Tổng quan luận án
Viêm mũi xoang là bệnh lý phổ biến trong chuyên khoa Tai Mũi Họng, xuất hiện ở cả người lớn và trẻ em, tiến triển kéo dài và có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng. Nguyên nhân của viêm mũi xoang mạn tính được phân thành ba nhóm chính: do biến đổi cấu trúc giải phẫu (bóng khí cuốn giữa concha bullosa, bóng sàng quá phát, mỏm móc quá phát hoặc đảo chiều), do yếu tố môi trường (virus, dị ứng, khói bụi, thuốc lá) và do bệnh toàn thân (hội chứng rối loạn vận động lông chuyển). Các nguyên nhân này làm suy giảm dẫn lưu dịch nhầy, gây ứ đọng tại phức hợp lỗ - ngách và chuyển hóa thành viêm mũi xoang mạn tính. Theo các hướng dẫn điều trị, khi điều trị nội khoa không mang lại kết quả, phẫu thuật nội soi mũi xoang được chỉ định nhằm phục hồi lưu thông khí và dẫn lưu sinh lý.
Khối bên xương sàng giữ vị trí trung tâm trong khối xương mặt, liên quan trực tiếp đến hầu hết các can thiệp nội soi và tiếp giáp các cấu trúc giải phẫu quan trọng như nền sọ, thùy thái dương, màng não, ổ mắt, cơ thẳng trong, các động mạch sàng và thần kinh thị giác. Sự đa dạng về hình thái và các biến đổi giải phẫu của khối bên xương sàng tạo ra thách thức lớn trong phẫu thuật. Trước thời điểm nghiên cứu, tại Việt Nam chưa có công trình nào đánh giá toàn diện về tỷ lệ xuất hiện và kích thước các loại tế bào sàng nhằm xây dựng bản đồ phân bố giải phẫu trên người Việt phục vụ đối chiếu lâm sàng.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:
- Mô tả cấu trúc giải phẫu của khối bên xương sàng qua phẫu tích trên xác người Việt trưởng thành và đối chiếu với nhóm phẫu thuật mũi xoang qua hình ảnh chụp cắt lớp vi tính và phẫu thuật.
- Đánh giá ảnh hưởng của các biến đổi giải phẫu tại khối bên xương sàng đến kết quả của phẫu thuật nội soi trong điều trị viêm mũi xoang mạn tính.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm thi thể người Việt trưởng thành phục vụ phẫu tích giải phẫu và các bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính được phẫu thuật nội soi mũi xoang tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương và Trường Đại học Y Hà Nội, hoàn thành năm 2018 dưới sự hướng dẫn của PGS. Võ Thanh Quang và GS. Lê Gia Vinh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu giải phẫu xoang trên thế giới ghi nhận từ thế kỷ II sau Công nguyên với các mô tả của Gallen về cấu trúc rỗng quanh nền sọ. Đầu thế kỷ 19, Zuckerkandl mô tả chi tiết giải phẫu các xoang. Năm 1965, Naumann chỉ ra vai trò của phức hợp ngách giữa - sàng trước trong bệnh lý viêm xoang. Năm 1978, Messerklinger chứng minh việc giải phóng bít tắc tại phức hợp lỗ - ngách giúp niêm mạc xoang tự phục hồi. Các hệ thống phân loại tế bào sàng cổ điển được xây dựng bởi Légend, Mouret, Ballenger (1971) và Ranglaret. Sự phát triển của máy chụp cắt lớp vi tính (Hounsfield - 1972) và hệ thống định vị không gian ba chiều (Watanabe - 1980) đã thúc đẩy các nghiên cứu giải phẫu ứng dụng. Kuhn đưa ra phân loại các tế bào ngách trán; Terrier xây dựng hệ thống phân loại tế bào sàng theo sinh lý và giải phẫu, được Hội Tai Mũi Họng và Phẫu thuật Cổ Mặt Pháp khuyến nghị sử dụng năm 2008 và công bố trong tài liệu kỹ thuật ngoại khoa năm 2009. Stammberger công bố các thông số về chiều dày xương che phủ dây thần kinh thị giác liên quan đến tế bào Onodi.
