ĐẶT VẤN ĐỀ Ở Việt Nam các bệnh lý mắc phải của đƣờng tiết niệu nhƣ sỏi thận - niệu quản (NQ), viêm xơ chít hẹp NQ hay bẩm sinh nhƣ hẹp khúc nối bể thận - niệu quản (BT-NQ), trào ngƣợc bàng quang - niệu quản nguyên phát, phình to NQ, van NQ có thể gây ứ nƣớc thận và lâu ngày sẽ dẫn đến giảm, mất chức năng (MCN) thận. Từ những năm cuối thế kỷ XX, phẫu thuật nội soi ổ bụng phát triển rộng rãi và đạt đƣợc kết quả rất tốt. Hiện nay, phần lớn các trƣờng hợp cắt thận đƣợc thực hiện bằng phẫu thuật nội soi hoặc qua ổ bụng hoặc qua đƣờng sau phúc mạc. Đã có nhiều nghiên cứu về ứng dụng phẫu thuật nội soi qua ổ bụng cũng nhƣ qua đƣờng sau phúc mạc trong cắt thận; các nghiên cứu đều chứng tỏ những ƣu điểm của phẫu thuật nội soi so với phẫu thuật mở: ít sang chấn, cơ thành bụng không bị ảnh hƣởng nhiều, hồi phục sức khoẻ nhanh, tỷ lệ tai biến trong phẫu thuật không cao hơn phẫu thuật mở, biến chứng sau phẫu thuật ít hơn [26], [55].
Tuy nhiên cũng có những nhƣợc điểm nhƣ: phẫu trƣờng hẹp, thao tác khó khăn khi cắt thận ở những trƣờng hợp thận to (thận đa nang), thận viêm dính (viêm lao, viêm mủ thận, viêm thận bể thận do u hạt vàng). áp dụng phẫu thuật nội soi qua phúc mạc để cắt u thận lần đầu tiên trên thế giới [54], [50]. Nghiên cứu của Rassweiler trên 482 trƣờng hợp đƣợc phẫu thuật cắt thận nội soi sau phúc mạc với tỷ lệ biến chứng 6%, thời gian phẫu thuật trung bình 188 phút và thời gian nằm viện 5,4 ngày [68]. Năm 2000, Hemal nghiên cứu 185 trƣờng hợp cắt thận nội soi sau phúc mạc do bệnh lý lành tính có kết quả 16,2% biến chứng nhẹ và 3,78% biến chứng nặng [82].
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang đã tiến hành phẫu thuật nội soi cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính lần đầu tiên vào tháng 10 năm 2015, nhƣng kết 2 quả của phƣơng pháp điều trị này nhƣ thế nào? Và những yếu tố nào ảnh hƣởng đến kết quả điều trị của phẫu thuật tại bệnh viện, chƣa đƣợc phẫu thuật viên nào đề cập và nghiên cứu. Để trả lời các câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Kết quả phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang” với mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2015 - 2021. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu thận, phân chia hệ thống mạch máu của thận 1. Giải phẫu thận * Hình thể ngoài Thận hình bầu dục, màu nâu đỏ, kích thƣớc trung bình: Cao 12cm, rộng 6cm, dày 3cm, cân nặng khoảng 130-150 gram [69]. Thận gồm hai mặt (mặt trƣớc lồi, mặt sau phẳng), hai cực (cực trên và cực dƣới), hai bờ (bờ ngoài lồi, bờ trong lõm).
Chỗ lõm mặt trong gọi là rốn thận, rốn thận có 2 mép (mép trƣớc và mép sau). Hình thể ngoài thận, niệu quản (nhìn trước) [16] 4 * Vị trí và đối chiếu Thận nằm sau phúc mạc, trong góc đƣợc tạo bởi xƣơng sƣờn XI và cột sống thắt lƣng. Thận phải thấp hơn thận trái. Cực trên thận phải ngang mức bờ dƣới xƣơng sƣờn XI, còn cực trên thận trái ngang mức bờ trên xƣơng sƣờn này.
Thận không đứng thẳng mà hơi chếch xuống dƣới và ra ngoài vì có cơ thắt lƣng. Cực trên thận cách đƣờng giữa 3 - 4 cm, cực dƣới cách đƣờng giữa 5cm ngang mức mỏm ngang thắt lƣng III và cách điểm cao nhất của mào chậu 3 - 4 cm [15]. * Ổ thận Thận đƣợc cố định bởi mạc thận (cân Gerota). Mỗi thận nằm trong một ổ thận do mạc thận tạo nên.
