Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động tư vấn và giáo dục bệnh nhân là một bộ phận cốt lõi trong thực hành chăm sóc Dược (pharmaceutical care). Đối với nhóm bệnh nhân mắc bệnh mãn tính – những đối tượng phải sử dụng thuốc liên tục và kéo dài – công tác hướng dẫn sử dụng thuốc đóng vai trò quyết định trong việc cải thiện sự tuân thủ điều trị, hạn chế các biến cố bất lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tại Việt Nam, vào thời điểm năm 2013, hoạt động tại các khoa Dược và nhà thuốc bệnh viện phần lớn vẫn tập trung vào khâu phân phối và cấp phát thuốc cơ học; sự giao tiếp, trao đổi chuyên môn giữa dược sĩ và người bệnh còn hạn chế. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược năm 2013 đã đặt ra quy định mang tính pháp lý về trách nhiệm của dược sĩ lâm sàng trong việc tư vấn, hướng dẫn sử dụng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh.

Nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và chuẩn hóa hoạt động dược lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai là một trong những đơn vị tuyến cuối đầu tiên ở miền Bắc thiết lập mô hình phòng tư vấn sử dụng thuốc riêng biệt dành cho bệnh nhân ngoại trú có Bảo hiểm y tế (BHYT), bắt đầu vận hành từ tháng 11 năm 2012. Để hoàn thiện quy trình tư vấn và nâng cao chất lượng dịch vụ, khóa luận tốt nghiệp dược sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thảo (Trường Đại học Dược Hà Nội, năm 2013) đã được thực hiện nhằm giải quyết 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Khảo sát được nhận thức và nhu cầu được tư vấn của bệnh nhân BHYT ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai.
  2. Khảo sát được hoạt động tư vấn sử dụng thuốc tại phòng cấp phát thuốc BHYT, Bệnh viện Bạch Mai.
  3. Khảo sát được mức độ hài lòng của bệnh nhân sau khi được tư vấn ở phòng tư vấn thuốc.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:

  • Địa điểm nghiên cứu: Phòng cấp phát thuốc BHYT và Phòng tư vấn sử dụng thuốc BHYT thuộc Khoa Dược, Bệnh viện Bạch Mai.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 12/03/2013 đến ngày 12/04/2013.
  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân BHYT ngoại trú đang chờ lĩnh thuốc (khảo sát nhận thức và nhu cầu), các dược sĩ lâm sàng tham gia hoạt động tư vấn và các lượt tư vấn thực tế (khảo sát thực trạng can thiệp), cùng dữ liệu hành chính quản lý hoạt động của phòng tư vấn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, mô hình và căn cứ pháp lý

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các văn bản chuyên môn và hệ thống lý thuyết về dược lâm sàng, tâm lý học hành vi và giao tiếp y tế:

  • Căn cứ pháp lý: Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược 2013 quy định chức năng, nhiệm vụ của dược sĩ lâm sàng tại bệnh viện.
  • Khung phân loại cấp độ tư vấn: Hướng dẫn của Dược điển Mỹ (USP 1997) phân chia tư vấn thuốc thành 4 cấp độ tăng dần về tính tương tác: độc thoại của dược sĩ (monolog), hỏi đáp đơn thuần (dialog), đối thoại (conversation) và thảo luận (discussion). Trong đó, cấp độ thảo luận đòi hỏi sự tương tác bình đẳng và thấu hiểu hai chiều.
  • Các mô hình tư vấn sức khỏe: Phân loại của Ingrosso (1993) gồm 3 mô hình: tư vấn một chiều (magisterial health counselling - người bệnh tiếp nhận thụ động), tư vấn hai chiều (participative health counselling - người bệnh có quyền chia sẻ và lựa chọn), và tư vấn khuyến khích (promotional health counselling - tiếp cận dựa trên tâm lý học nhận thức, thúc đẩy người bệnh chủ động giải quyết vấn đề).
  • Khái niệm tuân thủ và đồng thuận: Chuyển đổi từ khái niệm tuân thủ thụ động (compliance - thực hiện theo y lệnh theo định nghĩa của WHO năm 2003) sang khái niệm đồng thuận (concordance - Marinker 1997, Blenkinsopp 1999), coi người bệnh là đối tác ngang hàng trong kế hoạch điều trị. Hệ thống 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ theo WHO gồm: kinh tế - xã hội, hệ thống chăm sóc y tế, bệnh tật, phác đồ điều trị, và bản thân người bệnh.
  • Quy trình các bước tư vấn: Khung hướng dẫn thực hành 4 bước của Hiệp hội Dược sĩ Hệ thống Y tế Hoa Kỳ (ASHP 1997) và quy trình chuẩn hóa 5 bước của Rantucci (2007): (1) Mở đầu; (2) Thảo luận thu thập thông tin và xác định nhu cầu; (3) Thảo luận xây dựng kế hoạch chăm sóc và giải quyết vấn đề; (4) Thảo luận cung cấp thông tin và giáo dục; (5) Kết thúc thảo luận.

