CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƯỢC VỀ GIẢI PHẪU, SINH LÝ RUỘT THỪA VÀ PHÚC MẠC 1. Giải phẫu và sinh lý ruột thừa 1. Giải phẫu ruột thừa Ruột thừa (RT) là một cấu trúc hình ống dài và hẹp, xuất phát từ mặt sau trong của manh tràng, khoảng 2 cm bên dưới van hồi – manh tràng, liên quan phía sau với cơ thắt lưng chậu và đám rối thần kinh thắt lưng, liên quan phía trước với thành bụng, mạc nối lớn, hoặc các quai hồi tràng.
Trên xác, đỉnh manh tràng thường được tìm thấy ở vị trí giữa dây chằng bẹn phải. Trên người sống, vị trí của manh tràng thay đổi theo tư thế, hô hấp, trương lực cơ thành bụng và tình trạng ruột chướng hơi. Khi đứng thẳng, manh tràng và RT thường ở ngay trên đường cung xương chậu. Từ đỉnh của manh tràng, ruột thừa có thể dài ra theo mọi hướng và đầu RT có thể ở bất kỳ vị trí liên quan đến tất cả các tạng trong ổ bụng trừ lách [7].
Đặc điểm hằng định duy nhất của RT là vị trí xuất phát ở manh tràng: chỗ hội tụ của ba dải cơ dọc. Điểm này thường nằm ở bờ sau trong của manh tràng, khoảng 1,7 – 2,5 cm dưới phần tận cùng của chỗ nối hồi – manh tràng. Chiều dài RT thay đổi từ 2 đến 20 cm, trung bình 8,3 cm. Y văn mô tả nhiều vị trí của RT, thường gặp nhất là các vị trí: hướng lên trên sau manh tràng, hướng qua trái sau hồi tràng và hướng xuống dưới vào tiểu khung [7].
Lỗ hồi tràng chiếu lên điểm McBurney ở thành bụng (điểm giữa của đường nối rốn – gai chậu trước trên bên phải). Nguyên ủy RT chiếu lên điểm McBurney, điểm Lanz (nối 1/3 phải và 2/3 trái của đường nối gai chậu trước trên hai bên).Tuy luan an 4 nhiên, do vị trí manh tràng thay đổi, các điểm quy chiếu này chỉ có giá trị như các điểm định hướng sơ khởi. Một nghiên cứu công bố trước đây của Cecil P. và cs (1933) với cỡ mẫu lớn khoảng 10.000 ca cho thấy vị trí ruột thừa sau manh tràng chiếm tỷ lệ cao nhất (65,0%), kế tiếp là vị trí vùng chậu (31,7%), sau hồi tràng (3,3%), trước hồi tràng và dưới manh tràng chiếm tỷ lệ thấp nhất (0%) [8].
Nghiên cứu gần đây được thực hiện tại Brazil năm 2015 cũng cho thấy vị trí sau manh tràng chiếm tỷ lệ cao nhất (43,5%), kế đến là dưới manh tràng (24,4%) [9]. Các vị trí thường gặp của ruột thừa Nguồn: theo Sandro C. Thành ruột thừa có cấu tạo gồm bốn lớp giống như manh tràng: lớp thanh mạc, cơ, dưới niêm mạc và niêm mạc. Các lớp phân biệt với nhau bởi yếu tố đặc trưng: lớp thanh mạc ngoài cùng bao phủ lớp cơ dọc, lớp niêm mạc và lớp dưới niêm có nhiều hạch lympho.
Bởi vì ruột thừa là một phần của manh tràng và manh tràng thì không có mạc treo, nên ruột thừa cũng vậy.Tuy nhiên, có một nếp gấp phúc mạc bao quanh động mạch ruột thừa thường được luan an 5 biết đến như mạc treo ruột thừa. Mạc treo ruột thừa thuộc thời kỳ phôi thai có nguồn gốc từ mặt sau của mạc treo hồi tràng đoạn cuối. Mạc này dính vào manh tràng và ruột thừa đoạn gần, chứa động mạch ruột thừa. Mạc treo ruột thừa thường ngắn hơn so với ruột thừa, điều này có thể làm cho ruột thừa bị uốn cong.
