Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư quanh bóng Vater

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi trong cắt khối tá tuỵ điều trị ung thư quanh bóng Vater, mang lại giải pháp điều trị hiệu quả.

Chuyên ngành

Ngoại Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2024

137
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy

Phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy là một kỹ thuật tiên tiến trong điều trị ung thư quanh bóng Vater. Kỹ thuật này đã được cải tiến từ những năm 1935, khi Whipple thực hiện ca phẫu thuật đầu tiên. Phẫu thuật nội soi mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân như giảm đau, thời gian hồi phục nhanh hơn và giảm nguy cơ biến chứng. Theo nghiên cứu, phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy có thể giảm thiểu lượng máu mất và tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ. Những cải tiến trong trang thiết bị và kỹ thuật đã giúp nâng cao hiệu quả của phương pháp này, khiến nó trở thành lựa chọn ưu tiên trong điều trị ung thư quanh bóng Vater.

1.1 Lịch sử và sự phát triển

Lịch sử phẫu thuật cắt khối tá tụy bắt đầu từ năm 1898 với ca mổ đầu tiên do Alessandro Codivilla thực hiện. Tuy nhiên, kỹ thuật này chỉ thực sự phát triển khi Whipple chuẩn hóa quy trình phẫu thuật vào năm 1935. Sự phát triển của phẫu thuật nội soi bắt đầu vào những năm 1990, với Gagner và Pomp là những người đầu tiên ứng dụng kỹ thuật này vào cắt khối tá tụy. Mặc dù ban đầu không phổ biến, nhưng nhờ vào những cải tiến trong công nghệ và kỹ thuật, phẫu thuật nội soi đã trở thành một phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị ung thư quanh bóng Vater.

1.2 Định nghĩa phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy

Phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy là một phương pháp phẫu thuật mà cả hai thì cắt và phục hồi lưu thông được thực hiện qua nội soi. Kỹ thuật này bao gồm việc cắt khối tá tụy và thực hiện các miệng nối như miệng nối tụy, mật và ống tiêu hóa. Đặc biệt, miệng nối tụy - ống tiêu hóa là phần khó khăn nhất và có nguy cơ cao về rò tụy. Việc thực hiện thành công miệng nối này qua phẫu thuật nội soi đòi hỏi kỹ năng cao và kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thiết kế để đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy trong điều trị ung thư quanh bóng Vater. Đối tượng nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân được chẩn đoán ung thư quanh bóng Vater và chỉ định phẫu thuật nội soi. Thời gian nghiên cứu kéo dài từ năm 2020 đến 2023 tại một số bệnh viện lớn. Các biến số được định nghĩa rõ ràng và phương pháp thu thập dữ liệu được thực hiện một cách hệ thống để đảm bảo tính chính xác và khách quan.

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm 65 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư quanh bóng Vater và chỉ định phẫu thuật nội soi. Các bệnh nhân được lựa chọn dựa trên tiêu chí chẩn đoán và tình trạng sức khỏe tổng quát. Mỗi bệnh nhân đều được thông báo về quy trình phẫu thuật và các rủi ro có thể xảy ra. Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu được thực hiện một cách cẩn thận nhằm đảm bảo tính đại diện cho quần thể bệnh nhân mắc ung thư quanh bóng Vater.

2.2 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu bao gồm các bước chuẩn bị trước phẫu thuật, thực hiện phẫu thuật nội soi và theo dõi sau phẫu thuật. Các biến số như thời gian mổ, lượng máu mất, tỉ lệ chuyển mổ mở và các biến chứng được ghi nhận và phân tích. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án và theo dõi lâm sàng. Phân tích số liệu được thực hiện bằng các phương pháp thống kê phù hợp để đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy có tỉ lệ thành công cao với ít biến chứng. Tỉ lệ chuyển mổ mở chỉ chiếm khoảng 10%, thời gian mổ trung bình là 180 phút và lượng máu mất ước tính trung bình là 200ml. Tỉ lệ rò tụy sau phẫu thuật là 12%, tương đương với các nghiên cứu quốc tế. Những kết quả này cho thấy phẫu thuật nội soi là một phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị ung thư quanh bóng Vater.

3.1 Tỉ lệ biến chứng

Tỉ lệ biến chứng trong nghiên cứu này được ghi nhận là 15%, bao gồm rò tụy, nhiễm trùng vết mổ và chảy máu. Những biến chứng này thường xảy ra trong giai đoạn đầu sau phẫu thuật và có thể được quản lý hiệu quả bằng các biện pháp điều trị thích hợp. Việc theo dõi chặt chẽ sau phẫu thuật là rất quan trọng để phát hiện sớm và xử lý kịp thời các biến chứng.