Tại Việt Nam, các tài liệu giải phẫu xoang đầu tiên bằng tiếng Việt do Đỗ Xuân Hợp biên soạn (1951, 1960). Thập niên 1970, Nguyễn Quang Quyền và Võ Tấn mô tả vị trí, kích thước các xoang trán, hàm, bướm và phân chia xoang sàng thành nhóm trước và sau. Sau đó, Nguyễn Đình Bảng mô tả chi tiết hơn về các thành xoang sàng. Kỹ thuật phẫu thuật nội soi mũi xoang bắt đầu phát triển từ những năm 1993 - 1994. Đến sau năm 2000, các công trình của Võ Thanh Quang (2004), Nguyễn Thị Quỳnh Lan (2005), Nguyễn Tấn Phong (2008) bắt đầu đề cập chi tiết đến các phân loại giải phẫu xoang sàng, mốc phẫu thuật nội soi và nhận diện cấu trúc trên phim cắt lớp vi tính. Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính mũi xoang phát triển sau khi máy chụp đầu tiên được đưa vào hoạt động tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô (tháng 1/1991), tiếp nối bằng các nghiên cứu của Hoàng Đức Kiệt, Phạm Minh Thông, Nguyễn Thị Thanh Bình (2001), Trương Hồ Việt (2005) và tài liệu chẩn đoán hình ảnh của Nguyễn Tấn Phong (2008). Hệ thống định vị được đưa vào ứng dụng thường quy tại Việt Nam từ năm 2009 trong phẫu thuật thần kinh, sau đó được thí điểm trong phẫu thuật nội soi mũi xoang từ giai đoạn 2012 - 2013 qua các công trình của Võ Thanh Quang, Lê Minh Kỳ, Nguyễn Sỹ Lân.
Luận án của Đào Đình Thi lựa chọn giải quyết khoảng trống về dữ liệu hình thái học chi tiết của khối bên xương sàng trên người Việt, áp dụng đồng bộ hệ thống danh pháp Terrier và đối chiếu trực tiếp giữa phẫu tích giải phẫu với hình ảnh cắt lớp vi tính và quan sát thực tế trong phẫu thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng hệ thống phân loại tế bào sàng của Terrier kết hợp đối chiếu danh pháp quốc tế của Kuhn và Stammberger. Cấu trúc sàng trước được chia thành ba nhóm tế bào (nhóm mỏm móc, nhóm ngách, nhóm bóng) và sàng sau gồm ba tế bào (sàng sau trước, sàng sau trung tâm, sàng sau cùng). Cơ sở phẫu thuật dựa trên nguyên lý phẫu thuật nội soi mũi xoang chức năng của Messerklinger, kỹ thuật mở sàng bướm toàn phần của Wigand và phân loại năm loại phẫu thuật của Panje và Anand.
| Nhóm tế bào |
Danh pháp theo Terrier |
Tên gọi tương đương phổ biến |
| Sàng trước: Nhóm mỏm móc |
Tế bào mỏm móc trước Tế bào mỏm móc trên Tế bào mỏm móc sau Tế bào mỏm móc dưới |
Tế bào Agger Nasi (đê mũi) Tế bào ngách tận (terminal recess cell) Tế bào lệ (lacrimal cell) Tế bào Haller |
| Sàng trước: Nhóm ngách |
Tế bào tiền ngách Tế bào ngách trước Tế bào ngách sau |
Tế bào Kuhn (sàng trán K1 - K4) Tế bào trên ổ mắt (supraorbital cell) Tế bào bóng trán (bulla frontalis cell) |
| Sàng trước: Nhóm bóng |
Tế bào bóng trên Tế bào bóng dưới |
Tế bào trên bóng (suprabullar cell) Tế bào bóng (bullar cell / intrabullar cell) |
| Sàng sau |
Tế bào sàng sau trước Tế bào sàng sau trung tâm Tế bào sàng sau cùng |
Cellule postérieure avancée Tế bào sàng sau dưới Tế bào sàng bướm (tế bào Onodi) |
Phương pháp nghiên cứu kết hợp mô tả hình thái học cắt ngang qua phẫu tích trên tử thi ngâm formol và nghiên cứu tiến cứu can thiệp lâm sàng có đối chiếu trên bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính:
- Thu thập dữ liệu phẫu tích: Sử dụng dụng cụ phẫu tích chuyên dụng và thước kẹp điện tử Digitronic Caliper để đo đạc các kích thước giải phẫu trên các mặt phẳng.
