Nghiên Cứu Ứng Dụng Đường Mổ Nội Soi Qua Xoang Bướm Trong Phẫu Thuật U Tuyến Yên

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng đường mổ nội soi qua xoang bướm trong phẫu thuật u tuyến yên, mở ra hướng đi mới trong điều trị.

Trường đại học

Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Tai Mũi Họng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2019

154
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Phẫu thuật u tuyến yên

Phẫu thuật u tuyến yên là một phương pháp điều trị quan trọng đối với các khối u xuất phát từ thùy trước tuyến yên. Các khối u này phần lớn lành tính nhưng có thể gây ra các rối loạn nội tiết, chèn ép cấu trúc xung quanh, và đe dọa tính mạng người bệnh. Phương pháp phẫu thuật truyền thống qua đường mở nắp sọ đã được thay thế bằng các kỹ thuật hiện đại hơn như phẫu thuật nội soi qua xoang bướm, giúp giảm thiểu biến chứng và thời gian phục hồi.

1.1. Lịch sử phát triển

Phẫu thuật u tuyến yên đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ những năm 1893, phương pháp mở nắp sọ được áp dụng, nhưng tỷ lệ tử vong và biến chứng cao. Đến năm 1907, Schloffer đã thành công với phương pháp qua xoang bướm. Năm 1992, Jankowski mở ra kỷ nguyên mới với phẫu thuật nội soi qua xoang bướm, được ứng dụng rộng rãi trên thế giới.

1.2. Ưu điểm và hạn chế

Phẫu thuật nội soi qua xoang bướm mang lại nhiều ưu điểm như khả năng lấy u tốt hơn, giảm thiểu biến chứng, và rút ngắn thời gian phẫu thuật. Tuy nhiên, phương pháp này cũng đối mặt với thách thức khi gặp các biến thể giải phẫu của xoang bướm và các cấu trúc lân cận như động mạch cảnh trong và dây thần kinh thị giác.

II. Đường mổ nội soi qua xoang bướm

Đường mổ nội soi qua xoang bướm là một kỹ thuật tiên tiến được sử dụng trong phẫu thuật u tuyến yên. Phương pháp này cho phép tiếp cận khối u một cách tối thiểu xâm lấn, giảm thiểu tổn thương mô xung quanh và cải thiện kết quả điều trị.

2.1. Kỹ thuật phẫu thuật

Kỹ thuật phẫu thuật bao gồm việc sử dụng nội soi để tiếp cận xoang bướm, mở rộng lỗ thông xoang bướm, và bộc lộ hố yên. Quá trình này đòi hỏi sự chính xác cao để tránh tổn thương các cấu trúc quan trọng như động mạch cảnh trong và dây thần kinh thị giác.

2.2. Biến chứng và cách xử lý

Các biến chứng thường gặp bao gồm chảy máu, tổn thương dây thần kinh, và rối loạn chức năng mũi xoang. Việc nghiên cứu hình thái giải phẫu xoang bướm và các cấu trúc liên quan giúp dự đoán và hạn chế các biến chứng này.

III. Ứng dụng y học và giá trị thực tiễn

Nghiên cứu về ứng dụng đường mổ nội soi qua xoang bướm trong phẫu thuật u tuyến yên mang lại nhiều giá trị thực tiễn. Phương pháp này không chỉ cải thiện kết quả điều trị mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

3.1. Đánh giá kết quả phẫu thuật

Các nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi qua xoang bướm có tỷ lệ thành công cao trong việc loại bỏ khối u, đồng thời giảm thiểu các biến chứng mũi xoang. Điều này giúp bệnh nhân phục hồi nhanh chóng và trở lại cuộc sống bình thường.

3.2. Hướng phát triển trong tương lai

Với sự tiến bộ của công nghệ, phẫu thuật nội soi qua xoang bướm sẽ tiếp tục được cải tiến, giúp tăng độ chính xác và giảm thiểu rủi ro. Nghiên cứu sâu hơn về hình thái giải phẫu và các biến thể sẽ giúp tối ưu hóa quy trình phẫu thuật.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐƯỜNG MỔ NỘI SOI QUA XOANG BƯỚM 1. Thế giới - Năm 1893, phẫu thuật u tuyến yên được thực hiện lần đầu tiên bởi Caton và Paul ở Liverpool qua đường mở nắp sọ thái dương [8]. - Từ năm 1904-1906, Horsley đã phẫu thuật 10 ca u tuyến yên qua đường trán thấp (subfrontal approach) và đường hố bên giữa (lateral middle fossa approach) [9].

