Chương 1 TỔNG QUAN 1. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, GIẢI PHẪU VÀ MÔ HỌC CỦA ỐNG TIÊU HÓA Ống tiêu hóa chính thức bắt đầu từ thực quản đến tận cùng là hậu môn, mỗi đoạn có chức năng khác nhau, ngoài những cấu trúc đặc biệt của mỗi đoạn, thành ống tiêu hóa có cấu trúc cơ bản chung giống nhau, từ trong ra ngoài bao gồm 4 tầng: Hình 1. Các lớp của thành ống tiêu hóa [17] - Tầng niêm mạc: chia làm 3 lớp + Lớp biểu mô: lợp trên bề mặt niêm mạc, biểu mô lát tầng không sừng hóa ở thực quản và hậu môn, biểu mô trụ đơn ở dạ dày và ruột. + Lớp đệm: là mô liên kết thưa, trong có tuyến, mạch máu, bạch huyết, đầu tận cùng thần kinh.
+ Lớp cơ niêm: trong sợi vòng, ngoài sợi dọc - Tầng dưới niêm mạc: tạo bởi mô liên kết thưa nhiều sợi chun, mạch máu, mạch bạch huyết, sợi thần kinh, có thể có tuyến. - Tầng cơ: tạo bởi bó sợi cơ trơn (trừ 1/4 trên thực quản là cơ vân), trong hướng vòng, ngoài hướng dọc. - Tầng thanh mạc: là màng bọc bởi mô liên kết thưa, mặt ngoài lợp bởi lớp trung biểu mô. 4 Khi u nằm ở các vị trí khác nhau của ÔTH thì sẽ có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng khác nhau.
Thực quản Thực quản là đoạn đầu của ống tiêu hoá, nối hầu với dạ dầy. Miệng thực quản nằm ngang bờ dưới sụn nhẫn. Đầu dưới đổ vào bờ phải phình vị lớn gọi là tâm vị. Ở người lớn, chiều dài thực quản vào khoảng 25 cm, đường kính trung bình là 2 - 3 cm [18].
Thực quản có 4 chỗ hẹp, ngang vị trí của sụn nhẫn, chỗ chia đôi của khí quản, cơ hoành và tâm vị. Liên quan thực quản [19] Cấu trúc thành thực quản cũng giống cấu trúc chung ÔTH, có một số điểm khác biệt sau: - Biểu mô lợp niêm mạc là biểu mô lát tầng không sừng hóa, riêng đoạn nối tiếp thực quản và tâm vị có chuyển tiếp sang biểu mô trụ đơn. - Lớp cơ 1/4 trên gồm những sợi cơ vân cả lớp trong và ngoài, 3/4 dưới thay thế dần bởi cơ trơn. Giữa 2 lớp có đám rối thần kinh Auerbach.
Khi có tổn thương tại thực quản, triệu chứng thường gặp là nuốt nghẹn, đau tức ngực khi u to hoặc xâm lấn xung quanh, nội soi ống mềm là một trong các phương pháp chẩn đoán hoặc điều trị (cắt niêm mạc hoặc dưới niêm mạc), ngoài xạ trị thì phẫu thuật cắt toàn bộ thực quản là cách điều trị phổ biến. Dạ dày Dạ dày có hai chức năng vừa cơ học vừa có chức năng hóa học. Thành dạ dày cũng có 4 lớp giống cấu tạo chung nhưng có điểm khác biệt sau [18]: 5 - Biểu mô lợp là trụ đơn có chức năng chế tiết nhầy, tác dụng bảo vệ biểu mô khỏi axit clohydric thường xuyên có mặt trong dịch dạ dày. - Lớp đệm chứa một lượng lớn tuyến nên mô liên kết chỉ còn lại các dải mô mỏng gồm các tế bào sợi, sợi cơ trơn, mạch máu và bạch huyết nhỏ.
