Tổng quan luận án

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong tiếp cận các khối u vùng nền sọ là một bước chuyển dịch kỹ thuật quan trọng trong chuyên ngành Ngoại Thần kinh và Tai Mũi Họng. Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Trần Thị Thu Hằng với đề tài "Nghiên cứu ứng dụng đường mổ nội soi qua xoang bướm trong phẫu thuật u tuyến yên" (chuyên ngành Tai Mũi Họng, mã số 62720155, bảo vệ năm 2019 tại Trường Đại học Y Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Đình Phúc) tập trung giải quyết các vấn đề cốt lõi về giải phẫu học ứng dụng và đánh giá an toàn chức năng mũi xoang sau can thiệp.

U tuyến yên là loại u xuất phát từ thùy trước tuyến yên, phần lớn là tổn thương lành tính, chiếm tỷ lệ từ 10% đến 15% tổng số các khối u nội sọ. Bệnh học u tuyến yên được phân chia thành nhóm u tăng tiết hormone và u không tăng tiết hormone, gây nên các hội chứng chèn ép thần kinh - thị giác, rối loạn nội tiết chuyển hóa hoặc suy giảm chức năng tuyến yên. Phẫu thuật đóng vai trò là phương pháp điều trị ngoại khoa căn bản và hiệu quả. Lịch sử phẫu thuật u tuyến yên từng trải qua đường mở nắp sọ với tỷ lệ biến chứng và tử vong cao; tiếp đó là đường mổ qua xoang bướm dưới kính hiển vi phẫu thuật từ những năm 1960. Mặc dù đường mổ qua kính hiển vi mang lại nhiều ưu thế hơn so với mở nắp sọ, kỹ thuật này bộc lộ nhược điểm là trường nhìn thẳng hẹp, hạn chế khả năng quan sát góc khuất và gây tỷ lệ biến chứng mũi xoang đáng kể (khoảng 35% đến 50% bệnh nhân gặp biến chứng sập tháp mũi, ngạt tắc mũi, giảm hoặc mất khứu giác do đường rạch qua rãnh lợi môi hoặc vách ngăn mũi).

Từ năm 1992, kỹ thuật phẫu thuật nội soi qua xoang bướm ra đời, sử dụng các ống nội soi với nhiều góc nhìn khác nhau giúp bộc lộ rõ phẫu trường, tối ưu hóa việc lấy u và hạn chế tổn thương cấu trúc nâng đỡ của mũi. Tuy nhiên, đường tiếp cận nội soi qua mũi - xoang bướm cũng đặt phẫu thuật viên trước các thách thức giải phẫu lớn do mức độ biến thiên đa dạng của xoang bướm, sự liên quan mật thiết với động mạch cảnh trong và dây thần kinh thị giác. Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng ở người bình thường có khoảng 20% đến 25% động mạch cảnh trong và 4% đến 6% dây thần kinh thị giác lồi trần tự nhiên vào lòng xoang bướm mà không có vỏ xương bao bọc; khi khối u xâm lấn, các mốc giải phẫu này càng bị biến dạng. Tại Việt Nam, phẫu thuật nội soi qua xoang bướm đã được triển khai tại các trung tâm phẫu thuật thần kinh lớn, song các công trình nghiên cứu hệ thống kết hợp giữa đặc điểm giải phẫu nội soi, cắt lớp vi tính và đánh giá chuyên sâu về chức năng mũi xoang sau mổ vẫn còn là khoảng trống cần được khảo sát đầy đủ.

Luận án xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả hình thái giải phẫu mũi - xoang bướm ở bệnh nhân u tuyến yên qua nội soi và cắt lớp vi tính.
  2. Đánh giá sự ảnh hưởng đến chức năng mũi xoang của đường mổ nội soi qua xoang bướm trong phẫu thuật u tuyến yên.

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân được chẩn đoán xác định u tuyến yên và có chỉ định phẫu thuật lấy u bằng đường mổ nội soi qua xoang bướm. Nghiên cứu được triển khai tại các cơ sở thực hành lâm sàng bao gồm Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (Trung tâm Phẫu thuật Thần kinh và Khoa Giải phẫu bệnh).