Trên thiết đồ cắt ngang, mạc thận có 2 lá: Lá trƣớc phủ mặt trƣớc thận, dính vào cuống thận rồi liên tiếp với lá trƣớc bên đối diện, bên phải đƣợc tăng cƣờng bởi mạc Told phải và mạc dính tá tràng, bên trái dính với mạc Told trái. Lá sau phủ mặt sau thận, bọc lấy cuống thận, dính vào mặt trƣớc cột sống thắt lƣng rồi liên tiếp với lá sau bên đối diện. Trên thiết đồ cắt đứng dọc, lá trƣớc và lá sau dính lại ở trên và dính vào cơ hoành, ở dƣới hai lá xích lại gần nhau nhƣng không dính nhau và hoà vào cân chậu. Cả 2 lá đều dính vào cuống thận nên 2 ổ thận không thông nhau.
Giữa thận và ổ thận là tổ chức mỡ quanh thận, nên có thể tách thận dễ dàng khỏi ổ thận. Phía sau lá sau còn có lớp mỡ cạnh thận chứa dây thần kinh chậu - hạ vị và chậu - bẹn [15]. * Bao thận: Thận đƣợc bao bọc bởi một tổ chức sợi gọi là bao thận, bao này hƣớng vào rốn thận, lách vào xoang thận và liên tiếp với lớp sợi của đài bể thận. Thiết đồ cắt ngang của mạc thận [16] Hình 1.
Thiết đồ cắt đứng dọc của mạc thận [16] 6 1. Liên quan * Phía trước: Hai thận có liên quan khác nhau Thận phải: Nằm phần lớn phía trên gốc mạc treo đại tràng ngang (ĐTN), ở ngoài phúc mạc. Cực trên và phần trên bờ trong liên quan đến tuyến thƣợng thận phải. Bờ trong và cuống thận liên quan đến đoạn II tá tràng và tĩnh mạch (TM) chủ dƣới.
Mặt trƣớc liên quan với gan phần ngoài phúc mạc (vùng trần của gan), góc đại tràng (ĐT) phải và ruột non. Thận trái: Một phần nằm trên và một phần nằm dƣới gốc mạc treo đại tràng ngang: Tầng trên mạc treo ĐTN: Ngay trên mạc treo ĐTN là thân đuôi tụy. Cực trên và phần trên bờ trong liên quan với tuyến thƣợng thận trái. Mặt trƣớc liên quan với thành sau dạ dày (qua túi mạc nối), lách (tựa lên mặt trƣớc thận dọc theo bờ ngoài).
Tầng dƣới mạc treo ĐTN: Phần trong thận trái liên quan đến ruột non (góc Treitz), phần ngoài liên quan góc đại tràng trái. * Phía sau Xƣơng sƣờn XII chắn ngang phía sau thận và chia mặt sau thận làm 2 tầng: Tầng ngực và tầng thắt lƣng. Tầng ngực: Thận liên quan với xƣơng sƣờn XI, XII, cơ hoành và góc sƣờn hoành màng phổi. Tầng thắt lƣng: Thận liên quan với các cơ thắt lƣng, cơ vuông thắt lƣng và cơ ngang bụng.
* Phía trong Từ sau ra trƣớc mỗi thận liên quan với: (1) Cơ thắt lƣng và phần bụng của thân thần kinh giao cảm; (2) bể thận và đoạn trên niệu quản; (3) cuống mạch thận và bó mạch tuyến thƣợng thận; (4) bó mạch sinh dục: động mạch (ĐM) và TM tinh (ở nam) hay ĐM và TM buồng trứng (ở nữ); (5) TM chủ dƣới đối với thận phải, ĐM chủ bụng đối với thận trái. 7 * Phía ngoài Bờ ngoài thận phải liên quan với gan. Bờ ngoài thận trái liên quan với lách và ĐT xuống. Hình thể trong Thận hình hạt đậu rỗng ở giữa gọi là xoang thận, còn xung quanh là nhu mô thận.