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp kỹ thuật định lượng và định tính:

  • Khảo sát nhận thức và nhu cầu của người bệnh: Phỏng vấn trực tiếp 100 bệnh nhân BHYT đang chờ cấp phát thuốc bằng phiếu khảo sát cấu trúc sẵn (Phụ lục I). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện. Bộ biến số bao gồm: cách phân biệt thuốc, cách nhớ giờ uống, xử trí khi quên liều, cách dùng đồng thời nhiều thuốc, loại nước uống thuốc, dạng bào chế thao tác (nguyên viên, bẻ, nhai, nghiền), hành vi đọc tờ hướng dẫn sử dụng, nguồn tiếp nhận thông tin từ cán bộ y tế, và các nội dung mong muốn được tư vấn.
  • Khảo sát hoạt động tư vấn của dược sĩ: Quan sát trực tiếp và ghi chép có cấu trúc 50 cuộc tư vấn của dược sĩ tại phòng tư vấn thuốc BHYT thông qua bảng kiểm thiết kế sẵn (Phụ lục III). Bộ biến số theo dõi: các bước can thiệp chuyên môn, phạm vi số thuốc được tư vấn trong đơn, phương thức đặt câu hỏi của bệnh nhân trước và trong buổi tư vấn, nội dung người bệnh thắc mắc, và bấm giờ đo thời lượng cuộc tư vấn (thu thập được trên 49 ca).
  • Khảo sát năng lực đáp ứng hành chính: Ghi nhận số lượng bệnh nhân thực tế vào tư vấn trong 20 ngày làm việc và đo lường tổng thời gian mở cửa phòng tư vấn trong 11 ngày quan sát toàn diện cả hai buổi (Phụ lục II).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Nhập và quản lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0. Các biến định danh và phân hạng được trình bày bằng tần số và tỷ lệ phần trăm (%). Các biến liên tục không có phân phối chuẩn được mô tả thông qua giá trị trung vị (Median) và khoảng tứ phân vị (Interquartile Range - IQR); biến liên tục có phân phối chuẩn mô tả bằng giá trị trung bình (Mean) và độ lệch chuẩn (SD).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan

Chương Tổng quan cung cấp cơ sở lý luận toàn diện về tư vấn sử dụng thuốc trong thực hành dược. Tác giả tổng hợp tiến trình phát triển các định nghĩa tư vấn từ quan điểm kỹ thuật một chiều (Puckett 1978, Hepler 1987) sang quan điểm lấy bệnh nhân làm trung tâm (Aslanpour & Smith 1997, Schommer & Wiederholt 1994, USP 1997). Chương này đi sâu phân tích 3 mô hình tư vấn của Ingrosso (1993), làm rõ sự tương đồng giữa mô hình khuyến khích với cấp độ thảo luận của USP; đối chiếu sự khác biệt bản chất giữa hành vi tuân thủ thụ động (compliance) và sự đồng thuận điều trị (concordance). Tác giả tổng thuật 5 nhóm rào cản tuân thủ thuốc theo WHO (2003) và Becker (1984), đồng thời phân tích chi tiết quy trình tư vấn chuẩn theo hướng dẫn của ASHP (1997) và Rantucci (2007).