- Một số men quan trọng trong chức năng hóa học của dạ dày: men pepsin tổng hợp bởi tế bào chính của tuyến đáy vị chức năng tiêu hóa các loại protein trong môi trường acid. Tế bào viền ở đáy vị có khả năng chế tiết acid, còn gastrin được tạo ra từ tế bào Hình 1.Các lớp cơ dạ dày [19] ưa bạc kích thích sự chế tiết acid và kích thích sinh men ở tế bào chính. - Tầng cơ gồm 3 lớp cơ trơn từ trong ra: cơ hướng chéo, hướng vòng và hướng dọc. Những tổn thương tại dạ dày chủ yếu gây ra triệu chứng đau bụng vùng thượng vị hoặc xuất huyết tiêu hóa, rất hiếm gặp tắc ruột cao.
Do đặc điểm giải phẫu nên có nhiều cách thức phẫu thuật tại dạ dày như: cắt toàn bộ, cắt bán phần hoặc cắt hình chêm. Ruột non Có chiều dài 4-6m, chia làm ba đoạn tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng với 3 chức năng chính: - Đẩy dưỡng trấp từ dạ dày tới xuống phía dưới. - Tiếp tục tiêu hóa bằng các chất từ các tuyến trong ÔTH và các tuyến phụ nằm ngoài (gan, tụy). - Hấp thụ từ máu và bạch huyết trong niêm mạc những chất dinh dưỡng sinh ra từ tiêu hóa.
6 Cấu trúc cần nhấn mạnh trong thành của ruột non: + Những nếp gấp của niêm mạc tạo thành các van ngang (ở tá tràng chưa có), trên niêm mạc có nhiều các nhung mao ruột làm tăng diện tích hấp thụ. Trong biểu mô có 3 loại tế bào: tế bào mâm khía (hấp thụ), tế bào hình đài và tế bào ưa bạc. + Lớp đệm có nhiều loại tế bào, trong đó nhiều nhất là tế bào lympho, Hình 1. Các lớp của thành các nang bạch huyết tập trung đoạn ruột non [19] cuối hồi tràng thành mảng Payer có tác dụng bảo vệ.
Ngoài ra còn có thần kinh, các tuyến Lieberkun, Brunner (tá tràng). Khác với các vị trí tiêu hóa cao, các khối u tại ruột non thường gây ra triệu chứng tắc ruột, bán tắc ruột, lồng ruột hoặc thủng ruột viêm phúc mạc, do ruột non có chiều dài 4-6m và nội soi ống mềm chỉ soi được đến tá tràng và đoạn hồi manh tràng nên việc chẩn đoán u ruột non khó khăn hơn. Phẫu thuật thường là cắt đoạn ruột non kèm u, nối tắt hoặc đưa ra ngoài làm hậu môn nhân tạo. Đại trực tràng, hậu môn Bắt đầu từ chỗ ruột non gấp nếp tạo thành van hồi manh tràng (van Bauhin) lồi vào trong lòng ruột cho đến trực tràng.
Thành của ruột già cũng gồm 4 tầng áo đồng tâm giống như ruột non nhưng có điểm khác biệt [18]: - Mặt niêm mạc ruột già nhẵn, không có van và nhung mao. Khung đại tràng [19] 7 - Lớp cơ dọc ở ngoài không hình thành một lớp liên tục mà xếp thành ba dải cơ dày riêng biệt, ở trực tràng ba bó cơ dọc lại phân tán ra thành lớp cơ dọc bao quanh thành ruột. - Đến vùng hậu môn lớp niêm mạc xếp thành ba nếp dọc gọi là cột hậu môn (trụ Morgani). 2cm phía trên lỗ hậu môn có sự chuyển tiếp của biểu mô trụ đơn thành biểu mô lát tầng - đây là vùng chuyển tiếp giữa niêm mạc và da.
Nội soi ống mềm đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán các khối u tại đại trực tràng, triệu chứng có thể gặp bán tắc hoặc tắc ruột và XHTH thấp. Do đại tràng chứa nhiều vi khuẩn nên khi thủng ÔTH thấp gây viêm phúc mạc sẽ làm tình trạng bệnh nhân nặng hơn nhiều so với u tại đoạn ÔTH cao. TỔNG QUAN VỀ CÁC HÌNH THÁI LÂM SÀNG VÀ GIẢI PHẪU BỆNH CỦA CÁC LOẠI UNG THƯ ÔTH KHÔNG THUỘC BIỂU MÔ. Tùy theo vị trí của tổn thương tại vị trí khác nhau của ÔTH mà các triệu chứng và hình thái lâm sàng sẽ khác nhau, như dấu hiệu nuốt nghẹn thường gặp khi u ở thực quản [20], tắc ruột gặp nhiều ở ruột non và đại tràng, rất ít gặp ở dạ dày, lồng ruột lại hay gặp khi u ở hồi manh tràng.