- Năm 1907, Schloffer lần đầu tiên đã phẫu thuật thành công ca u tuyến yên qua đường mũi - xoang bướm (superior transnasal transsphenoidal approach) [10]. - Năm 1910, Hirsch thực hiện đường mổ trong mũi, qua vách ngăn mũi vào xoang bướm lấy u tuyến yên [7]. - Năm 1914, Cushing thực hiện đường rạch qua rãnh lợi môi, xuyên qua vách ngăn mũi vào xoang bướm rồi từ đó đến hố yên để lấy u. Phương pháp này được mang tên ông và áp dụng rộng rãi về sau này [7].

- Năm 1967, Hardy sử dụng kính hiển vi theo đường xuyên vách ngăn vào xoang bướm lấy u tuyến yên [30]. - Năm 1992, Jankowski [15] là người đầu tiên thực hiện ca mổ nội soi qua xoang bướm lấy u tuyến yên, mở ra kỷ nguyên mới cho phẫu thuật tuyến yên. - Năm 1997, Jho & Carrau báo cáo đầu tiên về kết quả 50 trường hợp u tuyến yên được mổ nội soi qua xoang bướm [16]. - Mổ u tuyến yên mổ nội soi qua xoang bướm đã trở nên phổ biến trên thế giới vào những năm đầu thế kỷ XXI [18],[19],[20],[21].

Việt Nam - Năm 1996, Vũ Tự Huỳnh và cộng sự thông báo 38 ca mổ u tuyến yên tại Việt Đức qua đường mở nắp sọ [31]. - Năm 2000, ca mổ u tuyến yên đầu tiên bằng đường mổ xuyên vách ngăn qua xoang bướm với kính hiển vi tại bệnh viện Việt Đức - Hà Nội với sự giúp đỡ của GS Daniel Maitrot (Strasbourg - Pháp) [33][34] - Năm 2003, Nguyễn Phong báo cáo kết quả 91 ca u tuyến yên được mổ qua xoang bướm tại bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh [32] - Trần Minh Trường và Nguyễn Hữu Dũng bắt đầu nghiên cứu phẫu thuật u tuyến yên qua nội soi đường xuyên xoang bướm tại bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh [35] - Kết quả mổ nội soi u tuyến yên qua xoang bướm với sự phối hợp giữa chuyên khoa Tai Mũi Họng và phẫu thuật Thần Kinh thực hiện tại bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Hồ Chí Minh báo cáo tại hội nghị mũi xoang châu Á năm 2010 [36] - Kiều Đình Hùng phối hợp với chuyên khoa Tai Mũi Họng mổ u tuyến yên bằng đường mổ nội soi qua xoang bướm tại bệnh viện đại học Y Hà Nội tháng 9 năm 2009 [37],[38]. - Đồng Văn Hệ phối hợp với chuyên khoa Tai Mũi Họng thực hiện đường mổ nội soi qua xoang bướm lấy u tuyến yên tại bệnh viện Việt Đức Hà Nội năm 2010 [39],[40]. - Năm 2013, Trần Quang Trung báo cáo kết quả phẫu thuật nội soi qua xoang bướm u tuyến yên tại bệnh viện đại học Y Hà Nội [27].

- Năm 2016, Nguyễn Xuân Nam báo cáo đánh giá kết quả phẫu thuật u tuyến yên bằng nội soi có sử dụng định vị thần kinh tại bệnh viện đại học Y Hà Nội [28]. 5 - Năm 2017, Phạm Anh Tuấn báo cáo kết quả phẫu thuật nội soi u tuyến yên tại bệnh viện bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, bệnh viện Nguyễn Tri Phương và bệnh viện Nhân Dân Gia Định [29] 1. SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU HỐC MŨI, XOANG BƯỚM & VÙNG HỐ YÊN 1. Giải phẫu hốc mũi - Tháp mũi.

Được tạo bởi xương chính mũi, ngành lên xương hàm trên, sụn tam giác và sụn cánh uốn quanh lỗ mũi. Bên ngoài được phủ bởi da và cơ cánh mũi. Là vùng cửa mũi trước, được phủ bởi lớp biểu mô có các lông và tuyến bã. Giới hạn bởi sụn mũi trên, vách ngăn mũi, sàn mũi và đầu cuốn mũi dưới.

