ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường típ 2 là một bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa đang ngày càng gia tăng trên khắp thế giới, không chỉ xuất hiện ở các nước phát triển nữa mà ngày càng nhiều ở các nước đang phát triển. Đái tháo đường đang trở thành một vấn đề lớn của y học, gây những ảnh hướng xấu tới sức khỏe, làm suy giảm sức lao động, tăng tỉ lệ tử vong, giảm tuổi thọ của bệnh nhân và là gánh nặng cho nền kinh tế - xã hội. Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới, năm 2021 có 537 triệu người trưởng thành (20-79 tuổi) trên thế giới sống chung với bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), cứ 10 người thì có 1 người mắc phải bệnh này. Dự đoán, số người mắc ĐTĐ sẽ tăng lên 643 triệu vào năm 2030 và 783 triệu vào năm 2045 trên thế giới.
Bệnh ĐTĐ gây ra 6,7 triệu ca tử vong vào năm 2021, tức là cứ 5 giây lại có 1 ca tử vong do bệnh ĐTĐ trên thế giới. Đã có 541 triệu người trưởng thành bị rối loạn dung nạp glucose, khiến họ có nguy cơ cao mắc bệnh ĐTĐ típ 2 [29]. Năm 2021, tại Việt Nam kết quả điều tra của Bộ Y tế cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường ở người trưởng thành ước tính là 7,1%, tương đương với khoảng gần 5 triệu người đang mắc bệnh đái tháo đường. Trong đó, số đã được chẩn đoán chỉ chiếm 35% và số đang được quản lý, điều trị tại các cơ sở y tế chiếm 23,3% [29].
Việc phát hiện sớm và lựa chọn thuốc điều trị ĐTĐ đảm bảo hợp lý – an toàn – hiệu quả kết hợp với điều chỉnh lối sống luôn là một cách thức không nhỏ. Hiện nay trên thế gới vẫn chưa có loại thuốc nào điều trị khỏi hẳn bệnh mà chỉ giảm các triệu chứng, biến chứng do tăng gluocse máu. Tùy thuộc và việc đánh giá toàn trạng của bệnh nhân và bệnh lý đi kèm cũng như ảnh hưởng (đã có) do ĐTĐ típ 2 gây ra mà Bác sỹ kê đơn thuốc phù hợp nhất. Cùng với sự phát triển của y học các nhóm thuốc điều trị ĐTĐ mới ra đời với đa dạng về dược chất, dạng bào chế.
thuận tiện và phù hợp cho nhiều đối tượng bệnh nhân sử dụng. Việt Nam đã ban hành các hướng dẫn chuyên môn về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2 như quyết định 3879/QĐ-BYT năm 2014, quyết định 3319/QĐ-BYT năm 2017 và mới nhất hiện nay là quyết định 5481/QĐ-BYT ban hành ngày 20 tháng 12 năm 2020. Đây là 1 một thuận lợi trong điều trị nhưng cũng là một thách thức không nhỏ trong vấn đề lựa chọn thuốc để đạt mục tiêu sử dụng thuốc hợp lý - an toàn – hiệu quả, nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Mặt khác, việc điều trị ĐTĐ típ 2 cần phải được điều trị liên tục, lâu dài và đúng theo chỉ dẫn của Bác sĩ thì mới kiểm soát được Glucose máu và ngăn ngừa được các biến chứng nguy hiểm của bệnh.
Vì vậy, tính tuân thủ trong điều trị ĐTĐ của bệnh nhân vô cũng quan trọng. Nắm rõ được mức độ tuân thủ điều trị, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị ĐTĐ tip 2 sẽ có các giải pháp nhằm từng bước nâng cao hiệu quả trong công tác điều trị ngoại trú đối với bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Trung tâm Y tế Thị xã Hoàng Mai được thành lập từ ngày 01/6/2014 với chức năng và nhiệm vụ: Triển khai thực hiện các chuyên môn kỹ thuật về khám chữa bệnh, về phòng chống dịch bệnh tuyến huyện. Hiện tại TTYT đang quản lý hơn 1000 hồ sơ bệnh án điều trị ngoại trú Đái tháo đường.
Tuy vậy, việc phân tích về đặc điểm sử dụng thuốc trong điều trị đái tháo đường típ 2, đặc biệt là đánh giá mức độ tuân thủ dùng thuốc trong điều trị ĐTĐ của bệnh nhân vẫn chưa được thực hiện. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “ Phân tích thực trạng sử dụng thuốc và tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Hoàng Mai Nghệ An” Với mục tiêu: 1. Phân tích thực trạng sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Hoàng Mai Nghệ An. Khảo sát sự tuân thủ dùng thuốc trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Hoàng Mai Nghệ An.
Phân tích hiệu quả điều trị đái tháo đường trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đang điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Hoàng Mai. Từ đó nghiên cứu, đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường tại Trung tâm Y tế Hoàng Mai. Tổng quan về đái tháo đường 1. Định nghĩa Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường típ 2 của Bộ Y tế ban hành năm 2020, bệnh đái tháo đường được định nghĩa “Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa, có đặc điểm tăng glucose huyết mạn tính do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai” [2].