Đồng thời, loại u khác nhau sẽ có tính chất tổn thương đặc trưng khác nhau như u GIST hay gặp triệu chứng XHTH cao (dạ dày, hỗng tràng) [21], trong khi đó VFM, thủng ruột gây viêm phúc mạc lại hay xảy ra ở u lympho và thường xuất hiện ở hồi tràng nhiều hơn [22]. Phân loại mô bệnh học ung thư ống tiêu hóa là một vấn đề phức tạp cũng giống như các loại ung thư khác. Trên thế giới từ trước đến nay có nhiều hệ thống phân loại ung thư cho hệ tiêu hóa đã được đề nghị nhưng hiện vẫn còn tồn tại nhiều cách phân loại, tuy nhiên gần đây có những thay đổi về quan niệm và phân loại các u này. Theo phân loại mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới [2], các khối u ống tiêu hóa được chia thành 3 nhóm lớn là các u có nguồn gốc từ biểu mổ, các u không có nguồn gốc từ biểu mô và các ung thư thứ phát.
Mã hình thái theo phân loại quốc tế về bệnh tật cho ung thư học (Morphology code of the International Classification of Diseases for 8 Oncology (ICD-O)) xuất bản lần 3 (3rd edition) được hiệu chỉnh lần 1 năm 2013, lần 2 năm 2019 và khuyến cáo sử dụng từ năm 2020 [23], đã phân loại giải phẫu bệnh khối u không thuộc biểu mô (Non-epithelial tumours) của ống tiêu hóa bao gồm như sau: Bảng 1. Phân loại giải phẫu bệnh u không thuộc biểu mô của ÔTH [2] Mã hình thái STT Loại ung thư Tên quốc tế ICD-O 1 U tế bào hạt Granular cell tumour 9580 2 U mô đệm dạ dày ruột Gastrointestinal stromal tumour 8936 3 U cơ trơn ác tính Leiomyosarcoma 8890 4 U cơ vân ác tính Rhabdomyosarcoma 8900 5 Ung thư Kaposi Kaposi sarcoma 9140 6 U hắc tố ác tính Malignant melanoma 8720 9680, 9699, 7 U lympho ác tính Malignant lymphomas 9702, 9687. 8 U mạch máu ác tính Angiosarcoma 9120 9 U mỡ ác tính Liposarcoma 8850 10 U cuộn mạch Glomus tumour 8711 U vỏ bao thần kinh 11 Malignant schwannoma 9560 ác tính 1. Đặc điểm lâm sàng U cơ trơn ác tính là loại u ác tính có nguồn gốc tế bào là các sợi cơ trơn, thường xuất hiện ở độ tuổi trung niên hoặc những người lớn tuổi, tuy nhiên cũng có thể có ở người trẻ thậm chí cả trẻ em như trong thống kê với 19 trường hợp trong hơn 60 năm của nhóm tác giả Aggarwal [24] [25].
Trong số u ác tính phần mềm, u cơ trơn ác tính chiếm khoảng 7%, chủ yếu ở dạ dày (40%), tử cung (24%) và sau phúc mạc (19%) [26, 27], tại ống 9 tiêu hóa vị trí thường gặp nhất là dạ dày [28], hỗng tràng ít gặp hơn, còn ở thực quản, đại trực tràng và tá tràng thì hiếm hơn rất nhiều. Khối u có thể phát triển từ lớp cơ hay lớp cơ niêm thậm từ thành của các mạch máu của ÔTH [29], vào trong lòng ÔTH hoặc ra ngoài tổ chức lân cận, 30-50% có thâm nhiễm vào lớp niêm mạc [30]. Khối u thường có kích thước lớn, có vỏ, có thể thành múi, mật độ chắc màu trắng xám, có thể tiến triển loét, xen kẽ vùng chảy máu, hoại tử [31, 32]. Có những trường hợp khối u phát triển ở dạng polyp, cứng và thâm nhiễm [24].