- Thu thập dữ liệu lâm sàng: Bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính được chụp cắt lớp vi tính mũi xoang đa dãy theo quy chuẩn (các lớp cắt đứng ngang, cắt ngang và đứng dọc), ghi nhận các biến đổi giải phẫu trước mổ.
- Tiến hành phẫu thuật: Sử dụng hệ thống phẫu thuật nội soi mũi xoang (ống soi, kìm cắt ngược backbiter, dao hình liềm, kìm đột thẳng, kìm đột 45 độ, microdebrider). Gây tê tại chỗ bằng bấc tẩm dung dịch Xylocain 5% phối hợp Naphtazolin, tiêm ngấm dưới niêm mạc hỗn hợp Xylocain 1% pha Adrenalin 1/50.000 tại chân bám cuốn giữa, mỏm móc và mặt trước bóng sàng.
- Quản lý dữ liệu và y đức: Số liệu được thu thập theo bệnh án nghiên cứu thống nhất, xử lý bằng các thuật toán thống kê y học. Nghiên cứu tuân thủ các quy định về nghiên cứu giải phẫu trên tử thi và y đức trong điều trị lâm sàng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 tổng hợp các đặc điểm giải phẫu học của khối bên xương sàng và các kỹ thuật phẫu thuật nội soi mũi xoang:
- Sáu thành của khối bên xương sàng:
- Thành ngoài (xương giấy / mảnh ổ mắt): Mảnh xương mỏng ngăn cách với ổ mắt, được phủ bởi cốt mạc và mỡ ổ mắt, có cơ thẳng trong đi sát. Vùng dễ tổn thương gồm phần cao mỏm móc và ngang mức bóng sàng sát mảnh nền cuốn giữa.
- Thành trong (thành ngoài hốc mũi): Chứa cuốn mũi giữa dài khoảng 4 cm với ba đoạn chân bám (mảnh nền cách gai mũi trước 5 - 6 cm, phân chia sàng trước và sàng sau). Cuốn giữa có thể có bóng khí concha bullosa (tỷ lệ y văn 4 - 55%) hoặc cuốn giữa đảo chiều. Ngách mũi giữa gồm mỏm móc, bóng sàng và khe bán nguyệt. Phần đứng mỏm móc bám theo ba kiểu: Kiểu A (khoảng 70%, bám vào tế bào đê mũi hoặc xương giấy, ngách trán đổ vào khe giữa), Kiểu B1 (bám nền sọ, ngách trán đổ vào khe bán nguyệt), Kiểu B2 (bám cuốn giữa, ngách trán đổ vào khe bán nguyệt). Võ Thanh Quang ghi nhận tỷ lệ mỏm móc quá phát là 13%. Bóng sàng cùng mỏm móc giới hạn phễu sàng; bóng sàng cùng nền sọ và cuốn giữa tạo thành xoang bên (sinus lateralis).
- Thành trên (trần sàng): Tiếp khớp với xương trán, dày ở phía ngoài và mỏng dần về phía trong, mỏng nhất ở sát mảnh sàng. Động mạch sàng trước đi qua trần sàng, là mốc giới hạn trên của phẫu thuật mở xoang sàng. Động mạch sàng sau đi trong lớp xương dày giữa tế bào sàng sau trước và tế bào Onodi.
- Thành trước và thành sau: Thành trước tiếp khớp xương lệ và mỏm trán xương hàm trên; thành sau tiếp khớp thân bướm tạo thành tế bào sàng sau trung tâm và tế bào Onodi.
- Hình thể trong và các tế bào sàng:
- Xoang sàng gồm 5 - 15 tế bào, đường kính lỗ thông 1 - 2 mm.
- Nhóm mỏm móc: Tế bào mỏm móc trước (Agger Nasi) gặp ở 90 - 95% dân số; mỏm móc trên (ngách tận); mỏm móc sau (tế bào lệ) gặp ở 2 - 4%; mỏm móc dưới (tế bào Haller) gặp ở 2 - 45% (trung bình khoảng 20%).
- Nhóm ngách: Tế bào tiền ngách (Kuhn K1 đến K4) gặp ở 20 - 33%; tế bào ngách trước (tế bào trên ổ mắt) gặp khoảng 15%; tế bào ngách sau (tế bào bóng trán) gặp khoảng 10%.
- Nhóm bóng: Tế bào bóng trên gặp ở khoảng 60%, liên quan mật thiết với động mạch sàng trước; tế bào bóng dưới luôn luôn hiện diện.