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng quan chi tiết lịch sử hình thành và phát triển của các đường mổ tiếp cận vùng hố yên trên thế giới và tại Việt Nam:

Mốc thời gian Tác giả / Đơn vị Đóng góp kỹ thuật / Nội dung công bố
1893 Caton và Paul (Liverpool) Ca phẫu thuật u tuyến yên đầu tiên qua đường mở nắp sọ thái dương.
1904–1906 Horsley Báo cáo 10 ca u tuyến yên mổ qua đường trán thấp và đường hố bên giữa.
1907 Schloffer Phẫu thuật thành công ca u tuyến yên đầu tiên qua đường mũi - xoang bướm.
1910 Hirsch Thực hiện đường mổ trong mũi, xuyên qua vách ngăn mũi vào xoang bướm.
1914 Cushing Thực hiện đường mổ qua rãnh lợi môi, xuyên vách ngăn vào xoang bướm.
1967 Hardy Ứng dụng kính hiển vi phẫu thuật theo đường xuyên vách ngăn vào xoang bướm.
1992 Jankowski Thực hiện ca phẫu thuật nội soi qua xoang bướm đầu tiên lấy u tuyến yên.
1997 Jho và Carrau Báo cáo chuỗi 50 trường hợp u tuyến yên phẫu thuật nội soi qua xoang bướm.
1996 Vũ Tự Huỳnh và cộng sự Báo cáo 38 ca mổ u tuyến yên qua đường mở nắp sọ tại Bệnh viện Việt Đức.
2000 Bệnh viện Việt Đức (GS. Daniel Maitrot hỗ trợ) Ca mổ xuyên vách ngăn qua xoang bướm bằng kính hiển vi đầu tiên tại Việt Đức.
2003 Nguyễn Phong Báo cáo 91 ca phẫu thuật qua xoang bướm tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
2009–2010 Kiều Đình Hùng, Đồng Văn Hệ Triển khai mổ nội soi u tuyến yên phối hợp Tai Mũi Họng tại BV ĐH Y Hà Nội và Việt Đức.
2013–2017 Trần Quang Trung, Nguyễn Xuân Nam, Phạm Anh Tuấn Báo cáo kết quả phẫu thuật nội soi u tuyến yên có hoặc không có định vị thần kinh tại Hà Nội và TP.HCM.

Bên cạnh lược sử can thiệp, tác giả điểm luận các công trình nghiên cứu giải phẫu mũi xoang và hố yên kinh điển:

  • Nghiên cứu về xoang bướm và hố yên: Rhoton và Singh đã xác lập phân loại độ thông khí xoang bướm thành 3 thể: thể thiểu sản (conchal - 1% đến 3%), thể trước yên (presellar - 22% đến 25%), và thể dưới/sau yên (sellar/postsellar - 75% đến 76%). Rhoton cũng mô tả chi tiết chiều dày vách xương thành trước hố yên (0,1–0,7 mm ở thể sau yên; 0,3–1,5 mm ở thể trước yên), kích thước trung bình của hố yên (sâu 13 mm, dài 17 mm, rộng 15 mm, thể tích 1100 mm³) và mối liên quan của giao thoa thị giác (70% nằm trên hoành yên).
  • Nghiên cứu về lỗ thông xoang bướm và vách ngăn: Sethi ghi nhận hình thái lỗ thông tự nhiên xoang bướm có 47% dạng tròn, 40% dạng elip, 13% dạng đầu đinh kim; kích thước từ 1 đến 5 mm. Kim và Nguyễn Hữu Dũng khảo sát khoảng cách từ lỗ thông xoang bướm đến gai mũi trước (56,5–65 mm) và đến tiểu trụ (trung bình 75 mm). Unal ghi nhận 26,7% trường hợp chân vách ngăn xoang bướm gắn vào lồi xương động mạch cảnh trong và 19,6% gắn vào lồi xương thần kinh thị giác.
  • Nghiên cứu về cấu trúc mạch máu, thần kinh lân cận: Sirikci, Unal, Anusha, Samiappan và Mohammad ghi nhận tỷ lệ động mạch cảnh trong và dây thần kinh thị giác lồi vào lòng xoang bướm không có vỏ xương bao bọc dao động từ 3% đến 8%, tạo nguy cơ tai biến mạch máu và mù mắt trong phẫu trường.
  • Nghiên cứu về biến chứng và đánh giá chức năng: Laws, Nguyễn Thanh Xuân, Senior và Đồng Quang Tiến báo cáo tỷ lệ tử vong (0–1,5%), chảy máu (5,2%), rò dịch não tủy trong mổ (7,7–19,3%) và sau mổ (1,9–10,3%), viêm màng não (1–1,9%). Doty xây dựng các bộ thử khứu giác UPSIT (40 mùi) và test ngưỡng ngửi Phenyl Ethyl Alcohol (PEA); Osterhammel nghiên cứu điện khứu giác đồ (EOG).

