Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm chung liên quan đến tăng huyết áp 1. Tăng huyết áp và quản lý tăng huyết áp Huyết áp Huyết áp là áp lực máu tác động lên thành mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Các thông số huyết áp thường được áp dụng: (1) Huyết áp tâm thu (HATT) là giới hạn cao nhất của những dao động có chu kỳ của HA trong mạch, thể hiện sức bơm máu của tim; (2) Huyết áp tâm trương (HATTr) là giới hạn thấp nhất của những dao động có chu kỳ của HA trong mạch, thể hiện sức cản của tim; (3) Huyết áp trung bình (HATB) là áp suất tạo ra với dòng máu chảy liên tục và có lưu lượng bằng với cung lượng tim và (4) Hiệu áp hay áp lực máu là hiệu số giữa HATT và HATTr [8], [16].
Tăng huyết áp Theo TCYTTG, một người trưởng thành được gọi là THA khi HATT ≥ 140mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90mmHg, hoặc đang điều trị thuốc hạ huyết áp hàng ngày, hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA [17]. THA không phải là một tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau. THA được coi là YTNC chính đối với bệnh tim mạch, đặc biệt là nhồi máu cơ tim và đột quị [5], [16]. Phân độ Tăng huyết áp Có nhiều cách phân loại THA khác nhau.
Ở Việt Nam, có 2 cách phân loại được áp dụng phổ biến là phân độ THA theo TCYTTG/ISH (năm 2003) [8] và phân loại huyết áp theo JNC VII [18]. Bảng phân độ THA theo TCYTTG và theo JNC VII Phân loại HA ở Theo TCYTTG (2003) Theo JNC VII người lớn Loại HA HATT HATTr HATT HATTr Bình thường - - <120 <80 Tiền THA - - 120-139 80-89 THA độ I 140-159 90-99 140-159 90-99 THA độII 160-179 100-109 ≥160 ≥100 THA độ III ≥180 ≥110 - - Khi HATT và HATTr rơi vào hai độ khác nhau thì độ nào cao hơn sẽ được chọn để xác định THA [8], [16], [19]. Quản lý Tăng huyết áp Quản lý THA là việc triển khai các giải pháp đồng bộ gồm: (i) củng cố hệ thống y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo trang thiết bị và thuốc điều trị THA, đảm bảo tính sẵn có của các dịch vụ tư vấn, khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và lập hồ sơ quản lý lâu dài bệnh THA; (ii) nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của người bệnh THA để họ có thể thay đổi hành vi lối sống, tăng cường hoạt động thể lực, áp dụng chế độ dinh dưỡng hợp lý, tuân thủ điều trị nhằm đạt huyết áp mục tiêu và dự phòng các biến chứng có thể xảy ra [20]. Tình hình bệnh tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam 1.
Trên thế giới Tại Vương quốc Anh, theo Mindell và William, thống kê bệnh tim mạch năm 2011 cho thấy tỷ lệ mắc THA trong dân số từ 16 tuổi trở lên là 31% ở nam và 27% ở nữ, không có sự thay đổi đáng kể tỷ lệ này tính từ 6 năm 2003. Tỷ lệ THA thấp nhất thuộc nhóm 16-24 tuổi (nữ: 2% và nam: 8%) và cao nhất ở nhóm từ 75 tuổi trở lên (nữ: 78% và nam: 66%). Tỷ lệ những người bị THA không được điều trị đã giảm đáng kể so với năm 2003 (từ 20% xuống còn 16% ở nam giới và từ 16% xuống còn 11% ở nữ giới). Tỷ lệ mắc THA ở người từ 16 tuổi trở lên tại các nước khác thuộc khối Liên hiệp Anh cũng có những con số tương tự.