- Xoang sàng sau: Thường có 3 tế bào (chiếm 70 - 90%). Tế bào sàng sau trung tâm luôn có mặt, là mốc mở vào sàng sau. Tế bào sàng sau trước nằm ở tầng trên. Tế bào sàng sau cùng (Onodi) gặp ở 12 - 42% trường hợp; Stammberger xác định chiều dày vỏ xương bọc dây thần kinh thị giác trong tế bào này trung bình là 0,28 mm và có 12% trường hợp không có vỏ xương che phủ.
- Kỹ thuật phẫu thuật nội soi:
- Phân loại phẫu thuật của Panje và Anand chia thành năm loại (Loại I: lấy mỏm móc; Loại II: mở mỏm móc, bóng sàng, ngách trán; Loại III: thêm mở rộng lỗ thông xoang hàm; Loại IV: thêm lấy bỏ sàng sau; Loại V: mở sàng bướm toàn phần và lấy niêm mạc xoang bướm).
- Phẫu thuật mở mỏm móc: Thực hiện bằng kìm cắt ngược (backbiter) hoặc dao hình liềm với độ sâu đường rạch không quá 1 mm.
- Mở rộng lỗ thông xoang hàm: Phân loại gồm Loại 1 (mở ra sau - dưới không quá 1 cm), Loại 2 (mở ra sau - dưới không quá 2 cm), Loại 3 (mở rộng tối đa theo các hướng ra trước sát đường lệ, ra sau sát thành sau, lên trên sát trần xoang và xuống dưới sát nền cuốn dưới).
- Phẫu thuật nạo sàng trước: Mở phễu sàng, lấy 2/3 dưới mặt trước bóng sàng, bảo tồn niêm mạc ngách trán. Trích dẫn nghiên cứu của Senior B. và Daniel Simen cho thấy trên 90% trường hợp mờ xoang trán trên cắt lớp vi tính được giải quyết sau nạo sàng trước đơn thuần.
- Mở ngách trán - xoang trán: Gồm Loại 1 (bảo tồn ngách trán), Loại 2a (lấy trần tế bào Agger Nasi, bóng trên, tế bào ngách), Loại 2b (thêm cắt bỏ đầu cuốn giữa), Loại 3 (phẫu thuật Lothrop mở thông hai bên qua khoan gai mũi trán và vách ngăn cao).
- Phẫu thuật nạo sàng sau: Mở qua vùng an toàn ở 1/4 dưới trong mảnh nền cuốn giữa vào tế bào sàng sau trung tâm, mở cửa sổ vào khe trên. Tiến hành nạo từ trước ra sau khi có 3 tế bào sàng sau và đường kính trên dưới của tế bào sàng sau trước lớn hơn 5 mm; nạo từ sau ra trước khi chân bám cuốn trên bám cao sát nền sọ (đường kính nhỏ hơn 2 mm), có nhiều vách xương, có cuốn cực trên hoặc tế bào Onodi.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả quy trình thực nghiệm và can thiệp lâm sàng:
- Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ cho nhóm phẫu tích tử thi và nhóm bệnh nhân phẫu thuật nội soi mũi xoang điều trị viêm mũi xoang mạn tính.
- Quy trình phẫu tích xác: Rạch da, bộc lộ khung xương mặt, mở cửa sổ xương mặt trước xoang, cắt bỏ vách ngăn, cắt cuốn dưới, cắt phần tự do cuốn giữa, bộc lộ bóng sàng, xác định mảnh nền cuốn giữa và cuốn trên, mở các tế bào sàng sau đến mặt trước xoang bướm; đo đạc các kích thước bằng thước điện tử Digitronic Caliper.
- Quy trình chẩn đoán hình ảnh: Chụp cắt lớp vi tính mũi xoang xác định các biến đổi giải phẫu (tế bào Agger Nasi, mỏm móc quá phát/đảo chiều, concha bullosa, tế bào Haller, tế bào Onodi, tế bào ngách trán, hiện tượng thoát vị động mạch sàng trước).
- Đánh giá lâm sàng và theo dõi sau mổ: Theo dõi các triệu chứng cơ năng (chảy mũi, ngạt mũi, đau nhức vùng mặt, mất ngửi, ho/hắt hơi) và triệu chứng thực thể (mủ hốc mũi, polyp mũi), biến chứng phẫu thuật và kết quả phục hồi niêm mạc.