Vị trí của luận án: Kế thừa các mốc giải phẫu học và quy trình phẫu thuật chuẩn quốc tế, luận án tập trung làm rõ các đặc điểm giải phẫu đặc thù trên bệnh nhân Việt Nam thông qua nội soi và phim cắt lớp vi tính, đồng thời định lượng sự thay đổi chức năng khứu giác bằng bộ test PEA và các biến đổi hình thái mũi xoang sau mổ nội soi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và hệ thống phân loại

Luận án vận dụng các khung lý thuyết giải phẫu học định khu vùng nền sọ, sinh lý học hô hấp - khứu giác và phân loại bệnh học u tuyến yên:

  • Giải phẫu sinh lý mũi xoang: Cấu trúc biểu mô hô hấp (biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển gồm tế bào trụ có lông chuyển chiếm 80%, tế bào trụ không lông chuyển, tế bào tuyến nhầy và tế bào đáy) và biểu mô ngửi (diện tích 2–3 cm² tại trần sàng, phần cao vách ngăn và cuốn trên, chứa tế bào khứu giác lưỡng cực, tế bào nâng đỡ bài tiết enzyme Cyt P-450, tế bào đáy và tuyến Bowman). Chức năng làm ấm (33°C), làm ẩm (98–100%) và lọc sạch dị vật > 15 µm.
  • Phân loại xoang bướm theo độ thông khí:
    • Loại 1 (Thiểu sản - Conchal): Xoang rất nhỏ, vách xương giữa xoang và hố yên dày trên 10 mm.
    • Loại 2 (Trước hố yên - Presellar): Xoang kích thước trung bình, không vượt quá đường thẳng đứng qua thành trước hố yên.
    • Loại 3 (Dưới và sau hố yên - Sellar & Postsellar): Xoang lớn, phát triển vượt qua thành sau hố yên, sàn hố yên lồi rõ vào trần xoang.
  • Phân loại u tuyến yên theo Hardy:
    • Theo mức độ biến đổi xương hố yên: Độ I (< 10 mm, sàn yên nguyên vẹn); Độ II (≥ 10 mm, hố yên giãn rộng, sàn nguyên vẹn); Độ III (sàn yên mỏng, đáy lồi vào xoang bướm); Độ IV (u xâm lấn phá hủy sàn hố yên vào xoang bướm).
    • Theo hướng xâm lấn trên yên và xoang hang: Giai đoạn A (vượt 10 mm trong bể giao thoa); Giai đoạn B (vượt 20 mm, đè đẩy cuống yên và giao thoa); Giai đoạn C (vượt 30 mm, đè đẩy não thất III tới lỗ Monro); Giai đoạn D (> 30 mm, gây giãn não thất); Giai đoạn E (xâm lấn vào xoang tĩnh mạch hang).
  • Phân loại kích thước u: U nhỏ (microadenoma < 10 mm), u lớn (macroadenoma 10–30 mm), u khổng lồ (giant adenoma > 30 mm).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp can thiệp lâm sàng theo dõi dọc (đánh giá trước mổ, trong mổ và theo dõi sau mổ).
  • Phương tiện và công cụ thu thập dữ liệu:
    • Hệ thống phẫu thuật nội soi chuyên dụng với các ống soi 0°, 30°, 45° và hệ thống camera độ phân giải cao.
    • Hệ thống định vị thần kinh trong mổ (Navigation).
    • Bộ dụng cụ phẫu thuật nội soi mũi xoang và dụng cụ phẫu thuật vi phẫu hố yên (thìa nạo vòng, kẹp bấm u, que thăm dò).
    • Máy chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đa dãy tái tạo lát mỏng theo các bình diện axial, coronal, sagittal; máy chụp cộng hưởng từ (CHT) sọ não đánh giá thì T1, T2 và tiêm thuốc đối từ.
    • Bộ test ngửi Phenyl Ethyl Alcohol (PEA) gồm 12 lọ dung dịch nồng độ pha loãng giảm dần (đánh dấu từ 0 đến 12 theo thang logarit nồng độ từ -6 log đến các ngưỡng cao hơn), thực hiện theo phương pháp tăng dần nồng độ hoặc phương pháp bước đơn.
    • Gương Glatzel và bảng phân loại mức độ ngạt mũi, chảy mũi, xơ dính hốc mũi.