Xoang thận chứa đài bể thận. * Nhu mô thận dày 12-15 mm, chia làm 2 vùng: Vùng vỏ: Là phần nhu mô đỏ thẫm sát dƣới bao thận, tập hợp các cầu thận, ống thận (vùng sinh niệu). Phần vỏ nằm xen giữa các tháp thận gọi là cột thận Bertin, còn phần vỏ nằm ngoài đáy các tháp thận gọi là tiểu thùy vỏ. Vùng tủy: Là phần nhu mô nằm sâu phía trung tâm, có màu nhạt hơn và là tập hợp các ống lƣợn, ống góp (ống dẫn niệu), cấu trúc thành các tháp thận Malpighi (xen giữa các cột Bertin).
Đỉnh các tháp hƣớng về xoang thận (2-3 tháp thận tạo thành một nhú thận), còn đáy các tháp hƣớng ra bề mặt thận [15]. * Xoang thận Xoang thận là khoang rỗng đƣợc bao quanh bởi nhu mô thận, cấu tạo thành các đài bể thận. Các đài nhỏ thƣờng có 7-14 đài cho mỗi thận xếp thành 2 hàng dọc theo hai mặt trƣớc và sau thận sẽ nhận nƣớc tiểu từ các nhú thận rồi đổ về 2-3 đài lớn. Các đài lớn tập hợp lại thành bể thận.
Bể thận nói chung có hình phễu dẹt, dung tích 3-5ml, miệng phễu mở hƣớng về các đài, rốn phễu tiếp nối với niệu quản cách bờ dƣới rốn thận 1cm. Bể thận có thể nằm chìm trong thận (bể thận trong xoang - chiếm khoảng 36,1%) hoặc lộ ra ngoài thận (bể thận ngoài xoang - chiếm khoảng 30,6%), hoặc một phần trong thận, một phần ngoài thận (bể thận trung gian - chiếm khoảng 33,3%). Các thƣơng tổn bệnh lý đƣờng tiết niệu có thể làm thay đổi kích thƣớc cũng nhƣ hình dạng đài, bể thận. Cấu tạo trong của thận [16] 1.
Phân chia hệ thống động mạch thận * Nguyên uỷ động mạch thận Động mạch thận đƣợc bắt nguồn từ sƣờn bên ĐM chủ bụng, dƣới nguyên uỷ ĐM mạc treo tràng trên 1cm, ngang sụn liên đốt sống L1 - L2 [83]. Thƣờng ĐM thận phải nguyên uỷ thấp hơn, dài hơn ĐM thận trái và đi sau TM chủ dƣới. Cả 2 ĐM thận đều chạy sau TM thận. Góc của ĐM thận tách từ ĐM chủ bụng khác nhau giữa 2 bên thận.
Góc này chỉ chính xác khi đo trên phim chụp ĐM [57]. * Số lượng, kích thước động mạch cho mỗi thận Thƣờng có 1 ĐM cho mỗi thận. Trong trƣờng hợp có nhiều hơn 1 ĐM thì bao giờ cũng có 1 ĐM thận chính, các ĐM còn lại là ĐM thận phụ. ĐM thận chính sau khi vào rốn thận chia thành 2 nhánh trƣớc và sau bể.
ĐM thận phụ là những ĐM đi vào rốn thận chỉ cấp máu cho 1 vùng thận còn ĐM không đi vào rốn thận nhƣng cấp máu cho một vùng thận đƣợc gọi là ĐM cực (hay ĐM xiên) [44]. Tỷ lệ có một động mạch cho mỗi thận dao động theo các tác giả: Auson 36%, Boijen 76%, Martyus 85%, Pokony 65%. Ngoài ĐM thận chính, có thêm một ĐM chiếm 17,7%, hai ĐM chiếm 2,4% [25]. 9 ĐM thận thƣờng có kích thƣớc lớn phù hợp với nhu cầu chức năng của thận.
Ở ngƣời Việt Nam, theo tác giả Lê Văn Cƣờng (1994), chiều dài trung bình của ĐM thận phải là 55 mm, ĐM thận trái là 48,3 mm, đƣờng kính trung bình của ĐM thận là 4,2 - 4,3 mm. Còn theo Trịnh Xuân Đàn (1999), ĐM thận phải dài 39,5 mm, đƣờng kính 5,2 mm còn ĐM thận trái dài 28,9 mm, đƣờng kính 5,1 mm.