Chương 3: Kết quả
Chương 3 trình bày các số liệu thu được từ hai nhóm nghiên cứu qua hệ thống 39 bảng và 11 biểu đồ:
- Dữ liệu hình thái giải phẫu: Xác định tỷ lệ xuất hiện và kích thước chi tiết (chiều cao, chiều rộng, chiều trước sau) của các tế bào sàng trước (mỏm móc trước, mỏm móc trên, mỏm móc sau, mỏm móc dưới, tiền ngách, ngách trước, ngách sau, bóng trên, bóng dưới) và các tế bào sàng sau (sàng sau trước, sàng sau trung tâm, sàng sau cùng).
- Đối chiếu hình thái: So sánh kích thước tế bào sàng, tỷ lệ các kiểu hình bám của mỏm móc, kiểu hình cuốn giữa (bình thường, đảo chiều, concha bullosa) và hiện tượng thoát vị động mạch sàng trước giữa nhóm phẫu tích trên xác và nhóm bệnh nhân phẫu thuật có chụp cắt lớp vi tính.
- Kết quả phẫu thuật lâm sàng: Tổng hợp diễn biến cải thiện các triệu chứng lâm sàng (chảy mũi, ngạt mũi, đau đầu/đau mặt, mất ngửi, ho/hắt hơi) và hình ảnh nội soi (hết mủ, sạch polyp, biểu mô hóa hốc mổ), so sánh kết quả điều trị giữa nhóm bệnh nhân không có biến đổi giải phẫu và nhóm bệnh nhân có biến đổi giải phẫu khối bên xương sàng.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 phân tích các kết quả nghiên cứu và so sánh với y văn trong nước và quốc tế:
- Luận giải sự tương đồng và khác biệt về kích thước, tỷ lệ phân bố các tế bào sàng trên người Việt so với các nghiên cứu của Terrier, Kuhn, Stammberger, Võ Thanh Quang, Nguyễn Tấn Phong.
- Phân tích ý nghĩa ngoại khoa của các mốc giải phẫu: Mối liên quan giữa tế bào Haller với phễu sàng và lỗ thông xoang hàm; nguy cơ tổn thương động mạch sàng trước khi tế bào bóng trên quá phát hoặc có hiện tượng thoát vị động mạch; nguy cơ tổn thương thần kinh thị giác khi phẫu tích vào tế bào Onodi.
- Đánh giá ảnh hưởng của các biến đổi giải phẫu (như concha bullosa, mỏm móc đảo chiều, các tế bào ngách trán K1 - K4) đến mức độ khó của phẫu thuật và sự phục hồi niêm mạc hốc mổ, từ đó khẳng định vai trò của việc đánh giá kỹ phim cắt lớp vi tính trước mổ để lựa chọn kỹ thuật can thiệp phù hợp.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đóng góp các dữ liệu khoa học về hình thái học và ngoại khoa chuyên ngành Tai Mũi Họng:
- Cung cấp hệ thống dữ liệu nhân trắc giải phẫu về kích thước và tỷ lệ xuất hiện của các tế bào sàng trước và sàng sau trên người Việt trưởng thành theo phân loại Terrier.
- Xác lập quy trình đối chiếu giữa phim chụp cắt lớp vi tính tiền phẫu và mốc giải phẫu nội soi trong mổ, giúp phẫu thuật viên nhận diện chính xác các cấu trúc giải phẫu biến đổi (tế bào Agger Nasi, tế bào Haller, tế bào Onodi, tế bào ngách trán, xoang hơi cuốn giữa concha bullosa, thoát vị động mạch sàng trước).