Quy trình kỹ thuật phẫu thuật nội soi qua xoang bướm

Quy trình phẫu thuật chuẩn gồm 4 thì kế tiếp:

  1. Thì mũi: Đặt bấc co mạch niêm mạc mũi; đưa ống nội soi tiếp cận ngách bướm sàng; xác định lỗ thông tự nhiên xoang bướm ở một hoặc hai bên; dùng đông điện cầm máu niêm mạc xung quanh lỗ thông; mở rộng lỗ thông tự nhiên; khi cần thiết phẫu tích lấy một phần sau vách ngăn mũi và mào xương bướm để tạo phẫu trường rộng rãi sang hai bên.
  2. Thì xoang bướm: Cắt mào bướm, bộc lộ toàn bộ mặt trước thân xương bướm; mở rộng cửa sổ xương vào hai bên xoang bướm; dùng kẹp phẫu tích lấy bỏ các vách ngăn trong lòng xoang bướm (chú ý kiểm soát các vách ngăn bám vào lồi xương động mạch cảnh trong hoặc ống thần kinh thị giác); bóc tách niêm mạc trần xoang bướm để bộc lộ rõ giới hạn sàn hố yên, củ yên và hai rãnh cảnh.
  3. Thì hố yên: Dùng khoan kim cương hoặc đục xương mở cửa sổ xương ở thành trước/sàn hố yên; đông điện và rạch màng não cứng hình chữ thập hoặc chữ U; quan sát ranh giới giữa khối u và tổ chức tuyến yên lành; dùng thìa nạo vòng, ống hút chuyên dụng và kẹp lấy u từng phần dưới kiểm soát trực tiếp của ống nội soi 0° và các ống nội soi góc (30°, 45°) để kiểm tra các góc bên, vùng trên yên và sau lưng yên.
  4. Thì đóng hố mổ và phục hồi: Kiểm tra cầm máu hố mổ; nếu có rò dịch não tủy thì tiến hành bịt lấp nhiều lớp bằng mỡ tự thân (lấy từ mỡ bụng), cân cơ đùi hoặc vạt niêm mạc vách ngăn; đặt lại cuốn mũi giữa và cuốn mũi trên về vị trí giải phẫu ban đầu; kiểm tra hốc mũi và đặt bấc/vật liệu xốp tự tiêu cầm máu khi cần.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này hệ thống hóa toàn diện các kiến thức nền tảng:

  • Phân tích giải phẫu định khu hốc mũi: Cấu trúc tháp mũi, vách ngăn (sụn tứ giác, xương lá mía, mảnh đứng xương sàng), hệ thống cuốn mũi - ngách mũi và phức hợp lỗ ngách.
  • Cấu trúc giải phẫu học và các biến thể của xoang bướm: Ba thể thông khí theo Rhoton; vị trí lỗ thông tự nhiên nằm ở ngách bướm sàng; hệ thống vách ngăn xoang bướm và nguy cơ tổn thương động mạch cảnh trong, thần kinh thị giác khi vách ngăn gắn vào lồi xương thành bên; cấu trúc tế bào sàng bướm (tế bào Onodi).
  • Giải phẫu vùng hố yên và các cấu trúc liên quan: Cấu tạo 6 thành của hố yên; các thành phần chứa bên trong (tuyến yên, cuống yên, màng não); các cấu trúc kế cận có nguy cơ tổn thương (hoành yên, xoang tĩnh mạch hang, xoang tĩnh mạch gian hang trước, xoang tĩnh mạch nền, giao thoa thị giác, động mạch cảnh trong và các nhánh thuộc đa giác Willis).
  • Sinh lý mũi xoang và phương pháp đánh giá: Chức năng hô hấp (đo qua gương Glatzel, PNIF, Rhinomanometry, Acoustic rhinometry); chức năng khứu giác (UPSIT, PEA, EOG, điện thế gợi khứu giác).
  • Bệnh học, chẩn đoán phân biệt và điều trị u tuyến yên: Phân loại theo chức năng tiết hormone và hình ảnh học; phân biệt với u sọ hầu (có nang, vôi hóa), u màng não (dấu hiệu đuôi màng cứng), u tế bào mầm và nang Rathke; so sánh hiệu quả giữa điều trị nội khoa, xạ phẫu Gamma Knife, mổ mở nắp sọ, mổ vi phẫu qua xoang bướm và phẫu thuật nội soi.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận triển khai đề tài:

