Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cấu trúc giải phẫu và mô học của buồng trứng 1. Cấu trúc giải phẫu[3] Buồng trứng là một tạng nằm trong ổ phúc mạc, hai buồng trứng nằm sát hai thành bên của chậu hông bé, sau dây chằng rộng. Buồng trứng có hình hạnh nhân hơi dẹt, màu hồng xám, mặt nhẵn khi chưa sảy ra rụng trứng, sau đó các buồng trứng bị méo đi do sự hóa sẹo kế tiếp nhau của các thể vàng.
Hình dáng kích thước của buồng trứng thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể. Ở trẻ sơ sinh là 0,25cm x 0,5 cm x 1,5 cm nặng khoảng 0,3-0,4g. Ở tuổi dậy thì là 1,2cm x 1,8 cm x 3cm. Ở tuổi mãn kinh buồng trứng teo nhỏ là 0,5cm x 1,5cm x 2cm.
Buồng trứng có 2 mặt là mặt ngoài và mặt trong: Mặt ngoài tiếp xúc với phúc mạc thành trong hố buồng trứng, hố buồng trứng được giới hạn ở trước bởi thừng động mạch rốn và ở sau bởi niệu quản và động mạch chậu trong, ngoài phúc mạc thành là mô ngoài phúc mạc chứa vào các mạch máu và thần kinh bịt, nơi mà mạch máu và thần kinh đi vào và ra khỏi buồng trứng trên mặt ngoài gần bờ mạc treo gọi là rốn buồng trứng. Mặt trong tiếp xúc với các tua vòi và liên quan với các quai ruột. Buồng trứng có hai đầu là đầu vòi trên và đầu tử cung ở dưới: Đầu vòi là nơi bám của dây chằng treo buồng trứng và tua buồng trứng của vòi tử cung. Đầu tử cung được buộc vào sừng tử cung bằng dây chằng riêng buồng trứng.
Buồng trứng được định vị bởi 4 dây chằng. Các dây chằng này treo giữ buồng trứng một cách tương đối. Dây chằng tử cung-buồng trứng Dây chằng thắt lưng-buồng trứng Mạc treo buồng trứng Dây chằng vòi trứng-buồng trứng download by : skknchat@gmail. Tử cung và các phần phụ Mạch máu và thần kinh buồng trứng [4]: Động mạch: Buồng trứng được cấp máu từ hai nguồn - Động mạch buồng trứng - Động mạch tử cung Tĩnh mạch: Tĩnh mạch buồng trứng phải đổ về tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh mạch buồng trứng trái đổ về tĩnh mạch thận trái.
Hệ thống bạch huyết: Dẫn lưu vào các thân bạch mạch lớn hơn để tạo thành đám rối ở rốn buồng trứng, chúng đi qua mạc treo buồng trứng để dẫn lưu tới các hạch quanh động mạch, các nhánh khác dẫn lưu vào các hạch chậu trong, chậu ngoài, giữa động mạch chủ, động mạch chậu khung và hạch bẹn. Thần kinh: Tách ra từ đám rối liên mạc treo và đám rối thận 1. Cấu trúc mô học Buồng trứng được cấu tạo bởi hai vùng là vùng tủy có nhiều mạch máu và vùng vỏ. Vùng tủy: Được cấu tạo bởi mô liên kết thưa, nhiều sợi tạo keo, nhiều sợi chun và có ít tế bào sợi hơn vùng vỏ.
Ngoài ra còn có các sợi cơ trơn, các động mạch xoắn, những cuộn tĩnh mạch tạo nên mô cương của buồng trứng. download by : skknchat@gmail.2020 5 Vùng vỏ: Gồm một lớp biểu mô đơn bao phủ mặt ngoài. Dưới lớp biểu mô là mô kẽ gồm những tế bào hình thoi xếp theo nhiều hướng khác nhau, chúng có thể biệt hóa thành những tế bào nội tiết, tạo ra tuyến kẽ, và tuyến vỏ, có chức năng tiết ra các hooc môn loại steroid. Mô kẽ: Gồm nhiều nang trứng hình cầu, mỗi nang trứng là một túi đựng noãn.
