Chương 1 TỔNG QUAN 1. Cấu tạo giải phẫu và sinh lý của tử cung 1. Kích thước, vị trí của tử cung trong tiểu khung - Tử cung nằm chính giữa chậu hông bé, sau bàng quang, trước trực tràng, ở trên âm đạo và ở dưới các quai ruột và đại tràng chậu hông. - Kích thước trung bình: Cao 6 - 7 cm; rộng 4 - 4,5 cm; dày 2 cm.
- Trọng lượng trung bình là 40 - 50 g ở người chưa đẻ và 50 - 70 g ở người đã đẻ. - Tư thế sinh lý bình thường của tử cung là gấp ra trước và ngả ra trước. Ngoài ra tử cung còn có một số tư thế khác hiếm gặp như tử cung ngả sau, lệch trái, lệch phải [17], [35]. Hình thể ngoài và liên quan Tử cung giống như hình nón cụt, dẹt, rộng ở trên, hẹp ở dưới và gồm 3 phần: - Thân tử cung hình thang, rộng ở trên gọi là đáy có 2 sừng liên tiếp với 2 vòi trứng.
Thân dài 4 cm, rộng 4,5 cm khi chưa đẻ lần nào. - Eo tử cung là phần nhỏ nhất giữa thân và cổ, dài 0,5cm. - Cổ tử cung dài khoảng 2,5 cm và rộng nhất ở giữa. Phần trên âm đạo: ở 2 bên bờ cách eo tử cung 1,5 cm có động mạch tử cung bắt chéo trước niệu quản [11], [17], [39].
Giải phẫu tiểu khung nữ [20] 1. Phương tiện giữ tử cung Gồm các dây chằng, tư thế của tử cung và các tổ chức dưới phúc mạc đều có tác dụng giữ tử cung tại chỗ [17]. Âm đạo bám vào cổ tử cung Âm đạo được giữ chắc bởi cơ nâng hậu môn, cơ âm đạo, trực tràng và nút thớ trung tâm, nên âm đạo tạo nên chỗ dựa của tử cung. Tư thế của tử cung Tư thế của tử cung là gấp trước và ngả trước, đè lên mặt trên của bàng quang, có tác dụng làm tử cung không tụt xuống.
Các dây chằng - Dây chằng rộng là hai nếp phúc mạc đi lên từ các bờ bên tử cung tới thành bên chậu hông, nối phúc mạc tử cung với phúc mạc thành chậu. - Dây chằng tròn là những dải dài khoảng 10 - 15 cm, từ trước dưới sừng tử cung chạy ra ngoài, xuống dưới và ra trước qua thành chậu và ống bẹn. - Dây chằng tử cung cùng là phương tiện chằng, buộc tử cung tương đối 5 chắc. Khi cắt bỏ dây chằng này phải phong bế bằng Novocain [11], [17].
- Dây chằng ngang cổ tử cung: (dây chằng Mackenrodt) là dải mô xơ liên kết bám từ bờ bên cổ tử cung ngay trên phần bên vòm của âm đạo rồi đi ngang sang thành bên chậu hông. - Dây chằng mu, bàng quang, sinh dục là các thớ từ bờ sau xương mu đến bàng quang, các thớ từ bờ sau xương mu đến cổ tử cung và các thớ từ bàng quang đến cổ tử cung [35], [39]. Mạch máu và thần kinh 1. Động mạch Có 2 động mạch chính: - Động mạch tử cung: nhận máu từ động mạch chậu trong và đi qua 3 đoạn [35]: + Đoạn thành bên chậu hông: động mạch nằm áp sát mặt trong cân cơ bịt trong, có phúc mạc phủ lên và tạo nên giới hạn dưới hố buồng trứng.