  • Xác lập tiêu chuẩn lựa chọn (bệnh nhân u tuyến yên có chỉ định mổ nội soi qua xoang bướm) và tiêu chuẩn loại trừ (bệnh nhân có chống chỉ định phẫu thuật, xoang bướm thể thiểu sản tuyệt đối không thể tiếp cận, u xâm lấn quá rộng sang hố sọ bên cần mở nắp sọ, bệnh nhân có bệnh lý mũi xoang mạn tính nặng làm mất khứu giác từ trước).
  • Chuẩn hóa các bước nghiên cứu: Khám lâm sàng chuyên khoa Tai Mũi Họng và Thần kinh; nội soi đánh giá hốc mũi trước mổ; đánh giá chức năng ngửi bằng bộ test PEA; chụp và phân tích phim CLVT mũi xoang lát mỏng và CHT sọ não; thực hiện phẫu thuật nội soi theo quy trình 4 thì chuẩn; theo dõi hậu phẫu, đánh giá tai biến trong mổ, kết quả lấy u và tình trạng chức năng, hình thái mũi xoang sau mổ ở các thời điểm quy định.
  • Quản lý sai số và đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học thông qua; bảo mật thông tin bệnh nhân; các đo đạc hình ảnh học và test ngửi được thực hiện theo quy trình thống nhất để giảm thiểu sai số chủ quan.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Căn cứ danh mục bảng và ảnh trong luận án, các kết quả chính được ghi nhận trên các phương diện:

  • Đặc điểm chung và lâm sàng: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, giới tính, tiền sử điều trị u tuyến yên (điều trị nội khoa, phẫu thuật trước đó); các triệu chứng cơ năng thường gặp (đau đầu, giảm thị lực, khiếm khuyết thị trường, rối loạn nội tiết).
  • Kết quả nội soi mũi trước mổ: Tình trạng niêm mạc và hình thái hốc mũi; xác định vị trí và số lượng lỗ thông tự nhiên xoang bướm; đo đạc khoảng cách thực tế từ lỗ thông xoang bướm đến tiểu trụ mũi.
  • Kết quả hình thái xoang bướm và các cấu trúc liên quan trên CLVT:
    • Tỷ lệ các loại xoang bướm theo mức độ thông khí (chiếm đa số là loại dưới và sau yên, một phần loại trước yên, tỷ lệ rất thấp loại thiểu sản).
    • Số lượng vách ngăn trong lòng xoang bướm (1 vách ngăn chính, 2 vách hoặc nhiều vách ngăn phụ).
    • Vị trí chân bám của vách ngăn: Tỷ lệ chân vách ngăn bám vào thành xương ống động mạch cảnh trong và thành xương ống dây thần kinh thị giác.
    • Tổn thương thành xương xoang bướm, mức độ mờ lòng xoang do u xâm lấn hoặc ứ đọng dịch; tỷ lệ xuất hiện tế bào Onodi.
    • Đánh giá mức độ lồi của động mạch cảnh trong và dây thần kinh thị giác vào xoang bướm (có hay không có vỏ xương bảo vệ); mối tương quan giữa khối u với động mạch cảnh trong và giao thoa thị giác.
    • Đánh giá hình thái hố yên, tình trạng mỏng hoặc thủng sàn hố yên, kích thước khối u (u lớn, u khổng lồ) và hướng phát triển xâm lấn của khối u theo phân loại Hardy.
  • Kết quả phẫu thuật và ảnh hưởng chức năng:
    • Đường vào hố yên qua một bên hay hai bên ngách bướm sàng; thời gian phẫu thuật trung bình.
    • Tỷ lệ các biến chứng trong và sau phẫu thuật (chảy máu, rò dịch não tủy, đái nhạt, suy tuyến yên, viêm màng não).
    • Kết quả mô bệnh học khối u sau mổ (u tuyến tiết Prolactin, GH, ACTH, u không tăng tiết).
    • Đánh giá mức độ lấy u (lấy toàn bộ, lấy gần toàn bộ hoặc lấy một phần u).
    • Tình trạng hình thái giải phẫu mũi xoang sau mổ: Hình thái cuốn mũi giữa, cuốn mũi trên, niêm mạc hốc mũi, sự thông thoáng của xoang bướm, tỷ lệ xơ dính hốc mũi và tỷ lệ thủng vách ngăn.
    • Đánh giá chức năng mũi xoang: Điểm mức độ ngạt mũi trước và sau mổ, triệu chứng chảy mũi, và sự phục hồi chức năng ngửi qua bộ thử PEA ở các mốc theo dõi.