Ở tuổi dậy thì các nang này có kích thước rất nhỏ, đều nhau, không nhìn thấy được bằng mắt thường, gọi là nang trứng nguyên thủy.000 nang trứng nguyên thủy ở tuổi dậy thì. Các nang nguyên thủy tiến triển qua các giai đoạn: Nang trứng nguyên phát, nang trứng thứ phát, cuối cùng là nang trứng chín. Hằng tháng, vào khoảng ngày thứ 14 của vòng kinh lại có một (đôi khi là hai hoặc ba) nang trứng đạt tới mức chín vỡ ra phóng thích noãn chứa bên trong nó ra khỏi buồng trứng. Hiện tượng này gọi là sự rụng trứng.
Phần còn lại của nang trứng vỡ ra đã mất noãn phát triển thành hoàng thể. Hoàng thể tồn tại và hoạt động dài hay ngắn phụ thuộc vào noãn sau khi phóng thích có được thụ tinh hay không, cuối cùng thoái triển tạo thành sẹo màu trắng gọi là thể trắng. Do sự phóng noãn hàng tháng mà lớp biểu mô bề mặt buồng trứng luôn ở trạng thái tổn thương, sửa chữa mà người ta cho rằng đó là nguyên nhân sinh ra ung thư buồng trứng khi sự sửa chữa bị sai sót. Chức năng của buồng trứng Buồng trứng có hai chức năng, chức năng ngoại tiết là tạo noãn và chức năng nội tiết là sản xuất ra các hooc môn sinh dục.
Chức năng ngoại tiết Buồng trứng có rất nhiều nang noãn, vào tuổi dậy thì số lượng noan nãng chỉ còn 300.000, buồng trứng không có khả năng sản sinh những nang noãn mới. Buồng trứng là một cơ quan đích trong trục dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng. Dưới tác dụng của Follicle-Stimulating hormon (FSH) nang noãn sẽ lớn lên rồi chín gọi là nang De Graff, có đường kính từ 1,5 đến 2 cm. Dưới tác dụng của Luteinizing hormon (LH) nang noãn chín, lồi ra phần download by : skknchat@gmail.2020 6 ngoại vi của buồng trứng rồi vỡ, noãn được phóng ra ngoài, đó là hiện tượng phóng noãn.
Noãn phóng ra được loa vòi của vòi trứng hứng lấy, nếu gặp tinh trùng noãn được thụ tinh, vừa phát triển, trứng vừa di chuyển về buồng tử cung để làm tổ ở đó. Phần tế bào nang còn lại sẽ chuyển dạng thành tế bào hoàng thể. Chức năng nội tiết Dưới tác dụng của các hooc môn GnRH, LH, FSH, buồng trứng sản xuất ra estrogen, progesterone và androgen. Các hoocmon này tác động lên niêm mạc tử cung tạo nên hiện tượng kinh nguyệt.
Ngoài ra chúng còn tác động lên các cơ quan khác như cơ tử cung, cổ tử cung, âm hộ, âm đạo và tuyến vú.Dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ gây ung thư buồng trứng 1. Dịch tễ học UTBT chiếm 20% số ca ung thư cơ quan sinh dục nữ, tỷ lệ mắc bệnh trung bình vào khoảng 15/100.000 phụ nữ hàng năm. Đã có thông báo về sự gia tăng mạnh mẽ tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đối với UTBT ở Singapore, Nhật Bản, Anh và Tây Ban Nha [5]. Theo các số liệu trên thế giới, UTBMBT chiếm 85% trong tổng số UTBT, có tỷ lệ mắc bệnh tăng từ 1,4/100.000 phụ nữ ở độ tuổi dưới 40 lên đến 38/100.000 phụ nữ trên 60 tuổi.
UTBT loại không biểu mô hay gặp ở tuổi trẻ, thường được chẩn đoán ở độ tuổi dưới 20 [6]. Tỷ lệ sống thêm của người bệnh UTBMBT có sự khác biệt theo tuổi và theo giai đoạn. Sống thêm 5 năm ở 45 tuổi là 70%, ở 75 tuổi là 20% [7]. Ở Việt Nam, UTBT đứng hàng thứ năm trong các loại ung thư ở phụ nữ.