Chiều dài ruột thừa trung bình được báo cáo bởi Collins D. (1932) vào khoảng 8,2 cm, có đến 61% trong 4.680 ca có chiều dài ruột thừa từ 6 – 9 cm [10]. Nghiên cứu của Sandro C. Động mạch ruột thừa bắt nguồn từ động mạch hồi đại tràng, nhánh hồi tràng, hoặc từ động mạch manh tràng.
Nghiên cứu của Solanke T. và cs (1968) trên 100 tử thi cho thấy sự đa dạng về mô hình cung cấp máu cho ruột thừa [11]: có 80/100 tử thi, ngoài nhánh động mạch chính, còn có một hoặc nhiều nhánh động mạch ruột thừa phụ. Tác giả này cũng lưu ý đến tần suất cao của sự thông nối động mạch, điều này có thể có lợi trong trường hợp tắc nhánh động mạch ruột thừa chính.Tĩnh mạch và động mạch ruột thừa được bao bọc bởi mạc treo ruột thừa.Tĩnh mạch ruột thừa cùng với các tĩnh mạch manh tràng hội lưu thành tĩnh mạch hồi đại tràng, là một nhánh của tĩnh mạch đại tràng phải. Sự đa dạng về cung cấp máu cho ruột thừa Nguồn: theo Solanke T.
Sinh lý ruột thừa Ruột thừa từ lâu đã được cho là một cơ quan có ít chức năng lâm sàng rõ ràng. Tuy nhiên, nó có thể có một chức năng miễn dịch, đặc biệt là ở trẻ em và thanh thiếu niên. Mô bạch huyết đầu tiên xuất hiện bên dưới biểu mô của ruột thừa trong tuần thứ 14 của thai kỳ, mô bạch huyết dần dần tăng theo thời gian cho đến khi niên thiếu, và sau đó thoái triển. Mô bạch huyết ruột thừa, cùng với mô bạch huyết của amiđan và các mảng của Peyer, khác với các hạch bạch huyết điển hình ở chỗ không có mạch bạch huyết nào dẫn ra từ mô này.
Một số người cho rằng mô bạch huyết của ruột thừa có vai trò trong giám sát miễn dịch của ruột [12]. Việc cung cấp máu cho ruột thừa là động mạch ruột thừa, một nhánh tận của nhánh sau manh tràng của động mạch hồi đại tràng, chính nó bắt nguồn từ động mạch mạc treo tràng trên. Do động mạch là động mạch tận nên không thể tăng tưới máu khi viêm cấp tính, dẫn đến thiếu máu cục bộ và gia tăng thủng sau đó. Đặc điểm cấu trúc được đánh giá thấp này của tưới máu có thể là một yếu tố quan trọng nhân quả trong nguyên nhân tổng thể của viêm ruột thừa [12].
Giải phẫu và sinh lý phúc mạc 1. Giải phẫu phúc mạc Phúc mạc là màng thanh mạc trơn láng, bọc lót phần trong mặt bụng, bao bọc kín hay che phủ một phần các tạng trong xoang bụng. Diện tích khoảng 1,8 – 2,2 m² (tương đương diện tích da). Phúc mạc bao gồm lá thành lót mặt trong thành ổ bụng và lá tạng bao bọc các tạng và ống tiêu hóa, trừ đoạn cuối trực tràng.
Lá phúc mạc thành trước được chi phối bởi sáu đôi dây thần kinh ngực dưới cùng nên rất nhạy cảm với mọi kích thích.Trong khi lá phúc mạc thành sau và tiểu khung thì kém nhạy cảm hơn. Lá phúc mạc tạng gần như vô cảm, nhưng nếu kích thích đủ mạnh và kéo dài như viêm nhiễm luan an 7 kéo dài thì nó có thể bị kích thích. Phúc mạc được cấu tạo bởi một lớp tế bào trung mô có nhiều vi long mao, chiều dài vi long mao từ 1 – 3 µm, nhờ vậy tăng diện tích tiếp xúc lên nhiều lần. Lớp tế bào của phúc mạc được nuôi dưỡng bởi một lưới mạch máu dồi dào, nằm trên một lớp mô liên kết lỏng lẻo, có thể tách ra được ở phía thành bụng.