Đây là vùng hẹp nhất đi qua vào hốc mũi, đóng vai trò quan trọng trong chức năng thở của mũi. Chia hốc mũi làm hai phần đi từ lỗ mũi trước ra lỗ mũi sau. Cấu tạo bởi sụn tứ giác phía trước, xương lá mía ở phía sau dưới, mảnh đứng xương sàng phía trên và gờ lên xương khẩu cái ở dưới. Có cấu tạo 4 thành:  Thành dưới hay còn gọi là sàn mũi ngăn cách hốc mũi với khoang miệng, được hình thành bởi mỏm khẩu cái của xương hàm trên (3/4 trước), mảnh ngang của xương khẩu cái (1/4 sau).

 Thành trên còn gọi là trần hốc mũi, được cấu tạo bởi các xương: xương mũi, gai mũi của xương trán, mảnh ngang của xương sàng và thân xương bướm.  Thành trong là vách ngăn mũi, cấu tạo bởi sụn tứ giác ở trên, mảnh đứng xương sàng ở sau trên và sau dưới là xương lá mía. 6  Thành ngoài được cấu tạo bởi xương khẩu cái, xương lệ, xương bướm và các cuốn mũi. Có 3 cuốn mũi mỗi bên: cuốn trên, giữa, dưới.

Dưới các cuốn mũi là các khe cùng tên: khe trên, khe giữa, khe dưới  Khe khứu có liên quan đến chức năng ngửi, được dưới hạn bởi phía trên là mảnh ngang xương sàng, phía trong là phần cao của vách ngăn và phía ngoài là cuốn mũi trên, được bao phủ lớp biểu mô khứu giác.  Hệ thống xoang cạnh mũi Là các hốc rỗng nằm trong khối xương mặt được chia thành nhóm xoang trước và xoang sau. Hệ thống xoang trước bao gồm xoang hàm, xoang trán và xoang sàng trước, các xoang này có lỗ thông dẫn lưu vào khe giữa. Hệ thống xoang sau bao gồm xoang sàng sau dẫn lưu vào khe trên và xoang bướm dẫn lưu vào khe sàng bướm.

Các cuốn mũi và ngách mũi [41]  Biểu mô hô hấp Hốc mũi và các xoang cạnh mũi được bao phủ bởi lớp biểu mô hô hấp. Đây là lớp biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển chiều dày từ 40 – 70 micromet, gồm 4 loại tế bào: [41],[42]. 7 + Tế bào trụ có lông chuyển: Chiếm khoảng 80%, mỗi tế bào có khoảng 200 – 300 lông chuyển, các lông chuyển hoạt động trong môi trường dịch tạo nên sóng vận động lông chuyển có tác dụng vận chuyển chất nhầy. + Tế bào trụ không có lông chuyển: có vai trò làm tăng diện tích bề mặt biểu mô, cung cấp độ ẩm cho hốc mũi, cung cấp dịch gian lông chuyển.

+ Tế bào tuyến còn gọi là các tế bào nhầy hay tế bào chế tiết, tiết ra chất nhầy giàu carbonhydrat tạo ra lớp màng nhầy bao phủ toàn bộ bề mặt lớp biểu mô. + Tế bào đáy nằm dựa trên màng đáy, đây là các tế bào nguồn có thể biệt hóa thành các tế bào biểu mô để thay thế các tế bào biểu mô để thay thế các tế bào đã chết.  Biểu mô ngửi. Bao phủ vùng trần sàng, phần cao vách ngăn, một phần cuốn mũi trên; có diện tích khoảng 2 - 3cm2.

Lớp biểu mô này có màu vàng xám, cấu tạo gồm 3 loại tế bào: tế bào thần kinh khứu giác, tế bào nâng đỡ và tế bào đáy. Tế bào thần kinh khứu giác là tế bào lưỡng cực với một đầu có dạng hình chùy, xung quanh là các lông mao. Các tế bào lưỡng cực có nguồn gốc từ hệ thần kinh trung ương. Bề mặt tế bào có các nút, mỗi nút có 6 - 12 sợi lông khứu có đường kính khoảng 8 micromet và dài 200 micromet.

Các sợi lông nằm trong lớp niêm dịch. Chính các sợi lông này là nơi tiếp nhận kích thích hóa học. Màng của sợi lông có nhiều phân tử protein xuyên suốt chiều dày của màng. Các protein mang mùi khi gắn vào protein này sẽ làm cho receptor khứu giác bị kích thích.