Tính trung bình cứ 100.000 dân thì có 4 đến 5 người mắc UTBT [8]. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ Cho đến nay, người ta chưa biết rõ nguyên nhân của UTBMBT, tuy nhiên có một số yếu tố nguy cơ sau được xác định là có liên quan tới UTBT. download by : skknchat@gmail.2020 7 Tiền sử gia đình: Có khoảng 5-10% u buồng trứng có tính chất gia đình. Nguy cơ mắc ung thu ư buồng trúng tăng lên khi có mẹ hoặc chị em gái mắc UTBT hoặc ung thư vú, đặc biệt mắc ở tuổi trẻ em.
Tiền sử bệnh tật: Phụ nữ có tiền sử mắc ung thư nội mạc tử cung, ung thư dạ dày, ung thư đại tràng có nguy cơ cao mắc ung thư buồng trứng. Tiền sử sinh sản: Phụ nữ chửa đẻ nhiều lần giảm được nguy cớ ung thư buồng trứung 30% so với phụ nữ không chửa đẻ. Thời gian cho con bú càng dài, nguy cơ mắc ung thư buồng trứng càng giảm, do không có sự phóng noãn trong thời gian cho con bú ở một số phụ nữ. Tiền sử nội tiết - Hormon ngoại sinh: Sử dụng thuốc tránh thai với thời gian dài nhằm giảm nguy cơ mắc bệnh.
Người ta cho rằng nếu dùng thuốc tranh thai năm năm làm giảm nguy cơ mắc ung thư buồng trứng ở người không chửa đẻ xuống còn như người đã đẻ; nếu dùng 10 năm làm giảm nguy cơ mắc UTBT ở người có tiền sử gia đình bị UTBT xuống còn như người không có tiền sử gia đình bị UTBT; ở những người dùng hormon thay thế, nguy cơ UTBT cũng giảm đi. Dùng thuốc kích thích rụng trứng như Clomiphen citrate làm tăng nguy cơ 2- 3 lần nếu dùng trên 12 chu kỳ. - Hormon nội sinh: Nồng độ Androgen cao, FSH và LH thấp làm tăng nguy cơ ung thư buồng trứng. Các yếu tố khác: Ô nhiềm môi trường đặc biệt 2 chất Asbestos và bột Tale có thể làm tăng nguy cơ ung thư.
Điều kiện sinh hoạt vật chất cao ở các nước phát triển làm tăng tỷ lệ UTBT ở các nước này. Tổn thương ung thư buồng trứng 1. Khái niệm về tổn thương ung thư buồng trứng Ung thư buồng trứng là một căn bệnh mà tùy thuộc vào loại và giai đoạn của bệnh, các tế bào ác tính được tìm thấy bên trong, gần hoặc lớp ngoài của buồng trứng. Trên 90% u tân sinh buồng trứng phát sinh từ bề mặt biểu download by : skknchat@gmail.2020 8 mô của buồng trứng, phần còn lại từ tế bào mầm hoặc tế bào mô đệm.
Các tân sinh biểu mô được phân loại là huyết thanh (30-70%); nội mạc tử cung (10- 20%); tế bào trong (3-10%); và không biệt hóa (1%). Chẩn đoán Sàng lọc và phát hiện sớm Nhiều nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng trên thế giới đã chỉ ra rằng chưa có một phương pháp nào thực sự hiệu quả trong việc sàng lọc UTBT một cách rộng rãi như ung thư vú hoặc ung thư cổ tử cung. Tiến triển tự nhiên của ung thư buồng trứng Lan tràn tự nhiên của bệnh theo ba con đường Theo ổ phúc mạc Theo đường bạch huyết Theo đường máu Xâm lấn tại chỗ, tại vùng. Đặc điểm lâm sàng Do đặc điểm giải phẫu, buồng trứng nằm sâu trong tiểu khung, nên ở giai đoạn sớm các triệu chứng thường mờ nhạt, mơ hồ, không đặc hiệu dẫn đến dễ bị bỏ qua, khi các triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã ở giai đoạn muộn.
Triệu chứng hay gặp nhất là đau tức hạ vị, tiếp đó là cảm giác căng chướng bụng do xuất hiện dịch ổ bụng và sự lớn lên của các khối u buồng trứng. Các triệu chứng thường gặp liên quan đến hệ tiêu hóa như buồn nôn, mất cảm giác ăn ngon miệng, ăn chóng no, táo bón và có thể gặp những dấu hiệu của tắc ruột. Ở giai đoan muộn, người bệnh gầy sút rõ rệt, biểu hiện suy dinh dưỡng nặng kèm theo rối loạn nước điện giải.