CHƯƠNG 1. Đại cương về tăng huyết áp 1. Định nghĩa Tăng huyết áp được xác định khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg [9] 1. Dịch tễ: Theo ước tính của Hội tim mạch Châu Âu và Hội tăng huyết áp Châu Âu (ESC/ESH) tỷ lệ tăng huyết áp toàn cầu là 1,13 tỷ người trong năm 2015 và vào năm 2025 với tổng số người mắc bệnh trên toàn thế giới khoảng 1,56 tỷ người.[32] Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc THA đang gia tăng một cách nhanh chóng.
Theo thống kê, năm 1960, tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành phía Bắc Việt Nam chỉ là 1% và hơn 30 năm sau (1992) theo điều tra trên toàn quốc của Viện Tim Mạch thì tỷ lệ này đã là 11,2% tăng lên hơn 11 lần. Theo kết quả điều tra năm 2008, tỷ lệ tăng huyết áp ở người có độ tuổi 25-64 là 25,1% [11]. Theo Tổng điều tra toàn quốc về yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở Việt Nam năm 2015, có 18,9% người trưởng thành trong độ tuổi 18-69 tuổi bị tăng huyết áp, trong đó có 28,1% là nam giới và 14,9% là nữ giới. Còn nếu xét trong độ tuổi 18-25 tuổi thì tỷ lệ tăng huyết áp tăng từ 15,3% năm 2010 lên 20,3% năm 2015.
Như vậy là cứ 5 người trưởng thành 25-64 tuổi thì có 1 người bị tăng huyết áp.[24] Thực trạng về hiểu biết và kiểm soát THA của bệnh nhân tại Việt Nam cũng là vấn đề rất đáng quan tâm do nhận thức cộng đồng về căn bệnh THA còn rất hạn chế. Tại Hội nghị về công tác phòng chống bệnh lây nhiễm năm 2017, ở Việt Nam các bệnh không lây nhiễm đã chiếm đến 66% tổng gánh nặng bệnh tật và 73% ca tử vong hàng năm. Có đến 60% người bệnh tăng huyết áp chưa được phát hiện , chỉ có 14% bệnh nhân THA và gần 30% người có nguy cơ tim mạch được quản lý, dự phòng và dùng thuốc theo quy định, có một tỷ lệ lớn về tăng huyết áp được phát hiệ tình cờ qua các cuộc điều tra, tình trạng bỏ sót chẩn đoán THA đã và đang xảy ra. Theo thống kê năm 2015 của Hội tim mạch học Việt Nam, trên 5.454 người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc mắc THA cho kết quả có 52,8% người có huyết áp bình thường, 47,3% người bị THA, trong đó có 2 39,1% không được phát hiện THA, 7,2% người bị THA nhưng không điều trị và có 69% bị THA nhưng chưa kiểm soát được.
Nguyên nhân Phần lớn THA ở người trưởng thành là không có nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có 10% THA có nguyên nhân (THA thứ phát). Nguyên nhân của THA thứ phát có thể được phát hiện thông qua khai thác tiền sử, khám lâm sàng và các kết quả cận lâm sàng thường quy bao gồm:[7] - Bệnh thận cấp hoặc mạn tính: viêm cầu thận cấp/mạn, viêm thận kẽ, sỏi thận, thận đa nang, thận ứ nước, suy thận. - Hẹp động mạch thận. - U tủy thượng thận (Pheocromocytome) - Cường Aldosterone tiên phát (Hội chứng Corn) - Hội chứng Cushing’s - Bệnh lý tuyến giáp/cận giáp, tuyến yên.
- Do thuốc, liên quan đến thuốc ( kháng viêm non-steroid, thuốc tránh thai, corticoid, cam thảo, hoạt chất giống giao cảm trong thuốc cảm/thuốc nhỏ mắt,.) - Hẹp eo động mạch chủ - Bệnh Takayasu - Nhiễm độc thai nghén. - Ngừng thở khi ngủ. - Yếu tố tâm thần. Phân loại THA Hiện nay có nhiều tài liệu hướng dẫn phân độ THA theo chỉ số huyết áp khác nhau.