Chương 4: Bàn luận

Chương Bàn luận đối chiếu các phát hiện của luận án với y văn trong nước và quốc tế:

  • Về hình thái giải phẫu học mũi xoang: So sánh khoảng cách từ tiểu trụ đến lỗ thông xoang bướm, tỷ lệ các dạng thông khí xoang bướm với các số liệu của Rhoton, Sethi, Kim, Nguyễn Hữu Dũng; phân tích ý nghĩa lâm sàng của việc nhận diện biến thể vách ngăn bám vào ống động mạch cảnh trong hoặc dây thần kinh thị giác (như ghi nhận của Unal, Sirikci) nhằm cảnh báo phẫu thuật viên tránh gây rách mạch máu lớn hoặc mù mắt khi bẻ vách ngăn.
  • Về kỹ thuật mổ nội soi: Bàn luận về ưu điểm vượt trội của ống nội soi góc rộng trong việc quan sát các ngóc ngách hố yên so với phẫu trường thẳng của kính hiển vi; phân tích thời gian phẫu thuật, các thì thao tác và kỹ thuật xử trí rò dịch não tủy bằng vật liệu tự thân (mỡ bụng, niêm mạc).
  • Về kết quả lấy u và mô bệnh học: So sánh tỷ lệ lấy u triệt để đối với các thể u trong hố yên và u có xâm lấn trên yên/xoang hang; đánh giá mối tương quan giữa phân loại Hardy với khả năng loại bỏ khối u.
  • Về ảnh hưởng đối với chức năng mũi xoang: Phân tích nguyên nhân gây biến đổi khứu giác tạm thời sau mổ (do phù nề niêm mạc ngách khứu, đóng vảy, can thiệp gần cuốn trên) và sự hồi phục dần theo thời gian đánh giá qua test PEA; chứng minh đường mổ nội soi qua lỗ thông tự nhiên bảo tồn cấu trúc giải phẫu vách ngăn và tháp mũi vượt trội hơn so với đường mổ dưới niêm mạc vách ngăn bằng kính hiển vi.
  • Đúc kết các thuận lợi, khó khăn và đề xuất các biện pháp phòng ngừa tai biến phẫu thuật.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn

  1. Dữ liệu giải phẫu học ứng dụng có hệ thống: Luận án cung cấp hệ thống số liệu chi tiết về đặc điểm giải phẫu mũi, các dạng thông khí xoang bướm, số lượng và vị trí bám của vách ngăn xoang bướm, cũng như tỷ lệ các biến thể giải phẫu nguy hiểm (động mạch cảnh trong và thần kinh thị giác lồi trần, tế bào Onodi) trên bệnh nhân u tuyến yên tại Việt Nam thông qua nội soi và phim CLVT.
  2. Chuẩn hóa quy trình phối hợp liên chuyên khoa: Xác lập và hoàn thiện quy trình phẫu thuật nội soi qua xoang bướm lấy u tuyến yên với sự phối hợp chặt chẽ giữa phẫu thuật viên Tai Mũi Họng và Phẫu thuật Thần kinh, tối ưu hóa các thì bộc lộ phẫu trường mũi xoang, mở hố yên, lấy u và đóng hố mổ.
  3. Đánh giá định lượng toàn diện về chức năng mũi xoang: Luận án là một trong những công trình tiên phong tại Việt Nam ứng dụng bộ test ngưỡng ngửi Phenyl Ethyl Alcohol (PEA) để định lượng chính xác sự thay đổi chức năng khứu giác trước và sau phẫu thuật nội soi hố yên; đồng thời đánh giá khách quan các biến đổi hình thái niêm mạc, cuốn mũi, tình trạng thông khí và các biến chứng mũi xoang sau mổ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Chỉ định chẩn đoán hình ảnh bắt buộc: Trước khi phẫu thuật u tuyến yên qua đường xoang bướm, người bệnh bắt buộc phải được chụp CLVT mũi xoang lát mỏng (kết hợp CHT sọ não) để khảo sát kỹ lưỡng các mốc giải phẫu: mức độ thông khí xoang bướm, vị trí chân bám vách ngăn, sự hiện diện của tế bào Onodi và mức độ che phủ xương của động mạch cảnh trong và thần kinh thị giác.
  • Kỹ thuật can thiệp bảo tồn: Khuyến cáo phẫu thuật viên ưu tiên tiếp cận qua lỗ thông tự nhiên xoang bướm, hạn chế tối đa việc cắt bỏ cuốn mũi hoặc can thiệp thô bạo vào sụn vách ngăn; sau khi lấy u cần đặt lại cuốn mũi giữa và cuốn mũi trên về đúng vị trí giải phẫu nhằm bảo tồn chức năng thở và ngửi cho bệnh nhân.
  • Phòng ngừa và xử trí rò dịch não tủy: Chuẩn bị sẵn sàng vật liệu tự thân (mỡ bụng, cân cơ) để bít lấp ngay trong mổ khi xuất hiện rò dịch não tủy, phòng ngừa biến chứng viêm màng não hậu phẫu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phẫu thuật nội soi qua xoang bướm bị hạn chế chỉ định đối với các trường hợp xoang bướm thể thiểu sản (lớp xương trước yên quá dày) hoặc các khối u có kích thước khổng lồ phát triển lan rộng sang hố sọ trước, hố sọ giữa hoặc u dạng đồng hồ cát xơ dính chặt vào vùng trên yên. Kỹ thuật đòi hỏi trang thiết bị phẫu thuật nội soi chuyên sâu, hệ thống định vị thần kinh và phẫu thuật viên được đào tạo chuyên môn cao.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu theo dõi dọc dài hạn chức năng nội tiết và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân; nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi mở rộng nền sọ (expanded endonasal approach) để tiếp cận các khối u phức tạp vùng hốc mắt, vùng dốc nền và các u nền sọ khác.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn thiết thực cho nhiều đối tượng trong ngành y tế:

  • Phẫu thuật viên Tai Mũi Họng và Phẫu thuật viên Thần kinh: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về các mốc giải phẫu định khu, các bẫy giải phẫu nguy hiểm và các bước kỹ thuật phối hợp trong phẫu thuật nội soi nền sọ qua đường mũi.
  • Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh: Hỗ trợ nhận diện các tiêu chí đánh giá giải phẫu xoang bướm, biến thể mạch máu - thần kinh và phân loại mức độ xâm lấn u tuyến yên trên phim CLVT và CHT.
  • Học viên sau đại học và Nghiên cứu sinh: Là tài liệu học thuật mẫu mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng kết hợp liên chuyên khoa, quy trình đánh giá khứu giác bằng bộ test PEA chuẩn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Đường mổ nội soi qua xoang bướm có ưu điểm gì nổi bật so với đường mổ vi phẫu qua vách ngăn bằng kính hiển vi?