+ Đoạn đáy dây chằng rộng: động mạch chạy ngang từ thành bên chậu hông đi trong đáy dây chằng rộng tới bờ bên tử cung [35]. + Đoạn bờ bên tử cung: đi lên ngoằn nghèo dọc bờ bên tử cung khi tới sừng tử cung thì tận hết bằng 2 nhánh vòi trứng và buồng trứng nối với nhánh tương ứng của động mạch buồng trứng. - Động mạch buồng trứng: tách từ động mạch chủ bụng, nó đi theo dây chằng treo buồng trứng đến đầu vòi của buồng trứng thì chia thành hai nhánh là nhánh vòi tử cung và nhánh buồng trứng [11]. Tĩnh mạch Các tĩnh mạch đều chạy theo động mạch, có hai hệ: - Hệ nông: đi cùng với động mạch tử cung, bắt chéo trước niệu quản.
- Hệ sâu: đi sau niệu quản, hệ này còn nhận máu của bàng quang, âm đạo và đám rối tĩnh mạch Santorini [17]. Thần kinh Tử cung được chi phối bởi đám rối thần kinh tử cung âm đạo. Đám rối này tách từ đám rối thần kinh hạ vị dưới đi trong dây chằng tử cung - cùng để tới tử cung ở chỗ eo tử cung [35]. Định nghĩa U xơ tử cung là khối u lành tính của cơ tử cung, thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi hoạt động sinh dục.
U xơ tử cung còn được gọi là u xơ và cơ tử cung hay u cơ tử cung vì cấu tạo từ tổ chức liên kết và cơ trơn của tử cung. Cơ chế bệnh sinh chưa rõ ràng do sự phát triển quá mức của sợi cơ trơn và mô liên kết ở tử cung. Bệnh có khuynh hướng di truyền [7], [14]. Dịch tễ học Tuổi, tần suất xuất hiện, số lượng, kích thước khối u cũng như tỉ lệ biến chứng tăng dần theo tuổi đặc biệt là giai đoạn tiền mãn kinh.
Tuy nhiên tỉ lệ mắc bệnh sẽ giảm ở nhóm phụ nữ mãn kinh. Tỷ lệ mắc bệnh ở phụ nữ da đen cao gấp 2 - 3 lần so với phụ nữ da trắng, châu Á và Mỹ latinh [1], [12]. Trong báo cáo tổng quan của Stewart và cs (2017) thấy tỷ lệ u xơ tử cung chiếm khoảng 217 - 3745 trường hợp/100.000 phụ nữ/ năm, tương ứng với tỷ lệ 4,5 - 68,6% ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, sự dao động kết quả này phụ thuộc vào quần thể nghiên cứu và phương pháp chẩn đoán [68]. Theo Soave và cs (2018) cho thấy: Các yếu tố nguy cơ, vừa có thể điều chỉnh vừa không thay đổi được, có liên quan đến sự phát triển của u xơ tử cung bao gồm tuổi, chủng tộc, nội tiết tố, béo phì, nhiễm trùng tử cung và lối sống, vô sinh, có kinh sớm, sử dụng thuốc tránh thai [67].
Cơ chế bệnh sinh Cơ chế bệnh sinh u xơ tử cung còn chưa biết rõ ràng, điều này lý giải đến nay vẫn chưa có điều trị căn nguyên. 7 Nhiều tác giả cho rằng u xơ tử cung là biểu hiện cường estrogen. Cường estrogen kích thích sự tổng hợp protein ở tử cung. Giả thuyết về cường estrogen được nhiều tác giả ủng hộ [7].
Estrogen gây ra u xơ tử cung do một số đặc điểm sau của u xơ tử cung: * Không có u xơ tử cung trước tuổi dậy thì. * U xơ tử cung có thể tồn tại hoặc giảm bớt sau khi mãn kinh hoặc cắt bỏ buồng trứng là dạng u thay đổi theo estrogen cho nên còn gọi là u cơ trơn tử cung (leiomyome). * U xơ tử cung tăng đột ngột trong quá trình mang thai và bé đi sau khi kết thúc thai nghén. * U xơ tử cung tăng lên khi điều trị bằng estroprogestatif.
* U xơ to lên sau mãn kinh nếu điều trị bằng estrogen. Có nhiều giả thuyết khác được nêu lên: - Thuyết về nội tiết: U xơ tử cung hay xuất hiện vào thời kì hoạt động sinh dục, điều này gợi ý UXTC có mối liên quan đến nội tiết: + Cường estrogen tương đối: Estrogen kích thích sự tổng hợp protein ở tử cung. Trong khi có thai, estrogen làm tăng actomyosin, gây quá sản tế bào. Bằng thực nghiệm, một số tác giả đã nhận thấy estrogen liều cao gây ra khối u tử cung.