Phân loại bệnh đái tháo đường Bệnh đái tháo đường được phân thành 4 loại chính [2]. c) Đái tháo đường thai kỳ (là đái tháo đường được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về đái tháo đường típ 1, típ 2 trước đó). d) Các loại đái tháo đường đặc biệt do các nguyên nhân khác, như đái tháo đường sơ sinh hoặc đái tháo đường do sử dụng thuốc và hóa chất như sử dụng glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép mô. Cơ chế bệnh sinh ĐTĐ típ 2 được đặc trưng bởi 03 đặc điểm sinh lý bệnh là: giảm tiết insulin ở tuyến tụy, kháng insulin ở mô ngoại vi và tăng sản xuất glucose ở gan, trong đó sự kháng insulin và giảm bài tiết insulin là 02 yếu tố chính.
Giảm bài tiết insulin: Khi mới bị ĐTĐ típ 2, nồng độ insulin có thể bình thường hoặc tăng lên, nhưng tốc độ tiết insulin chậm không tương xứng với mức tăng glucose của máu. Nếu glucose máu vẫn tiếp tục tăng thì ở giai đoạn sau tiết insulin đáp ứng với glucose sẽ giảm sút hơn [7]. Kháng insulin: là tình trạng giảm hoặc mất tính nhạy cảm của cơ quan đích với insulin. Insulin kiểm soát thăng bằng đường huyết thông qua 3 cơ chế phối hợp, mỗi cơ chế rối loạn có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng đề kháng insullin.
Hình thức đề kháng bao gồm: khả năng ức chế sản xuất glucose, giảm khả năng thu nạp 3 glucose tại mô ngoại vi và giảm khả năng sử dụng Glucose ở các cơ quan. Các vị trí insulin chính như Gan, cơ và mô mỡ [7]. Đái tháo đường típ 2 cũng là bệnh liên quan đến yếu tố di truyền [7]. Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định đái tháo đường Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây [2]: Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dl hay 7 mmol/l.
Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 – 14 giờ), hoặc: Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g ≥ 200 mg/dl (hay 11,1 mmol/l) Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75 g glucose, hòa tan trong 250 – 300 ml nước, uống trong 5 phút, trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150– 200 gam carbohydrat mỗi ngày. Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán FPG, nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống và nồng độ glucose máu thời điểm bất kỳ ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán. Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày. Với điều kiện của nước ta nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 7 mmol/L.
Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán đái tháo đường. Biến chứng liên quan đến đái tháo đường 1.1 Biến chứng cấp tính ĐTĐ còn gây ra một số biến chừng cấp tính nguy hiểm như hôn mê nhiễm toan Ceton thường xảy ra ở bệnh nhân kiểm soát đường huyết kém, đặc biệt là típ 1 hoặc người cao tuổi, dùng nhóm thuốc Metformin. Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có nguy cơ hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu. Đặc biệt trong quá trình điều trị nếu dùng sai thuốc hoặc bỏ bữa có nguy cơ hạ đường huyết [22].2 Một số biến chứng mạn tính - Biến chứng trên mạch máu lớn Bệnh tim mạch là nguyên nhân phổ biến gây tử vong ở người ĐTĐ, huyết áp cao, cholesterol cao, glucose cao và các yếu tố nguy cơ khắc góp phần làm tăng nguy có biến chứng tim mạch.
Ảnh hưởng đến tim, mạch máu và có thể gây ra các biến chứng tử vong như: Bệnh lý mạch vành, bệnh mạch máu ngoại biên, tai biến mạch máu não và xơ vữa động mạch [20]. - Biến chứng trên mạch máu nhỏ: Nồng độ glucose trong máu tăng cao dẫn đến tăng áp lực thủy tĩnh và sự dao động lượng glucose trong máu là yếu tố chính gây ra tổn thương trong các mạch máu nhỏ. Tình trạng tổn thương càng nặng nếu bệnh nhân có kèm theo huyết áp. Các biến chứng trên mạch máu nhỏ của ĐTĐ bao gồm: Bệnh lý thần kinh đái tháo đường: ĐTĐ có thể gây tổn thương thần kinh khắp cơ thể do tích tụ sorbitol tại các dây thần kinh.
Điều này có thể dẫn đến viêm đa dây thần kinh ngoại biên, bệnh lý đơn dây thần kinh, bệnh lý thần kinh tự động [15]. Bệnh lý võng mạc đái tháo đường: hầu hết những người mắc bệnh ĐTĐ sẽ phát triển một số loại bệnh như võng mạc không tăng sinh, đục thủy tinh thể, glaucoma. làm giảm thị lực hoặc mù lòa. Mức glucose máu cao, huyết áp và cholesterol cao là nguyên nhân chính gây ra bệnh võng mạc 2,6% trường hợp mù lòa có liên quan đến ĐTĐ do tích tụ lâu dài các mạch máu nhỏ trong võng mạc [23].
Biến chứng thận: gây ra do tổn thương các mạch máu nhỏ ở thận dẫn đến thận hoạt động kém hiệu quả hoặc suy thận.