Đường mổ nội soi qua lỗ thông tự nhiên xoang bướm cho phép quan sát phẫu trường rộng rãi với các góc nhìn linh hoạt (0°, 30°, 45°), kiểm soát trực tiếp các góc khuất trong hố yên để lấy u triệt để hơn. Đồng thời, kỹ thuật này không cần rạch rãnh lợi môi hay cắt bỏ rộng rãi vách ngăn mũi, giúp tránh được các biến chứng biến dạng sáp tháp mũi, tê môi răng, giảm thiểu nguy cơ xơ dính hốc mũi và rút ngắn thời gian hậu phẫu.

2. Tại sao việc khảo sát chân bám của vách ngăn xoang bướm trên phim CLVT trước mổ lại mang tính sống còn?

Khoảng 26,7% chân vách ngăn xoang bướm có thể bám trực tiếp vào lồi xương của ống động mạch cảnh trong và 19,6% bám vào ống thần kinh thị giác (theo y văn của Unal). Nếu không khảo sát trước trên phim CLVT, động tác bẻ gãy vách ngăn xoang bướm trong phẫu thuật có thể làm vỡ thành xương bảo vệ, gây rách động mạch cảnh trong (dẫn đến chảy máu ồ ạt, tử vong) hoặc tổn thương dây thần kinh thị giác (dẫn đến mù mắt).

3. Xoang bướm được phân loại thành những dạng thông khí nào và dạng nào thuận lợi nhất cho phẫu thuật nội soi?

Theo phân loại của Rhoton và Singh, xoang bướm được chia thành 3 loại:

  • Loại 1 (Thiểu sản - Conchal): Chiếm 1–3%, lớp xương trước hố yên dày > 10 mm, rất khó hoặc không thể can thiệp qua đường xoang bướm.
  • Loại 2 (Trước hố yên - Presellar): Chiếm 22–25%, hố yên bắt đầu lồi vào trần xoang bướm, phẫu thuật tương đối thuận lợi.
  • Loại 3 (Dưới và sau hố yên - Sellar & Postsellar): Chiếm 75–76%, hố yên lồi rõ vào lòng xoang bướm, là dạng giải phẫu phổ biến và thuận lợi nhất để mở sàn hố yên lấy u.

4. Luận án sử dụng phương pháp nào để đánh giá chức năng ngửi của bệnh nhân?

Tác giả sử dụng bộ test ngưỡng ngửi Phenyl Ethyl Alcohol (PEA) gồm 12 lọ dung dịch chuẩn độ nồng độ pha loãng theo thang logarit giảm dần, kết hợp phương pháp tăng dần nồng độ hoặc phương pháp bước đơn để xác định chính xác ngưỡng tiếp nhận mùi của bệnh nhân trước và sau mổ, giúp định lượng mức độ hồi phục hoặc rối loạn khứu giác một cách khoa học.

5. Những biến chứng phẫu thuật chính nào cần theo dõi và xử trí trong phẫu thuật nội soi qua xoang bướm?

Các biến chứng chính bao gồm: chảy máu nội sọ hoặc chảy máu mũi (do tổn thương động mạch cảnh trong hoặc động mạch bướm khẩu cái), tổn thương thần kinh thị giác/vận nhãn, tổn thương vùng dưới đồi, rò dịch não tủy trong và sau mổ, đái nhạt/suy tuyến yên, và viêm màng não do nhiễm trùng dịch não tủy.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thu Hằng là công trình nghiên cứu y học hoàn chỉnh, phản ánh tính ưu việt và độ an toàn của kỹ thuật phẫu thuật nội soi qua xoang bướm trong điều trị u tuyến yên. Thông qua việc phân tích sâu sắc các đặc điểm giải phẫu mũi - xoang bướm trên nội soi và cắt lớp vi tính, công trình cung cấp cơ sở thực chứng giúp phẫu thuật viên tiên lượng các biến thể mạch máu - thần kinh nguy hiểm và phòng ngừa tai biến trong mổ. Đồng thời, việc ứng dụng các thang đo khứu giác PEA và đánh giá hình thái học sau mổ đã khẳng định khả năng bảo tồn cấu trúc và chức năng mũi xoang vượt trội của phương pháp tiếp cận xâm lấn tối thiểu này. Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao đối với thực hành lâm sàng và đào tạo sau đại học thuộc hai chuyên ngành Tai Mũi Họng và Phẫu thuật Thần kinh.