Tuy nhiên, nghiên cứu nội tiết ở những phụ nữ u xơ tử cung cho thấy nồng độ estrogen trong huyết tương không cao [7]. + Vai trò của nội tiết tăng trưởng: Ở những phụ nữ có u xơ tử cung người ta thấy, nội tiết tăng trưởng tăng cao [7]. - Thuyết về virus: Virus ở u nhú người (Human papilloma virus HPV) có thể gây ra khối u tổ chức liên kết ở chuột thực nghiệm [7]. Phân loại u xơ tử cung U xơ tử cung được phân loại theo hai cách, theo tính chất và theo vị trí khối u.
Theo tính chất, u xơ có 2 dạng: không triệu chứng và có triệu chứng. Hầu hết u xơ tử cung thuộc dạng không triệu chứng, thường không cần điều trị. U xơ tử cung có triệu chứng cần được điều trị và theo dõi [1]. Phân loại theo vị trí trong chiều dày cơ tử cung - Tùy theo vị trí của khối u trên thành tử cung mà người ta chia làm ba loại: + U xơ dưới phúc mạc: Phát sinh từ lớp cơ tử cung, phát triển về phía phúc mạc tử cung, loại này thường phát triển chậm, có cuống dài hoặc nằm lọt giữa hai lá phúc mạc của dây chằng rộng gây khó khăn cho việc chẩn đoán và phẫu thuật [10].
+ U xơ kẽ (u cơ tử cung): Phát sinh từ lớp cơ tử cung, thường nhiều nhân và làm cho tử cung to lên một cách toàn bộ, gây rối loạn kinh nguyệt rõ rệt, hay gây sảy thai, đẻ non. + U xơ dưới niêm mạc: Thường có một khối u, loại này thường phối hợp với các bất thường khác của niêm mạc tử cung. Khi khối u có cuống nó qua eo, chui vào ống cổ tử cung và nằm ở âm đạo, gọi là polyp buồng tử cung [7]. U xơ tử cung dưới niêm mạc làm giảm khả năng có thai, tăng nguy cơ sẩy thai.
U xơ tử cung dưới niêm mạc cần phải được xử lý bằng phẫu thuật [34]. Phân loại theo vị trí giải phẫu của tử cung Theo vị trí giải phẫu của u xơ tử cung chia thành 3 loại [10]: - U ở thân tử cung: Ở vị trí này hay gặp nhất. - U ở eo tử cung: Phát triển trong tiểu khung, hay gây chèn ép các tạng xung quanh. Khi chuyển dạ, u xơ ở eo trở thành khối u tiền đạo cản trở quá trình lọt, xuống, quay, sổ của thai và là nguyên nhân gây đẻ khó.
- U ở cổ tử cung: thường phát triển về phía âm đạo, dưới dạng polyp. Phân loại u xơ tử cung theo FIGO Liên đoàn Sản Phụ khoa Thế giới FIGO (2018) đã chia u xơ tử cung thành các nhóm [59]: Bảng 1. Phân loại u xơ tử cung theo FIGO (2018) 0 U xơ có cuống U xơ dưới niêm mạc (SubMucus - 1 < 50% trong cơ SM) và trong buồng tử cung 2 ≥ 50% trong cơ Tiếp xúc với nội mạc, 3 100% trong cơ 4 Trong cơ tử cung U dưới thanh mạc, 5 ≥ 50% trong cơ U dưới thanh mạc, 6 < 50% trong cơ U dưới thanh mạc, có 7 cuống Khác (đặc biệt như ở cổ tử 8 cung,…) Hai số nối với nhau bởi dấu “-”. Số đầu khối u xơ ảnh hưởng tới nội mạc, số 2 biểu thị cho khối u xơ ảnh hưởng H- U xơ tử cung tiếp xúc đồng thời tới thanh mạc.
với thanh mạc và niêm mạc Ví dụ: U xơ dưới niêm và UXTC dưới thanh mạc.