Các tế bào này gồm hai nhóm: hình trụ và dẹt, giữa những tế bào có những lỗ mở giúp cho sự trao đổi chất có chọn lọc, tuỳ theo kích thước của các phân tử đi qua, đôi chỗ các lỗ mở có thể rộng đến 500 Angstroms. Tình trạng viêm của lá phúc mạc làm cho kích thước các lỗ này rộng ra. Khoang phúc mạc là một khoang ảo, chứa khoảng 75 – 100 ml dịch màu vàng trong, có nhiều protein (nồng độ khoảng 3 g/l), đảm bảo độ trơn láng của phúc mạc. Ở phụ nữ, khoang phúc mạc thông với bên ngoài qua lỗ của loa vòi trứng.
Khoang phúc mạc gồm túi nhỏ (còn gọi là hậu cung mạc nối) thông với túi lớn (phần còn lại) qua khe Winslow. Túi lớn được chia làm hai tầng dựa vào đại tràng ngang và mạc treo của nó. Tầng trên gồm dạ dày, tá-tụy, gan, mật, lách. Tầng trên lại chia thành hai khu trái và phải bởi dây chằng liềm của gan.
Tầng dưới cũng chia thành hai khu trái và phải bởi mạc treo ruột non nhưng không rõ rệt. Mạc treo đại tràng sigma nếu đủ rộng có thể đậy lên tiểu khung giống như một cái nắp phân cách các tạng trong ổ bụng với tiểu khung. Do sự phân khu giải phẫu như vậy mà máu, dịch mủ trong ổ bụng có thể lan ra nhiều nơi gây VPM toàn thể hoặc là chỉ khu trú tại chỗ gây VPM khu trú [13]. Sinh lý phúc mạc Chức năng tiết dịch: phúc mạc là một màng lọc hai chiều cho phép nước và chất hòa tan thấm qua theo nồng độ thẩm thấu.
Khi bị viêm, lá phúc mạc sẽ tiết rất nhiều dịch. Lá phúc mạc dày thêm khoảng 1 mm tương đương lượng dịch ứ đọng là 1,8 lít. Do vậy, mất nước trong VPM tương đương với luan an 8 diện tích bỏng 80%. Sự chênh lệch áp lực trong ổ bụng khi cơ hoành hoạt động làm cho dịch di chuyển trong ổ bụng [13].
Khả năng hấp thu: lá phúc mạc có khả năng tái hấp thu dịch, chất điện giải, máu và khí. Khoảng 70% lượng máu trong ổ bụng được tái hấp thu qua các kênh bạch huyết ở dưới vòm hoành. Đây là nơi vận chuyển chủ yếu của các chất, kể cả vi khuẩn, vào trong khoang phúc mạc. Chất khí cũng được hấp thu theo cách tương tự.
Sau phẫu thuật, khí trong ổ bụng sẽ được hấp thu trong vòng 4 – 5 ngày. Khi phúc mạc bị viêm, nó hấp thu cả độc tố của vi khuẩn nên dẫn đến tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc. Chức năng bảo vệ: mạc nối và mạc treo chứa nhiều mạch máu và mạch bạch huyết bên trong có thể đáp ứng miễn dịch với sự viêm nhiễm trong khoang phúc mạc. Chúng cung cấp các đại thực bào đồng thời di chuyển đến vùng viêm nhiễm để bao bọc, khu trú ổ viêm nhiễm lại thành một ổ áp xe [14].
SINH LÝ BƠM CO2 KHOANG PHÚC MẠC Bơm khí vào khoang phúc mạc là yếu tố rất quan trọng đóng góp cho thành công của phẫu thuật nội soi ổ bụng. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cơ thể khi bơm hơi vào khoang phúc mạc như áp suất ổ bụng, thể tích ổ bụng, tác dụng của thuốc gây mê, thuốc giãn cơ… 1. Thay đổi về hô hấp Khi bơm hơi vào ổ bụng , áp lực ổ bụng tang và cơ hoành bị đẩy lên cao. Những thay đổ này làm tăng áp lực trong ngực, làm giảm thể tích thông khí phổi, giảm thể tích cặn chức năng tức là làm giảm số khí có trong phổi cuối thì thở ra.
Khí được dùng để bơm vào làm căng ổ bụng là chất khí có tính khuếch tán cao, nhờ vậy hạn chế được nguy cơ thuyên tắc khí trong trường hợp bơm nhầm vào mạch máu và khí được hấp thu nhanh qua màng bụng.