Chương 1: Tổng quan về điều trị ung thư tuyến giáp sử dụng I-131 và các vấn đề an toàn bức xạ liên quan. 6 Trong chương này, nội dung trình bày ung thư tuyến giáp và các phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp trong đó đi sâu vào phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp bằng I-131. Các vấn đề liên quan trong an toàn bức xạ. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu đo suất liều chiếu ngoài và tính toán hoạt độ tồn dư trong cơ thể.
Nội dung chương này trình bày phương pháp đo và các thiết bị sử dụng đối với EDR và RBA. Chương 3: Kết quả đo Trình bày kết quả đo đạc và tính toán, so sánh và thiết lập mối liên hệ giữa EDR và RBA, tính toán chu kỳ bán rã sinh học đối với từng lứa tuổi. Kết luận : Trình bày mục tiêu đã đạt được và phương hướng phát triển tiếp sau này. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN GIÁP SỬ DỤNG I-131 VÀ CÁC VẤN ĐỀ AN TOÀN BỨC XẠ LIÊN QUAN 1.1 Điều trị bệnh ung thư tuyến giáp thể biệt hóa sử dụng chất phóng xạ hở Các liệu pháp phóng xạ với mục đích trị liệu sử dụng nguồn phóng xạ hở dựa vào việc tập trung chiếu xạ đến các tế bào ung thư.
Các phương pháp này được quản lý trong bệnh viện. Các phương pháp thường sử dụng là thông qua đường uống, tiêm tĩnh mạch (toàn thân). Ví dụ: sử dụng I-131 cho bệnh cường giáp hoặc Sr-89 cho di căn xương [2]. Hiện nay việc sử dụng liệu pháp I-131 trong điều trị ung thư tuyến giáp ngày càng trở nên quan trọng.
Hầu hết các hạt nhân phóng xạ được sử dụng trong liệu pháp phát ra các tia beta (β- ) có khả năng thâm nhập mô thấp. Chúng cũng phát ra các tia gamma có khả năng đâm xuyên cao hoặc tia X đặc trưng. Các hạt nhân phóng xạ phát tia beta (β -), với khả năng thâm nhập mô thấp hơn, được đưa vào bên trong cơ thể bệnh nhân. Các tia bức xạ phát ra giới hạn ở bệnh nhân, chất bài tiết và dịch cơ thể của họ.
Do đó, mối quan tâm về an toàn bức xạ của nhân viên, công chúng và những người khác chủ yếu liên quan đến bệnh nhân, việc xử lý phân và dịch cơ thể. Các hạt nhân phóng xạ được sử dụng phổ biến, mức năng lượng của chúng và thời gian bán rã được liệt kê trong Bảng 1.1: Hạt nhân phóng xạ thường được sử dụng phổ biến trong y học hạt nhân và thời gian bán rã [2] Năng lượng phát ra (keV) Hạt nhân phóng xạ Thời gian bán rã(d) Beta max Gamma P-32 1710 14,3 Sr-89 1492 50,5 Y-90 2284 2,67 I-131 606 364 8,04 Sm-153 881 103 1,93 Ho-166 1850 81 1,13 Er-169 340 9,3 Lu-177 500 113 và 208 6,7 Re-186 1070 137 3,8 Re-188 2120 155 0,7 Au-198 1372 411 2,696 8 1.2 Phương pháp điều trị ung thư tuyến giáp sử dụng I-131 Tuyến giáp được thể hiện trong hình 1.1 là một tuyến nội tiết hình móng ngựa, nằm ở vùng cổ trước khí quản, vị trí tương đương với đốt sống cổ 5 đến đốt sống ngực gồm có 2 thùy là thùy trái và thùy phải, chúng được nối với nhau bởi eo tuyến giáp.1: Hình ảnh tuyến giáp Vai trò của tuyến giáp là sản xuất, lưu trữ và giải phóng hormone triiodothyronine (T3) và thyroxine (T4) vào máu .Các loại hormone tuyến giáp này có nhiều chức năng như: Làm tăng hoạt động tế bào, tăng cường chuyển hóa glucid làm tăng đường huyết và tăng cường chuyển hóa lipid tạo năng lượng cho cơ thể hoạt động, gây giảm cân. Tác động lên hoạt động tuyến sinh dục và tuyến sữa. Tăng nhịp tim, tăng lưu lượng máu qua tim, tăng hô hấp để cung cấp oxy cho sự chuyện hóa ở các mô cơ quan.