Theo thống kê tại Scotland, năm 2011, tỷ lệ THA ở nam giới là 33% và ở nữ giới là 32%. Ở Bắc Ailen năm 2011, tỷ lệ THA ở nam giới là 26% và ở nữ giới là 27%. Tại xứ Wale năm 2013, có 20% nam giới và 20% nữ giới được báo cáo là đang tham gia điều trị THA [21], [22]. Tại Mỹ, Yoon cho biết kết quả điều tra tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ quốc gia năm 2011-2012 cho thấy khoảng 70 triệu người trưởng thành (29,1%) mắc THA, cứ ba người trưởng thành thì có một người bị THA.
Có 82,8% những người THA biết được tình trạng bệnh của mình; 75,7% người THA đang được điều trị THA và chỉ 51,9% người THA kiểm soát được huyết áp của họ. Ngoài ra, cũng cứ 3 người Mỹ trưởng thành thì còn có 1 người ở trong tình trạng tiền THA [23], [24]. Tại khu vực Đông Nam Á, Gargii ước tính có 7,9 triệu người tử vong do BKLN (tương đương 55% tổng số tử vong) năm 2018, trong đó có 34% tử vong trước 60 tuổi, chiếm 23% tử vong sớm toàn thế giới. Các bệnh tim mạch là nguyên nhân dẫn tới 25% tổng số tử vong ở khu vực này và một trong những YTNC của bệnh tim mạch là THA.
Tỷ lệ THA chiếm khoảng 36,6% người trưởng thành trong khu vực và là nguyên nhân tử vong của 1,5 triệu người mỗi năm [25], [26]. Tại Việt Nam Theo thống kê của giáo sư Đặng Văn Chung năm 1960, tần suất THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam là 1%. Năm 1992, theo điều tra trên toàn quốc 7 của giáo sư Trần Đỗ Trinh và cộng sự thì tỷ lệ này đã là 11,7%, tăng hơn 11 lần so với năm 1960 và mỗi năm tăng trung bình 0,33%. Năm 2002, Theo Nguyễn Lân Việt, kết quả điều tra dịch tễ học THA và các YTNC trên người trưởng thành ≥ 25 tuổi tại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam cho thấy tần suất THA đã tăng đến 16,3%, trong 10 năm giai đoạn 1992-2002 trung bình mỗi năm tăng 0,46%.
Như vậy, tốc độ và tỷ lệ gia tăng THA trong cộng đồng ngày càng cao và tỷ lệ THA ở vùng thành thị (22,7%) cao hơn vùng nông thôn (12,3%) [9]. Năm 2008, theo điều tra của Viện Tim mạch Trung ương - Bộ Y tế tiến hành tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta, tỷ lệ mắc THA ở người trưởng thành ≥ 25 tuổi là 25,1% [27], nghĩa là cứ 4 người lớn ở nước ta thì có 1 người bị THA, nam cao hơn nữ (28,3% và 23,1%); tăng 48% so với tỷ lệ mắc công bố bởi Điều tra y tế toàn quốc năm 2001-2002 [28]. Tỷ lệ THA ở thành thị cao hơn ở nông thôn (32,7% và 17,3%). Năm 2015-2016, một nghiên cứu tại cộng đồng do Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành tại 8 tỉnh/thành phố, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ THA ở người từ 25 tuổi trở lên chiếm 25,1% (ước tính cả nước có 11 triệu người), trong đó chỉ có 48,4% (khoảng 5,3 triệu người) biết mình bị THA và 61,1% (khoảng 3,2 triệu người) người biết bị THA tham gia điều trị, tỷ lệ người THA có điều trị và kiểm soát được huyết áp là 36,3% (khoảng 1,2 triệu người) [29].
Theo thống kê của Bộ Y tế, tại Việt Nam, tỷ lệ người tử vong do bệnh BKLN chiếm 56,1% năm 2015 [30]. Trong đó, bệnh tim mạch chiếm 30% tổng số trường hợp tử vong, ung thư 21%, bệnh đường hô hấp mạn tính 6%, bệnh đái tháo đường 3%, bệnh tâm thần, thần kinh 2%. Khoảng một nửa số tử vong xảy ra trước 70 tuổi. Gánh nặng bệnh tật của tăng huyết áp Theo số liệu thống kê của TCYTTG, THA ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới và là YTNC tim mạch quan trọng nhất liên 8 quan đến bệnh mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận mạn tính [8], [12].