3.2 Đánh giá hiệu quả điều trị

Phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy không chỉ mang lại lợi ích về mặt thẩm mỹ mà còn giúp bệnh nhân hồi phục nhanh chóng hơn. Thời gian nằm viện trung bình là 5 ngày, ngắn hơn so với phẫu thuật mở. Điều này cho thấy phẫu thuật nội soi không chỉ an toàn mà còn hiệu quả trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân sau phẫu thuật.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư quanh bóng Vater là những tân sinh ác tính của vùng quanh bóng Vater (vùng bao quanh nhú tá lớn và cách nhú tá lớn tối đa 2 cm), bao gồm ung thư của đầu tụy, bóng Vater, đoạn cuối ống mật chủ và tá tràng đoạn thứ 2 (tá tràng D2)1– 4. Ung thư đầu tụy ít gặp hơn ung thư bóng Vater, nhưng tiên lượng sống xấu hơn và là loại ung thư dẫn đến tử vong nhiều thứ 4 trên thế giới. Tỉ lệ sống 5 năm của ung thư đầu tụy khoảng 12%5. Cho tới hiện nay, phẫu thuật cắt khối tá tụy vẫn giữ vai trò quan trọng trong điều trị những ung thư quanh bóng Vater6.

Kỹ thuật mổ cắt khối tá tụy ra đời từ lâu và người đầu tiên thực hiện thành công kỹ thuật này là tác giả Whipple7. Từ khi ca mổ đầu tiên thành công (vào năm 1935) đến nay, kỹ thuật mổ cắt khối tá tụy đã trải qua nhiều lần cải tiến. Trang thiết bị, dụng cụ dùng trong phẫu thuật cũng có cải tiến, những loại mới, hiện đại như dao cắt đốt siêu âm thế hệ mới,… đã được đưa vào sử dụng để nâng cao hiệu quả điều trị, giảm tỉ lệ biến chứng và tử vong của phẫu thuật4. Trong số đó, nổi bật là việc ứng dụng phẫu thuật nội soi vào kỹ thuật mổ cắt khối tá tụy để điều trị ung thư quanh bóng Vater8.

Vì sao phải ứng dụng phẫu thuật nội soi trong cắt khối tá tụy? Nghiên cứu của Palanivelu và nhiều nghiên cứu khác trên thế giới cho thấy phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy mang lại một số lợi ích cho người bệnh (tốt hơn mổ mở), trong khi sự an toàn và hiệu quả điều trị không kém hơn so với mổ mở, bao gồm hiệu quả điều trị ung thư9–13. Một số lợi ích (tổng hợp từ các nghiên cứu) của phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy như: giảm lượng máu mất, giảm tỉ lệ truyền máu, giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn vết mổ, ít đau sau mổ, phục hồi sớm sau mổ và rút ngắn thời gian nằm viện. Kết quả khả quan đó đã thu hút nhiều bác sĩ phẫu thuật và nhiều trung tâm trên thế giới áp dụng và phát triển kỹ thuật mổ này13,14. Ở nước ta, có vài trung tâm đã thực hiện phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy điều trị ung thư quanh bóng Vater từ hơn một thập kỷ qua15–20.

Mặc dù số ca phẫu thuật trong các báo cáo chưa nhiều, một số báo cáo chỉ áp dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ, nhưng kết quả thu được từ những nghiên cứu này đều rất khả quan. Trong 2 báo cáo 2 gần đây của Trần Mạnh Hùng và Trần Quế Sơn, tỉ lệ rò tụy dao động từ 13,4 – 13,7%, tương đương với mức chấp nhận được của thế giới20,21. Sau khi thực hiện thành công phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy để điều trị ung thư quanh bóng Vater cho một số trường hợp, chúng tôi có những câu hỏi như sau: nếu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy để điều trị ung thư quanh bóng Vater cho một mẫu lớn hơn, liệu tính khả thi của kỹ thuật mổ này có thay đổi theo chiều hướng xấu hơn không? Tai biến, biến chứng có nhiều không? Phẫu thuật nội soi có đảm bảo yêu cầu về chất lượng nạo hạch và diện cắt R0 (vi thể không có u sót lại) như những nghiên cứu trong và ngoài nước hay không? Đặc biệt là những phần diện cắt nằm sâu, khó phẫu tích để lấy đủ qua phẫu thuật nội soi như: phần móc tụy nằm sau bó mạch mạc treo tràng trên, phần cao của ống gan chung sát với chỗ hợp lưu của ống gan phải và trái (ở trường hợp ung thư ống mật chủ). Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi trên thông qua các mục tiêu sau đây: 1.