Ở đây chúng tôi lựa chọn phân độ THA theo khuyến cáo của Hội tim mạch Việt Nam năm 2018 theo bảng 1.1 dưới đây:[9] 3 Bảng 1. Phân loại tăng huyết áp theo Hội tim mạch Việt Nam 2018 Phân loại HA tâm thu HA tâm trương Tối ưu < 120 Và < 80 Bình thường 120-129 Và/hoặc 80-84 Bình thường cao 130-139 Và/hoặc 85-89 THA độ 1 140-159 Và/hoặc 90-99 THA độ 2 160-179 Và/hoặc 100-109 THA độ 3 ≥180 Và/hoặc ≥110 THA tâm thu đơn ≥140 Và <90 độc Và cập nhật 2021: [7] Phân loại THA của Hội tim mạch Việt Nam 2018 cũng tương tự như phân loại THA của Hội tim mạch Châu Âu ESC/ESH 2018 [32]. Tuy nhiên tại Khuyến cáo chẩn đoán và điều trị THA của VNHA/VSH 2021 [7] thì huyết áp chỉ được phân loại thành 4 mức (bảng 1. Lý do phân loại này là do có các bằng chứng chỉ ra được mối liên quan giữa các chỉ số HATT/HATTr và nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.
Ngày càng nhiều các phân tích cá nhân và các báo cáo tổng hợp với các dữ liệu quan sát được chứng minh mức độ rủi ro của các bệnh lý tim mạch tăng dần khi HA tăng từ chỉ số bình thường lên chỉ số HA cao và THA độ I. Ngoài ra trong khuyến cáo mới có THA độ I nhẹ và THA độ II nặng với chỉ số HA là ≥ 160 và/hoặc ≥ 100. Khác với khuyến cáo cũ là được chia rõ ràng làm 3 độ. So sánh phân độ THA giữa 2021 và 2018 [7], [32] HATT và HATTr (mmHg) VNHA/VSH 2021 VNHA/VSH 2018 < 120 và < 80 HA tối ưu HA tối ưu 120- 129 và < 80 HA bình thường HA bình thường 120 -129 và/hoặc 80-84 HA bình thường HA bình thường 130-139 và/hặc 85-89 HA bình thường cao HA bình thường cao 140-159 và/hoặc 90-99 THA độ I nhẹ THA độ I 160-179 và/hoặc 100-109 THA độ II ≥ 160 hoặc ≥100 THA độ II nặng ≥ 180 hoặc ≥110 THA độ III ≥140 và < 90 THA tâm thu đon độc THA tâm thu đơn độc Nếu HA không cùng loại thì chọn mức HATT hay HATr cao nhất.
Giá trị HA là giá trị trung bình của 2 lần đo. Chẩn đoán THA Theo hướng dẫn về chẩn đoán và điều trị THA của Hội tim mạch Việt Nam năm 2018, THA có thể được chẩn đoán dựa vào: Chỉ số huyết áp Đánh giá nguy cơ tim mạch toàn thể thông qua tìm kiếm các yếu tố nguy cơ, tổn thương cơ quan đích, bệnh lý hoặc dấu chứng lâm sàng kèm theo. Xác định nguyên nhân thứ phát gây THA Quá trình chẩn đoán bao gồm các bước chính như sau: Đo huyết áp nhiều lần Khai thác tiền sử Khám thực thể và thực hiện các khám nghiệm cận lâm sàng cần thiết. Huyết áp lưu động cung cấp thông tin nhiều hơn đo tại nhà hoặc phòng khám, ví dụ HA 24 giờ gồm cả HA trung bình ban ngày (thường từ 7-22 giờ) và giá trị ban đêm và mức dao động THA.
Yếu tố nguy cơ, tổn thương cơ quan đích và phân tầng nguy cơ tăng huyết áp Chỉ số huyết áp nhiều khi không phản ánh đúng tình trạng bệnh lý và khả năng tử vong, do đó mức độ diễn biến của bệnh tăng huyết áp không chỉ dựa vào chỉ số huyết áp mà còn theo các yếu tố nguy cơ và tổn thương cơ quan đích. Các mức độ nguy cơ là nguy cơ thấp, trung bình, cao và rất cao để phân định nguy cơ tử vong và tần suất tim 5 mạch. Khi đánh giá nguy cơ tim mạch, khuyến cáo vẫn sử dụng các thông số liên quan đến tổn thương cơ quan đích và tổn thương cơ quan mức cận lâm sàng. Các biến đổi chỉ số cận lâm sàng do THA là chỉ điểm cho nguy cơ tiến triển bệnh tim mạch do đó bệnh nhân THA nên chú ý theo dõi định kỳ trong quá trình điều trị.