Hàng năm, bệnh tim mạch gây ra 17 triệu ca tử vong toàn cầu, chiếm gần 1/3 tổng số tử vong, trong đó các biến chứng của THA là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất dẫn tới tử vong sớm và cướp đi sinh mạng của 9,4 triệu người. THA là nguyên nhân của ít nhất 45% các trường hợp tử vong do bệnh tim và 51% các trường hợp tử vong do đột quỵ [8]. Năm 2013, TCYTTG ước lượng xấp xỉ 40% người trưởng thành trên thế giới từ 25 tuổi trở lên bị mắc THA, tỷ lệ này cao nhất ở khu vực Châu Phi (46%) và thấp nhất ở khu vực Châu Mỹ (35%). Tại tất cả các khu vực, tỷ lệ THA ở nam giới đều cao hơn ở nữ giới, tuy nhiên sự khác biệt này chỉ có ý nghĩa thống kê ở khu vực Châu Mỹ và Châu Âu.
Tỷ lệ THA ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (40%) cao hơn ở các nước có thu nhập cao (35%). Các nước thu nhập cao với những chính sách y tế công cộng tốt, hoạt động phòng bệnh được sự quan tâm và tham gia tích cực của đa ngành, các dịch vụ chẩn đoán và điều trị THA luôn sẵn sàng, tiện lợi với chất lượng cao đã làm giảm tỷ lệ mắc THA. Trái lại ở nhiều nước đang phát triển, gánh nặng bệnh tật do THA đang ngày càng gia tăng trong vài thập kỷ trở lại đây [8], [12]. Gánh nặng kinh tế của tăng huyết áp Chi phí cho các BKLN, trong đó có THA, là rất lớn và tiếp tục tăng lên, nhất là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, tạo gánh nặng lớn lên kinh tế vĩ mô.
Chỉ tính riêng một trong các YTNC quan trọng của BKLN - là hút thuốc lá - đã lấy đi mạng sống của 6 triệu người hằng năm và chiếm 1-2% tổng sản phẩm toàn cầu mỗi năm [31]. Theo một báo cáo năm 2012 trên toàn thế giới, ước tính chi phí tiêu tốn cho bệnh tim mạch khoảng 394 tỷ USD, trong đó 242 tỷ USD dành cho chăm sóc y tế và 152 tỷ USD do mất khả năng lao động vì tàn tật hoặc tử vong [30]. 9 Theo ước tính của TCYTTG, trong giai đoạn 2011-2025, tổng gánh nặng kinh tế do BKLN gây ra tại các nước có thu nhập thấp và trung bình lên tới 7,2 ngàn tỷ USD, chi phí trung bình mỗi năm ước khoảng 500 tỷ USD, tương đương 4% tổng thu nhập quốc nội của các nước này. Trong đó, các bệnh tim mạch, gồm cả THA chiếm gần 50% tổng chi phí [32].
Cũng theo dự báo, trong vòng 20 năm tới, bốn nhóm BKLN chính (tim mạch, ung thư, đái tháo đường, hô hấp mạn tính) và các bệnh tâm thần sẽ lấy đi của nền kinh tế thế giới khoảng 47 nghìn tỷ USD. BKLN cũng tạo gánh nặng rất lớn lên hệ thống y tế, chiếm khoảng 75% chi tiêu cho CSSK toàn cầu và con số này đang tiếp tục tăng lên [30], [33]. Tại Mỹ năm 2011-2012, tổng chi phí (bao gồm cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp) cho THA lên đến 48,6 tỷ USD. Chi phí cho các bệnh liên quan khác gồm bệnh tim mạch 207,3 tỷ USD; đột quỵ 33 tỷ USD.