Xác định tỉ lệ chuyển mổ mở, thời gian mổ trung bình và lượng máu mất ước tính trung bình của phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy. Xác định tỉ lệ hoàn thành nạo hạch tiêu chuẩn qua phẫu thuật nội soi, số lượng hạch trung bình nạo vét được và tỉ lệ diện cắt đạt R0 của phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy 3. Xác định tỉ lệ tai biến, biến chứng, tử vong và chỉ số biến chứng cộng dồn toàn bộ trung bình của phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy. Tổng quan về phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy 1.1 Lịch sử và sự phát triển 1.1 Thế giới Ca mổ cắt khối tá tụy đầu tiên trên thế giới xảy ra vào năm 1898, do một bác sĩ phẫu thuật người Ý, Alessandro Codivilla thực hiện22.

Trong ca mổ này, tác giả cắt khối tá tụy và làm các miệng nối: dạ dày – hỗng tràng, túi mật – hỗng tràng, trong khi mõm cắt tụy thì khâu kín. Sau mổ, người bệnh tử vong vì hậu quả của rò tụy. Trong vài năm tiếp theo, không có bác sĩ phẫu thuật nào thực hiện cắt khối tá tụy. Đến năm 1904, tác giả Walther Kausch báo cáo đã thực hiện một trường hợp cắt khối tá tụy và người bệnh vẫn sống sau mổ4.

Trong ca mổ này, thay vì khâu kín mõm cắt tụy, tác giả nối mõm tụy với hỗng tràng. Sau đó, vài tác giả khác cũng mổ tương tự và cho kết quả tốt như: Georg Hirschel và Ottorino Tenani4. Tuy nhiên, kỹ thuật mổ như các tác giả ở thời kỳ này chưa có hệ thống, đặc biệt là phần cắt rộng để đảm bảo về mặt ung thư. Whipple là người đầu tiên cắt khối tá tụy một cách có hệ thống và cắt rộng một cách triệt để7.

Do đó, các tác giả sau này đặt tên là cắt khối tá tụy tận gốc và có thể chỉ định để điều trị ung thư quanh bóng Vater. Mặc dù không phải là người đầu tiên thực hiện cắt khối tá tụy thành công, nhưng với kỹ thuật mổ có chuẩn hóa, Whipple được xem là cha đẻ của phẫu thuật này. Theo tác giả Griffin và cộng sự, phương pháp mổ này mang tên Whipple là xứng đáng4. Ngày nay, khi nói đến phẫu thuật cắt khối tá tụy là nói đến cắt khối tá tụy tận gốc theo nguyên tắc cắt triệt để của Whipple, dù rằng đã có nhiều cải tiến trong kỹ thuật mổ23–25.

Đến năm 1994, Gagner và Pomp đã ứng dụng phẫu thuật nội soi trong cắt khối tá tụy và ca mổ đã thành công. Theo tác giả, cắt khối tá tụy bằng phẫu thuật nội soi là một kỹ thuật khả thi8. Tuy nhiên, kỹ thuật mổ này kém phát triển và không phổ biến nhiều ra thế giới trong gần hai thập kỷ đầu sau đó26. Theo số liệu ung thư quốc gia Hoa Kỳ, trong 4421 người bệnh cắt khối tá tụy trong thời gian 2 năm (2010 và 2011), chỉ có 9% các trường hợp được mổ nội soi8,27.

Cũng theo số liệu này, chỉ có 4 1% các trung tâm mổ nội soi cắt khối tá tụy từ 10 trường hợp trở lên. Nguyên do là bản thân cắt khối tá tụy là một phẫu thuật rất khó về mặt kỹ thuật vì tụy nằm ở sau phúc mạc, một vị trí không thuận lợi cho phẫu tích và bộc lộ phẫu trường; khối tá tụy còn nằm cạnh các cấu trúc quan trọng mà nếu bị tổn thương thì có thể nguy hiểm đến tính mạng người bệnh, ví dụ như động mạch mạc treo tràng trên và ca mổ còn có nhiều miệng nối phức tạp ngay cả khi mổ mở. Vì thế, để tiến hành phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy một cách an toàn thì cần rất nhiều kỹ năng về phẫu thuật nội soi28–32. Những năm gần đây, có nhiều trang thiết bị, dụng cụ hiện đại ra đời và được sử dụng trong phẫu thuật nội soi nhằm giảm bớt sự khó khăn của cuộc mổ, rút ngắn thời gian mổ và làm cho cuộc mổ trở nên an toàn hơn4.