Tăng cường hoạt động của bộ não và hệ thần kinh. Tác dụng trên sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể, đặc biệt là bộ não. Duy trì ổn định lượng canxi trong máu. Ung thư tuyến giáp được định nghĩa là sự rối loạn tế bào, tuyến giáp tập trung một khối lượng lớn tế bào dị thường và phát triển không tuân theo sự kiểm soát của cơ thể gây xâm lấn hoặc tàn phá các mô xung quanh.
Ung thư tuyến giáp là một bệnh ác tính của tuyến giáp, một loại ung thư phổ biến và ngày càng có xu hướng gia tăng. Đây là loại ung thư nội tiết thường gặp nhất (khoảng 90%) và chiếm khoảng 1% ung thư các loại[12]. Ung thư tuyến giáp có thể chia làm hai nhóm khác nhau đó là ung thư tuyến giáp thể biệt hóa và ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa. Trong đó ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa là loại hiếm gặp, 9 chỉ chiếm khoảng 2% tỷ lệ mắc bệnh và ung thư tuyến giáp thể biệt hóa được chia làm ba loại: - Ung thư tuyến giáp thể nhú: chiếm khoảng 70-80% ca bệnh ung thư tuyến giáp.
Thể bệnh này tiến triển chậm, khó phát hiện. Khi chuyển sang di căn bệnh sẽ gây ra các hạch cổ hoặc lan vào xương, phổi. - Ung thư tuyến giáp thể nang: chiếm từ 10-15% ca bệnh ung thư tuyến giáp. Bệnh này thường gặp ở những người bị thiếu Iốt.
Bệnh tiến triển nhanh hơn ung thư tuyến giáp thể nhú. - Ung thư tuyến giáp thể tủy: là loại ít gặp, chiếm từ 5-10 %. Nguyên nhân gây ra ung thư dạng này chủ yếu đến từ yếu tố di truyền. Bệnh khó phát hiện, khả năng chẩn đoán muộn cao.
Bệnh có thể lan đến hạch bạch huyết ở gan và phổi cực kỳ nguy hiểm. Nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, ung thư tuyến giáp là một trong những dạng ung thư dễ chữa trị thành công nhất, cơ hội sống trên 5 năm cho các bệnh nhân là gần 100%. Ung thư giáp thường được điều trị bằng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp điều trị khác nhau tùy thuộc vào tình trạng của từng bệnh nhân, từng loại ung thư và từng giai đoạn bệnh. Các phương pháp điều trị chính cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp là phẫu thuật, sử dụng đồng vị phóng xạ I-131, xạ trị ngoài, hóa trị, điều trị đích, điều trị hormone,…mục đích của các phương pháp này là tiêu diệt tế bào ung thư với mức tổn thương cho tế bào bình thường là nhỏ nhất.
Mặc dù hầu hết ung thư tuyến giáp đều có thể điều trị được, nhưng có thể có những ý kiến khác nhau về cách lựa chọn điều trị ung thư tuyến giáp, đặc biệt là phương pháp được sử dụng để kết hợp điều trị và thời điểm điều trị. Do đó sẽ có một nhóm gồm các bác sỹ, kỹ sư làm việc cùng nhau để đưa ra kế hoạch điều trị tổng thể cho từng bệnh nhân. Bác sĩ phải thảo luận với bệnh nhân về tất cả các phương thức điều trị có thể sử dụng. - Phẫu thuật: Trong ung thư tuyến giáp, phẫu thuật đóng vai trò quyết định và phải thực hiện trước tiên.