Các yếu tố nguy cơ được trình bày trong bảng 1. Các yếu tố ảnh hưởng nguy cơ tim mạch của bệnh nhân THA [9] Đặc điểm dân số và các thông số cận lâm sàng Giới (Nam> nữ) Tuổi Thuốc lá – đang hút hoặc đã hút Cholesterol toàn bộ và HDL-C Acid uric Đái tháo đường Tăng trọng hoặc béo phì Tiền sử gia đình bị bệnh tim mạch sớm ( tuổi nam < 55 và nữ < 65) Tiền sử gia đình hoặc người thân mắc bệnh THA sớm Mãn kinh sớm Lối sống tĩnh tại Nhịp tim ( trị số khi nghỉ > 80 lần/phút) Tổn thương cơ quan đích không có triệu chứng Cứng mạch: HA mạch (ở người lớn) ≥ 60 mmHg Vận tốc sóng mạch (PWV) ĐMC – đùi > 10 m/s ECG dày thất trái Siêu âm tim DTT Albumin niệu vi thể hoặc tăng tỷ lệ Albumin - creatinin Bệnh thận mạn mức độ vừa với eGFR > 30-59 mL/ph/1.73 m2 (BSA) hoặc bệnh thận mạn nặng với eGFR < 30 ml/phút/1.73 m2 Chỉ số cẳng chân – cổ tay < 0.9 Bệnh võng mạc tiến triển: xuất huyết hoặc xuất tiết, phù gai thị Bệnh tim mạch đã xác định Bệnh mạch não: Đột quỵ thiếu máu cục bộ, xuất huyết não, THA 6 Bảng 1. Phân tầng nguy cơ tăng huyết áp [9] Và khuyến cáo 2021 [7] 1. Đại cương về điều trị THA 1.
Nguyên tắc và mục tiêu điều trị Tăng huyết áp là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài. Mục tiêu điều trị cần đạt được là đạt được “ huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “ nguy cơ tim mạch”[9] Khuyến cáo mục tiêu điề trị THA của Hội tim mạch học Việt Nam 2018 ở người > 18 tuổi: [25] - Mục tiêu điều trị THA là lựa chọn phương thức điều trị có chứng cứ giảm tối đa nguy cơ lâu dài toàn bộ về bệnh suất và tử suất tim mạch, tử vong chung (1A) 7 - Xác định ngưỡng HA ban đầu cần điều trị và đích HA cần đạt theo cá nhân hóa: dựa vào độ THA, bệnh phối hợp và nhóm tuổi (1A) - Điều trị kiểm soát cùng lúc tất cả các yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm và các bệnh đồng mắc kèm theo các khuyến cáo hiện hành (1A) Huyết áp mục tiêu mới nhất của Hội tim mạch Việt Nam năm 2018 như sau: Đích đầu tiên cho tất cả các bệnh nhân là HA < 140/90 mmHg (khuyến cáo 1. Nếu bệnh nhân dung nạp tốt phải xem xét đích ≤ 130/80 mmHg cho đa số các bệnh nhân THA (khuyến cáo 1. Đích HATTr < 80 mmHg phải được xem xét cho tất cả các bệnh nhân (khuyến cáo IIA, B).
Ngoài khuyến cáo đích chung cần xem xét khoảng ranh giới đích vì trong điều trị THA có chứng cứ hiệu quả điều trị theo biểu đồ đường cong J nhằm bảo đảm an toàn khi hạ thấp HA theo bảng dưới đây như sau: Bảng 1. Ranh giới đích điều trị THA [9] 1. Biện pháp điều trị 1. Biện pháp không dùng thuốc: Thay đổi lối sống phải được thực hiện ngay ở tất cả bệnh nhân với huyết áp bình thường cao và THA.