Những thế hệ mới của các dụng cụ về năng lượng dùng trong phẫu thuật như dao cắt đốt siêu âm, Ligasure,… giúp cho việc phẫu tích trở nên nhanh chóng, an toàn hơn, đặc biệt là giảm mất máu đáng kể và phẫu trường trở nên tốt hơn. Các thế hệ máy nội soi với độ phân giải cao, cung cấp hình ảnh rõ nét giúp tạo phẫu trường tốt,. những tiến bộ này giúp ích rất nhiều cho bác sĩ phẫu thuật. Bên cạnh sự cải tiến về trang thiết bị, những kinh nghiệm tích luỹ được từ giai đoạn trước cũng đã góp phần nâng cao hiệu quả phẫu thuật như giảm tỉ lệ biến chứng và tử vong xuống tới mức có thể chấp nhận được như hiện nay33.

Nhờ đó, các bác sĩ ngoại khoa tự tin hơn khi thực hiện phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy. Ngoài ra, một số báo cáo cho thấy phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy mang lại nhiều lợi ích hơn so với mổ mở như: vết mổ nhỏ, ít mất máu trong mổ, … nhờ đó giúp giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn, tăng khả năng hồi phục sau mổ và rút ngắn thời gian nằm viện31,32,34. Trong khi đó, sự an toàn và hiệu quả điều trị của phẫu thuật nội soi không kém hơn so với mổ mở10,35–39. Đây cũng là một yếu tố đóng góp quan trọng cho sự phát triển của phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy.

Những năm gần đây, phương pháp mổ này ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới và ngày càng có thêm nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này40–43.2 Trong nước Các bệnh viện ở Việt Nam triển khai phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy muộn hơn trên thế giới, chỉ mới bắt đầu được hơn một thập kỷ qua và báo cáo sớm nhất vào 5 năm 200819. Một số trung tâm khởi đầu bằng phẫu thuật nội soi hoàn toàn, trong khi một số khác áp dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ15–20. Chỉ định chính cho phẫu thuật nội soi trong các báo cáo này là ung thư bóng Vater15–20. Tất cả các trường hợp trong báo cáo của Lê Huy Lưu (2010) và Nguyễn Hoàng Bắc (2013) đều là ung thư bóng Vater15,16.

Trong nghiên cứu của Trần Quế Sơn (2018), ung thư bóng Vater chiếm 4/5 số trường hợp18. Theo một số báo cáo trong nước, tỉ lệ chuyển mổ mở dao động từ 20% đến 21,4%17,19. Không có trường hợp nào chuyển mổ mở trong cả báo cáo của Lê Huy Lưu và Nguyễn Hoàng Bắc (2 nghiên cứu thực hiện phẫu thuật nội soi hoàn toàn). Chỉ 1 trường hợp bị rò tụy trong nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Bắc, chiếm 7,6%.

Phẫu thuật nội soi cắt khối tá tụy vẫn tiếp tục phát triển ở Việt Nam trong những năm gần đây và kết quả của sự phát triển này thể hiện qua một số nghiên cứu đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước. Trong đó, có vài nghiên cứu so sánh giữa mổ nội soi và mổ mở.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu phẫu thuật nội soi cắt khối tá tuỵ điều trị ung thư quanh bóng Vater" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư quanh bóng Vater, một loại ung thư hiếm gặp nhưng nguy hiểm. Nghiên cứu này không chỉ phân tích hiệu quả của kỹ thuật phẫu thuật mà còn nhấn mạnh những lợi ích như giảm thiểu đau đớn cho bệnh nhân, thời gian hồi phục nhanh hơn và tỷ lệ biến chứng thấp hơn so với phẫu thuật mở truyền thống. Điều này mang lại hy vọng cho những bệnh nhân mắc bệnh này, đồng thời mở ra hướng đi mới trong điều trị ung thư.

Để tìm hiểu thêm về các phương pháp điều trị ung thư khác, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu điều trị ung thư vú giai đoạn di căn bằng hóa trị phối hợp anthracycline và taxane, nơi nghiên cứu về hóa trị liệu trong điều trị ung thư vú. Ngoài ra, bài viết Luận án kết quả điều trị ung thư trực tràng thấp trung bình giai đoạn tiến triển tại chỗ bằng xạ trị gia tốc trước phẫu thuật kết hợp với capecitabine cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị ung thư khác. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu về Luận văn hóa hữu cơ ung thư máu thuốc, một nghiên cứu liên quan đến điều trị ung thư máu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các phương pháp điều trị ung thư hiện đại.