ở nhóm bệnh nhân có chỉ số ASA $\le 3$, loại trừ các trường hợp có tiền sử mổ mở vào thận trước đó (chỉ nhận các ca có can thiệp tối thiểu như dẫn lưu thận hoặc lấy sỏi qua da PCNL) và loại trừ các bệnh lý ác tính.
  • Quy mô mẫu: Cỡ mẫu được tính toán dựa trên tỷ lệ thành công tối thiểu ($n \ge 47$), cần số lượng lớn hơn để phân tích sâu hơn các biến số hiếm gặp về biến thể mạch máu phức tạp.

2. Hướng nghiên cứu tiếp

  • Triển khai các nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn.
  • Thực hiện nghiên cứu so sánh đối chứng ngẫu nhiên giữa PTNSMC sau phúc mạc và PTNS tiêu chuẩn nhiều cổng, hoặc so sánh giữa tiếp cận sau phúc mạc và qua phúc mạc trong phẫu thuật một cổng.
  • Mở rộng đánh giá ứng dụng kỹ thuật một cổng sau phúc mạc cho các can thiệp thận phức tạp khác như cắt thận bán phần, cắt thận kèm niệu quản toàn bộ hoặc các bệnh lý u thận giai đoạn sớm.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao cho các nhóm đối tượng:

  • Phẫu thuật viên Tiết niệu và Ngoại tổng quát: Cung cấp chi tiết các giải pháp kỹ thuật thao tác dụng cụ thẳng trong phẫu thuật một cổng (kỹ thuật bắt chéo, sắp xếp trocar so le, giải pháp tránh xung đột tay nắm), kinh nghiệm phẫu tích thận viêm dính và kiểm soát cuống mạch bằng Hem-o-lok.
  • Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học chuyên ngành Ngoại khoa/Tiết niệu: Cung cấp phương pháp luận nghiên cứu can thiệp lâm sàng, cách tiếp cận hệ thống từ giải phẫu mạch máu, sinh lý bệnh thận mất chức năng, các chỉ số chẩn đoán hình ảnh và xạ hình SPECT $^{99m}\text{Tc-DTPA}$ đến quy trình đánh giá kết quả chu phẫu theo chuẩn quốc tế.
  • Các nhà quản lý y tế và cơ sở khám chữa bệnh: Đưa ra một mô hình kỹ thuật ít xâm lấn hiệu quả nhưng tối ưu về mặt kinh tế y tế (sử dụng dụng cụ phẫu thuật nội soi thẳng sẵn có, không phụ thuộc vật tư tiêu hao chuyên dụng đắt tiền), phù hợp áp dụng tại các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiêu chuẩn xác định chỉ định cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính trong nghiên cứu là gì?
Chỉ định cắt thận được xác định dựa trên kết quả xạ hình thận bằng $^{99m}\text{Tc-DTPA}$:

  • Khi chức năng thận đối diện $\ge 60$ ml/phút: Cắt thận khi mức lọc cầu thận của thận bệnh lý $< 10$ ml/phút hoặc tỷ lệ chức năng thận từng phần $< 10%$ kèm theo các biến chứng (đau dai dẳng, nhiễm khuẩn tái phát, tăng huyết áp).
  • Khi chức năng thận đối diện $< 60$ ml/phút: Ưu tiên giải phóng bế tắc bảo tồn nếu thận còn chức năng duy trì; chỉ cắt thận khi thận mất chức năng hoàn toàn và có biến chứng kèm theo.

2. Làm thế nào để giải quyết tình trạng va chạm dụng cụ và mất nguyên tắc tam giác khi dùng dụng cụ thẳng trong PTNSMC sau phúc mạc?
Luận án áp dụng đồng bộ các giải pháp:

  • Phân tầng độ cao của các trocar (dùng 1 trocar kim loại 10 mm kết hợp 2 trocar nhựa ngắn 5 mm đặt ở các độ sâu khác nhau).
  • Sử dụng các dụng cụ thẳng có chiều dài ngắn khác nhau để tay nắm thao tác chuyển động trên các mặt phẳng khác nhau, tránh va đập vào nhau và vào camera.
  • Thực hiện kỹ thuật bắt chéo dụng cụ (cross-hand technique): tay trái kéo căng mô sang phải, tay phải cắt đốt mô phía trái, qua đó tái lập nguyên tắc tam giác và tạo lực căng mô khi phẫu tích.
  • Người phụ mổ chủ động xoay ống kính 30 độ và "thả lỏng" theo biên độ của phẫu thuật viên.

3. Tại sao cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính thường phức tạp về mặt kỹ thuật bóc tách?
Do quá trình ứ nước, nhiễm khuẩn và tắc nghẽn kéo dài dẫn đến tình trạng viêm mạn tính quanh thận, xơ hóa và hình thành sẹo dính làm biến mất các lớp mô giải phẫu tự nhiên quanh thận và cuống mạch. Phẫu thuật viên thường phải chuyển sang kỹ thuật bóc tách dưới bao xơ thận để hạn chế tổn thương mạch máu và các cơ quan lân cận.

4. Vai trò của cắt lớp vi tính (CLVT) và xạ hình thận ($^{99m}\text{Tc-DTPA}$) trong chẩn đoán trước mổ là gì?

  • CLVT giúp xác định nguyên nhân bế tắc (độ nhạy phát hiện sỏi 98%), phân độ ứ nước (độ 1–4 theo Quaia), đo độ dày/độ mỏng nhu mô thận (từ 0,5 đến 5 mm) và đánh giá mức độ viêm dính quanh thận.
  • Xạ hình thận SPECT với $^{99m}\text{Tc-DTPA}$ là tiêu chuẩn định lượng chính xác mức lọc cầu thận riêng biệt từng bên qua hai pha tưới máu và chức năng, đưa ra căn cứ quyết định bảo tồn hay cắt bỏ thận.

5. Chương trình ERAS được áp dụng chu phẫu trong nghiên cứu bao gồm những nội dung cụ thể nào?
Chương trình ERAS trong nghiên cứu gồm: nhịn thức ăn đặc 6 giờ trước mổ; uống 300 ml nước đường trước mổ 2 giờ; tiêm kháng sinh dự phòng Cephalosporin thế hệ 2 trước rạch da; tư vấn tâm lý tiền phẫu; kết hợp đường mổ nhỏ 2,5 cm giúp bệnh nhân giảm đau sớm, rút ngắn thời gian bất động và sớm phục hồi lưu thông đường tiêu hóa.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Ngô Thanh Liêm đã hoàn thành việc xây dựng và chuẩn hóa quy trình phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính bằng việc tận dụng bộ dụng cụ thẳng tiêu chuẩn qua một vết rạch duy nhất 2,5 cm. Công trình đã cung cấp dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng chi tiết dựa trên chẩn đoán hình ảnh và xạ hình thận $^{99m}\text{Tc-DTPA}$, đồng thời chứng minh tính an toàn, giảm đau, phục hồi nhanh và tính thẩm mỹ cao của phương pháp. Đây là tài liệu chuyên khảo có giá trị thực tiễn đối với chuyên ngành Ngoại Tiết niệu tại Việt Nam.