Tuỳ theo giai đoạn bệnh, thể bệnh, tuổi của bệnh nhân mà có những cách thức phẫu thuật khác nhau. Phẫu thuật có thể cắt một phần, cắt một thùy giáp, cắt gần hết hoặc cắt toàn bộ tuyến giáp. Một số tác giả cho rằng nếu u giáp nhỏ (T1) chưa xâm lấn, chưa có di căn hạch vùng và chưa có di căn xa (N0, M0), bệnh nhân trẻ (dưới 40 tuổi) chỉ phẫu thuật cắt thuỳ là đủ. Tuy nhiên, phẫu thuật có thể gây một số biến chứng như chảy máu, tụ dịch, liệt thần kinh hồi thanh quản, suy tuyến cận giáp, tổn thương nhánh ngoài thần kinh thanh quản trên… Vì vậy, việc quyết định phẫu thuật hay phẫu thuật như thế nào hoặc không phẫu thuật sẽ dựa trên nhiều yếu tố như tình trạng bệnh, giai đoạn, kích thước khối u, tình trạng bệnh nhân.
10 - Xạ trị: Xạ trị dùng chùm bức xạ ion hóa chiếu đến tế bào ung thư để điều trị, là kết quả của quá trình ion hóa trong tế bào tạo ra các cặp ion hóa có khả năng phá hủy cấu trúc phân tử của các tế bào, làm tế bào bị biến đổi hoặc bị tiêu diệt. Phương pháp này chỉ áp dụng cho những bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa có khối u lớn xâm lấn tại chỗ mà không có khả năng phẫu thuật hoặc các trường hợp ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa. Xạ trị ngoài thường áp dụng cho ung thư thể tuỷ, tuy nhiên kết quả cũng còn hạn chế. Xạ trị ngoài hay gây các biến chứng như teo tuyến nước bọt, xơ hoá vùng cổ, thực quản, khí quản.
- Sử dụng I-131 : Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, việc phối hợp nhiều phương pháp điều trị cho ung thư biểu mô tuyến giáp thể biệt hoá bao gồm các bước: phẫu thuật cắt giáp toàn phần, sau 4-6 tuần dùng I-131 để huỷ nốt mô tuyến giáp còn lại và điều trị bổ trợ hormon tuyến giáp (thyroxine) đang được áp dụng khá phổ biến. Khi có di căn xa vào xương, phổi, não thì phẫu thuật đơn thuần không giải quyết được, lúc này điều trị bằng I-131 được xem phương pháp hữu hiệu duy nhất. I-131 là một đồng vị phóng xạ được phát hiện bởi Glenn Seaborg và John Livingood vào năm 1938 tại Đại học California, Berkeley. Năm 1942, lần đầu tiên trên thế giới, tại bệnh viện Massachusett - Hoa Kỳ, hai Bác sỹ Herts và Roberts đã sử dụng I-131 để điều trị bệnh cường giáp[14].
Cho đến nay trải qua hơn 60 năm sử dụng I-131, hàng triệu bệnh nhân mắc bệnh ung thư tuyến giáp trên thế giới đã được điều trị thành công bằng I-131. Ở Việt Nam, năm 1978 lần đầu tiên tại khoa Y học hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai I-131 đã được sử dụng để điều trị bệnh Basedow và cường giáp. Cho đến nay hầu hết các khoa Y học hạt nhân trong cả nước đã tiến hành điều trị ung thư tuyến giáp bằng I-131. I-131 được sản xuất từ lò phản ứng hạt nhân bằng cách dùng neutron bắn phá hạt nhân nguyên tử Tellur (Te) theo phản ứng: I-131 có thời gian bán rã vật lý T1/2 = 8,04 ngày, phát tia gamma (γ) chủ yếu ở mức năng lượng 364 keV (82%) được dùng trong ghi đo chẩn đoán và tia beta (β) có mức năng lượng 608 keV (87%) có quãng chạy ngắn hiệu quả tốt trong điều trị[2].2 thể hiện sơ đồ phân rã của I-131.1 Cơ chế điều trị ung thư tuyến giáp bằng I-131 Iốt là một trong những nguyên liệu để tuyến giáp tổng hợp nên hormone tuyến giáp.
Iốt được cung cấp bằng thức ăn, nước uống. Ngoài ra iốt có thể được cung cấp thông qua các nguồn khác như thuốc, thực phẩm chức năng và chất phụ gia thực phẩm.