Về mặt thực tiễn, chương này giới thiệu bối cảnh thành lập phòng tư vấn thuốc BHYT tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 11/2012. Cơ sở vật chất ban đầu gồm bàn ghế tư vấn, tủ tài liệu, máy tính xách tay tra cứu thông tin, sổ theo dõi hoạt động, máy in nhãn màu dán hướng dẫn đặc biệt lên hộp thuốc, và danh mục các thuốc BHYT cần lưu ý. Những khó khăn ban đầu được ghi nhận gồm vị trí phòng khuất tầm nhìn, người bệnh chưa có thói quen tiếp cận dịch vụ, và dược sĩ phải làm việc kiêm nhiệm song song với các công tác chuyên môn khác tại khoa Dược.

Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương phương pháp trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu cho từng nội dung khảo sát. Tác giả mô tả tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu gồm bệnh nhân ngoại trú nhận thuốc BHYT và các dược sĩ trực tiếp làm việc tại phòng tư vấn. Quy trình thu thập số liệu được chuẩn hóa thông qua 4 bộ công cụ (Phụ lục I đến IV), bao gồm bảng hỏi phỏng vấn nhận thức - nhu cầu, bảng kiểm quan sát quy trình tư vấn của dược sĩ, biểu mẫu ghi nhận hành chính, và phiếu đánh giá mức độ hài lòng. Chương này định nghĩa tường minh hệ thống biến số nghiên cứu, kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện trong điều kiện thực địa phòng khám, cùng quy trình kiểm soát sai số, làm sạch dữ liệu và thuật toán thống kê mô tả trên phần mềm SPSS 16.0.

Chương III: Kết quả

Chương Kết quả trình bày toàn bộ số liệu thu thập qua các bảng thống kê và biểu đồ mô tả:

  • Đặc điểm mẫu khảo sát (n=100): Tỷ lệ bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên chiếm 50,0% (ghi nhận được tuổi ở 69 trường hợp); nữ giới chiếm 67,0%; cán bộ hưu trí chiếm 53,0% (ghi nhận được nghề nghiệp ở 67 trường hợp). Bệnh nhân tái khám chiếm 96,0%; 63,0% thuộc chương trình quản lý bệnh mãn tính quốc gia. Các bệnh lý chiếm tỷ lệ cao nhất gồm tăng huyết áp (55,0%), bệnh tim mạch (27,0%), đái tháo đường (25,0%); 34,0% bệnh nhân mắc đồng thời từ 2 bệnh trở lên.
  • Nhận thức về dùng thuốc: 82,0% bệnh nhân phân biệt thuốc bằng cách đối chiếu tên trong đơn; 9,0% nhìn màu hộp/vỉ. 38,0% nhớ giờ uống nhờ đơn thuốc, 32,0% dựa vào thói quen dùng lâu ngày. Khi quên thuốc, 54,0% tự cho rằng không bao giờ quên, 25,0% bỏ qua liều quên để uống liều kế tiếp, 11,0% uống bù ngay khi nhớ ra, không có ai liên hệ với bác sĩ. Về nước uống thuốc, 77,0% dùng nước lọc, 3,0% dùng nước chè hoặc nước vối. Về dạng uống, 75,0% uống nguyên viên, 13,0% có bẻ viên, 7,0% nhai và 2,0% nghiền thuốc.
  • Tiếp cận thông tin thuốc: 92,0% bệnh nhân có đọc tờ hướng dẫn sử dụng. Tuy nhiên, nguồn thông tin nhận được từ cán bộ y tế chủ yếu đến từ bác sĩ (50,0%), trong khi từ dược sĩ chỉ chiếm 5,0%; 31,0% không nhận được thông tin từ cán bộ y tế; 66,0% bệnh nhân từng nghe tư vấn sử dụng thuốc trước đây.
  • Nhu cầu tư vấn: 62,0% bệnh nhân có nhu cầu được tư vấn. Trong 31 trường hợp không có nhu cầu, 45,2% nêu lý do đã được bác sĩ tư vấn, 25,8% cho rằng đã nắm đủ kiến thức, và 19,4% không có thời gian. Trong nhóm có nhu cầu (n=62), nội dung mong muốn tập trung vào bệnh lý (41,9%), tác dụng không mong muốn (19,4%), chế độ lối sống (16,1%), thuốc dùng kèm (9,7%) và thời điểm uống (9,7%).
  • Thực trạng tư vấn của dược sĩ (n=50 lượt): Hoạt động chào hỏi và lưu trữ thông tin đạt 100%; tra cứu và kiểm tra đơn thuốc đạt 82,0%; hướng dẫn tên và chỉ định đạt 70,0%; hướng dẫn thời điểm uống đạt 62,0%; giải thích tác dụng không mong muốn đạt 44,0%; hướng dẫn liều dùng và cách dùng cùng đạt 42,0%; khai thác tiền sử dùng thuốc/dị ứng đạt 40,0%; tư vấn độ dài đợt điều trị chỉ đạt 20,0%. Dược sĩ tư vấn toàn bộ thuốc trong đơn ở 58,0% trường hợp, và tư vấn các thuốc cần lưu ý ở 38,0% trường hợp.
  • Tương tác giữa dược sĩ và người bệnh: Trước buổi tư vấn, 52,0% bệnh nhân chủ động đặt câu hỏi cụ thể (nhiều nhất về cách dùng 23,0%, phản ứng đã gặp 19,2%, ADR 15,4%). Trong quá trình tư vấn, 70,0% bệnh nhân có trao đổi, hỏi lại dược sĩ (tập trung vào ADR 31,4%, liều dùng 17,1%, tác dụng của thuốc 17,1%). Thời gian tư vấn trung bình của 5 dược sĩ (trên 49 cuộc tư vấn) là 4,8 ± 2,4 phút (dao động trung bình giữa các dược sĩ từ 3,0 ± 1,1 phút đến 7,0 ± 2,9 phút).
  • Vận hành phòng tư vấn: Số lượng bệnh nhân vào tư vấn có xu hướng giảm dần từ tháng 3/2013 (có ngày đạt 36 - 40 người) sang tháng 4/2013 (dao động 3 - 12 người). Trung vị số bệnh nhân tư vấn trong ngày là 9 người (IQR: 5 - 16). Thời gian mở cửa phòng tư vấn ghi nhận trong 11 ngày có trung vị là 2,75 giờ/ngày (IQR: 2,3 - 4,5 giờ).

Chương IV: Bàn luận

Tác giả phân tích nguyên nhân của các phát hiện thực tế. Sự phụ thuộc của người bệnh vào đơn thuốc giấy và việc 32,0% dùng thuốc dựa vào thói quen tiềm ẩn rủi ro khi có thay đổi biệt dược hoặc phác đồ. Việc 13,0% bệnh nhân tự ý bẻ viên, 7,0% nhai và 2,0% nghiền viên thuốc phản ánh lỗ hổng trong hiểu biết về các dạng bào chế quy ước và bao tan trong ruột hoặc phóng thích kéo dài. Tỷ lệ bệnh nhân nhận thông tin từ dược sĩ rất thấp (5,0%) cho thấy vai trò của dược sĩ cấp phát tại bệnh viện thời điểm đó chưa vượt ra ngoài rào cản hành chính.