Sợi trục không có myelin, ở trong lớp màng riêng, sau đó tập hợp khoảng 20 bó chui qua các lỗ của mảnh sàng và tập hợp lại thành dây thần kinh khứu giác, tận hết trong hành khứu. Rải rác giữa các tế bào khứu giác có các tuyến Bowmann bài tiết niêm dịch trên bề mặt của niêm mạc khứu. 8 Tế bào nâng đỡ nằm giữa các receptor khứu giác và ngăn cách các receptor này. Tế bào nâng đỡ không phát ra điện thế hoạt động, do đó không có vai trò trực tiếp trong dẫn truyền cảm giác khứu giác.

Tuy nhiên, chúng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa nước và ion vùng khứu, sản xuất enzym Cyt P-450 có vai trò trong chuyển hóa phân tử mùi. Tế bào đáy: Nằm sâu nhất trong các tế bào biểu mô ngửi và bao gồm hai nhóm. Tế bào đáy ngang nằm ngay trên màng đáy, tế bào đáy hình cầu nằm ở giữa tế bào đáy ngang và là các tế bào thần kinh chưa trưởng thành. Các nơ ron khứu giác có đời sống dài khoảng 3 đến 7 tuần, khi thoái hóa, chúng sẽ được thay thế bởi các tế bào thần kinh chưa trưởng thành [43][44] Hình 1.

Biểu mô ngửi [41] 1. Giải phẫu xoang bướm Xoang bướm là xoang nằm sau cùng trong tất cả các xoang cạnh mũi, nằm trong thân xương bướm, thuộc nền sọ ở phần nối giữa hố sọ trước và hố sọ giữa. Phân loại Xoang bướm được chia làm 3 loại tuỳ thuộc vào mức độ thông khí trong xương bướm và liên quan đến hố yên. - Loại 1: Xoang bướm thiểu sản (conchal).

Xoang có kích thước rất nhỏ. Giữa xoang bướm và hố yên là một lớp xương dày trên 10 mm. Đây là loại chiếm tỉ lệ thấp nhất, theo nghiên cứu của Singh [45] là 3%, Rhoton [46] là 1%. Nếu xoang bướm thuộc loại này thì đường mổ qua xoang bướm trở nên rất khó khăn và đôi khi không thể thực hiện được.

- Loại 2: Xoang bướm trước hố yên (presellar). Xoang có kích thước trung bình và không vượt qua đường thẳng đứng đi qua thành trước của hố yên. Tỉ lệ loại này theo Rhoton [46] 24%, theo các nghiên cứu khác [22][23]: 22 - 25%. Ở loại này hố yên bắt đầu lồi trên trần của xoang bướm.

Phẫu thuật lấy các khối u tuyến yên theo đường mổ qua xoang bướm tương đối thuận lợi ở thể loại này. - Loại 3: Xoang bướm ở dưới và sau hố yên (sellar & postsellar). Xoang có kích thước lớn, ở phía dưới hoặc phát triển vượt qua thành sau hố yên. Đây là loại hay gặp nhất, theo Rhoton [46]: 76%, Sareen [23]: 75%.

Loại này, hố yên lồi rõ vào trần của xoang bướm nên rất thuận lợi để tiếp cận đến thành trước hố yên để lấy các khối u tuyến yên. Trước yên C. Sau yên Hình 1. Các loại xoang bướm [46] 10 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ứng dụng đường mổ nội soi qua xoang bướm trong phẫu thuật u tuyến yên là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc áp dụng kỹ thuật nội soi qua xoang bướm để điều trị u tuyến yên. Phương pháp này mang lại nhiều lợi ích như giảm thiểu xâm lấn, hạn chế biến chứng và thời gian hồi phục nhanh hơn so với phẫu thuật truyền thống. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình thực hiện, hiệu quả lâm sàng và những lưu ý quan trọng trong quá trình phẫu thuật. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các bác sĩ và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực phẫu thuật nội soi thần kinh.

Để mở rộng kiến thức về các ứng dụng khác của phẫu thuật nội soi, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị u tuyến ức có nhược cơ tại bệnh viện quân y 103, hoặc Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong cắt khối tá tuỵ điều trị ung thư quanh bóng vater. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi ngực bụng thay thực quản bằng dạ dày đặt sau xương ức điều trị ung thư thực quản cũng là một tài liệu đáng chú ý để hiểu sâu hơn về các kỹ thuật nội soi tiên tiến.