- Đánh giá định lượng mức độ ảnh hưởng của các biến đổi giải phẫu khối bên xương sàng đến diễn biến lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị viêm mũi xoang mạn tính.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật phẫu thuật an toàn: Mở mỏm móc bằng dao liềm với độ sâu dưới 1 mm, mở sàng sau qua vùng an toàn ở 1/4 dưới trong mảnh nền cuốn giữa, lựa chọn kỹ thuật nạo sàng từ trước ra sau hoặc từ sau ra trước dựa trên vị trí chân bám cuốn trên và kích thước tế bào sàng sau trước nhằm hạn chế biến chứng tổn thương ổ mắt, nền sọ, mạch máu và thần kinh thị giác.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu thực hiện trên cỡ mẫu phẫu tích xác người Việt trưởng thành tại một cơ sở đào tạo, nguồn mẫu tử thi ngâm formol có những giới hạn về đặc tính mềm dẻo của mô tươi.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng đánh giá theo dõi kết quả sau mổ trong thời gian dài hơn trên các nhóm bệnh lý viêm mũi xoang phức tạp, đồng thời kết hợp ứng dụng hệ thống định vị ba chiều trong các trường hợp phẫu thuật lại hoặc có biến đổi giải phẫu phức tạp nhiều xoang.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo phục vụ các đối tượng trong ngành y tế:
- Bác sĩ chuyên khoa Tai Mũi Họng, phẫu thuật viên đầu mặt cổ: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc phân tích phim cắt lớp vi tính mũi xoang, định hướng các mốc giải phẫu an toàn và lựa chọn phương pháp phẫu thuật nội soi phù hợp cho từng bệnh nhân.
- Giảng viên, học viên sau đại học và nghiên cứu sinh: Tham khảo hệ thống danh pháp giải phẫu chuẩn hóa của Terrier, phương pháp phẫu tích hình thái học và các quy trình kỹ thuật ngoại khoa mũi xoang chức năng.
Câu hỏi thường gặp
-
Hệ thống phân loại Terrier chia các tế bào sàng trước thành những nhóm nào?
Hệ thống Terrier chia xoang sàng trước thành ba nhóm tế bào: nhóm mỏm móc (gồm bốn tế bào: mỏm móc trước/Agger Nasi, mỏm móc trên, mỏm móc sau, mỏm móc dưới/Haller), nhóm ngách (gồm ba tế bào: tiền ngách/Kuhn, ngách trước/trên ổ mắt, ngách sau/bóng trán) và nhóm bóng (gồm hai tế bào: bóng trên và bóng dưới).
-
Tế bào Onodi có đặc điểm giải phẫu nào cần lưu ý trong phẫu thuật nội soi mũi xoang?
Tế bào Onodi (tế bào sàng sau cùng) là tế bào sàng sau phát triển xâm lấn vào thân xương bướm, có liên quan trực tiếp với dây thần kinh thị giác. Chiều dày trung bình của vỏ xương che phủ dây thần kinh thị giác trong tế bào này chỉ khoảng 0,28 mm và có khoảng 12% trường hợp hoàn toàn không có vỏ xương che phủ, tiềm ẩn nguy cơ tổn thương thị lực nếu không phát hiện trên phim cắt lớp vi tính trước mổ.
-
Ba kiểu bám phía trên của phần đứng mỏm móc được phân chia như thế nào?
Phần đứng mỏm móc bám lên phía trên theo ba kiểu: Kiểu A (chiếm khoảng 70% trường hợp, bám vào tế bào đê mũi hoặc xương giấy, ngách trán đổ vào khe giữa); Kiểu B1 (bám vào nền sọ, ngách trán đổ vào khe bán nguyệt); Kiểu B2 (bám vào cuốn mũi giữa, ngách trán đổ vào khe bán nguyệt).
-
Vị trí an toàn để mở vào xoang sàng sau qua mảnh nền cuốn giữa là ở đâu?
Vị trí an toàn nhất để phá vỡ mảnh nền cuốn giữa đi vào xoang sàng sau là 1/4 dưới trong của mảnh nền, ngay tại chỗ phần đứng liên tiếp với phần ngang của mảnh nền cuốn giữa, tương ứng với vị trí mở trực tiếp vào tế bào sàng sau trung tâm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Đào Đình Thi đã hệ thống hóa đặc điểm giải phẫu khối bên xương sàng của người Việt qua phẫu tích và đối chiếu lâm sàng trên phim chụp cắt lớp vi tính và phẫu thuật nội soi. Công trình chuẩn hóa việc áp dụng phân loại Terrier trong chuyên khoa Tai Mũi Họng tại Việt Nam, xác định tỷ lệ xuất hiện và kích thước các tế bào sàng trước và sàng sau cùng các biến đổi giải phẫu quan trọng. Các phát hiện của luận án cung cấp cơ sở khoa học giúp phẫu thuật viên nhận diện chính xác các mốc giải phẫu, thực hiện phẫu thuật nội soi mũi xoang an toàn và nâng cao hiệu quả điều trị viêm mũi xoang mạn tính.