Đối với hoạt động tư vấn, thời lượng trung bình 4,8 phút/ca là tương đối dài so với mức dưới 1 phút phổ biến trong y văn Bắc Mỹ (Young 1996), phản ánh nỗ lực trao đổi thông tin kỹ lưỡng của dược sĩ Bạch Mai. Tuy nhiên, nội dung khai thác tiền sử dị ứng và độ dài điều trị còn thấp do áp lực thời gian. Hiện tượng số lượng bệnh nhân sụt giảm trong tháng 4/2013 được giải thích bởi sự không ổn định về giờ mở cửa phòng tư vấn (trung vị chỉ 2,75 giờ/ngày) do các dược sĩ phải kiêm nhiệm công việc chuyên môn khác, cùng với việc phòng tư vấn nằm ở vị trí khuất tầm nhìn người bệnh. Chương này cũng phân tích các hạn chế về thời gian nghiên cứu ngắn (1 tháng) và tình trạng khuyết thiếu dữ liệu nhân khẩu học do bệnh nhân vội lĩnh thuốc.

Chương V: Kết luận và đề xuất

Tác giả tổng kết các kết quả đạt được tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu và đề xuất nhóm giải pháp: xây dựng quy trình tư vấn chuẩn thống nhất, thiết lập danh mục bệnh nhân và thuốc ưu tiên tư vấn (người cao tuổi, mắc đa bệnh mãn tính, dùng thuốc khoảng điều trị hẹp), bố trí nhân sự dược sĩ lâm sàng chuyên trách thay vì kiêm nhiệm, và cải thiện biển bảng hướng dẫn vị trí phòng tư vấn thuốc BHYT.

Kết quả và đóng góp

Số liệu kết quả thực nghiệm chính

Các bảng số liệu dưới đây tổng hợp những phát hiện quan trọng nhất được trích xuất trực tiếp từ các biểu bảng trong Chương III của khóa luận:

Bảng 1: Nhận thức và thực hành liên quan đến việc uống thuốc của bệnh nhân (n=100)

Chỉ số khảo sát Phân nhóm nội dung Tỷ lệ (%)
Cách phân biệt thuốc Đối chiếu tên thuốc trong đơn
Nhìn màu hộp, vỉ thuốc
Nhờ người khác phân biệt hộ
Dán giấy ký hiệu / Khác / Chưa rõ
82,0%
9,0%
4,0%
5,0%
Cách nhớ giờ uống Xem đơn thuốc
Dùng lâu ngày nên nhớ
Viết lên hộp thuốc
Chia 3 túi riêng / Theo bữa ăn / Hỏi người khác
38,0%
32,0%
9,0%
12,0%
Xử trí khi quên liều Chưa quên bao giờ (tự khai)
Bỏ qua liều quên, uống liều kế tiếp
Uống ngay khi nhớ ra
Liên hệ bác sĩ / Uống liều gấp đôi
54,0%
25,0%
11,0%
0,0%
Loại nước dùng uống thuốc (n=78) Nước lọc, nước đun sôi để nguội
Nước chè, nước vối
Nước hoa quả, sữa / Khác
77,0%
3,0%
6,0%
Thao tác dạng thuốc (n=78) Uống nguyên viên
Bẻ viên thuốc
Nhai thuốc
Nghiền viên thuốc
75,0%
13,0%
7,0%
2,0%

Bảng 2: Tỷ lệ thực hiện các nội dung chuyên môn của dược sĩ trong 50 ca tư vấn

STT Nội dung chuyên môn dược sĩ thực hiện Tỷ lệ thực hiện (%)
1 Chào hỏi ban đầu 100,0%
2 Lưu thông tin tư vấn vào sổ theo dõi 100,0%
3 Tra cứu thông tin, xem xét tính hợp lý của đơn thuốc 82,0%
4 Hướng dẫn tên thuốc và chỉ định điều trị 70,0%
5 Hướng dẫn thời điểm dùng thuốc trong ngày 62,0%
6 Tư vấn về tác dụng không mong muốn và cách xử trí 44,0%
7 Hướng dẫn liều dùng cụ thể 42,0%
8 Hướng dẫn kỹ thuật và cách thức sử dụng thuốc 42,0%
9 Hỏi tiền sử dùng thuốc và tiền sử dị ứng 40,0%
10 Tư vấn về độ dài đợt điều trị 20,0%

Bảng 3: Thời gian thực hiện tư vấn của các dược sĩ tham gia nghiên cứu

Dược sĩ tham gia Số ca tư vấn ghi nhận (n) Thời gian trung bình (phút) Độ lệch chuẩn (SD)
Dược sĩ 1 14 4,1 1,4
Dược sĩ 2 6 3,0 1,1
Dược sĩ 3 13 5,0 2,1
Dược sĩ 4 9 4,1 1,7
Dược sĩ 5 7 7,0 2,9
Toàn bộ dược sĩ 49 4,8 2,4

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Đóng góp mới của đề tài: Khóa luận là một trong những công trình khảo sát thực chứng đầu tiên tại miền Bắc cung cấp bức tranh chi tiết về việc vận hành mô hình phòng tư vấn sử dụng thuốc BHYT ngoại trú tại một bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt. Nghiên cứu đã xác định được khoảng trống lớn trong tiếp cận thông tin y tế của người bệnh (chỉ 5% nhận thông tin từ dược sĩ, dù 62% có nhu cầu được tư vấn chuyên sâu). Đồng thời, đề tài phản ánh được mô hình tương tác hai chiều bước đầu hình thành khi có tới 70% bệnh nhân chủ động hỏi lại dược sĩ trong quá trình tư vấn.
  • Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
    1. Xây dựng và ban hành quy trình thao tác chuẩn (SOP) cho hoạt động tư vấn sử dụng thuốc tại phòng BHYT, tập trung khắc phục các khâu còn có tỷ lệ thực hiện thấp như khai thác tiền sử dị ứng (40%) và tư vấn thời gian đợt điều trị (20%).
    2. Bố trí dược sĩ lâm sàng làm việc chuyên trách tại phòng tư vấn nhằm đảm bảo khung giờ mở cửa ổn định, khắc phục tình trạng mở cửa ngắt quãng (trung vị 2,75 giờ/ngày) dẫn đến giảm lượt bệnh nhân tiếp cận.
    3. Phân loại đối tượng ưu tiên tư vấn: tập trung vào bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh mãn tính dùng từ 2 bệnh trở lên (chiếm 34%), bệnh nhân có đơn thuốc phức tạp hoặc dùng thuốc có dạng bào chế đặc biệt nhằm hạn chế tình trạng tự ý bẻ/nhai/nghiền thuốc sai quy cách.
    4. Đặt biển chỉ dẫn rõ ràng, nâng cao nhận thức của bệnh nhân tại khu vực chờ cấp phát thuốc để người bệnh biết và chủ động sử dụng dịch vụ tư vấn miễn phí.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Thời gian và phạm vi triển khai: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian ngắn (1 tháng, từ 12/03/2013 đến 12/04/2013) tại một điểm cấp phát thuốc BHYT duy nhất, chưa đánh giá được biến động theo các mùa trong năm hoặc mở rộng sang khối bệnh nhân khám dịch vụ.
  • Phương pháp chọn mẫu và khuyết thiếu dữ liệu: Việc chọn mẫu thuận tiện trong lúc bệnh nhân chờ lấy thuốc tại không gian chật hẹp khiến một số thông tin nhân khẩu học bị gián đoạn (chỉ ghi nhận được tuổi ở 69/100 bệnh nhân, nghề nghiệp ở 67/100 bệnh nhân; một số câu hỏi về thực hành uống thuốc bị khuyết thiếu 22 - 28%).
  • Điều kiện vận hành thực địa: Mô hình phòng tư vấn mới vận hành được 4 tháng, quy trình vừa làm vừa hoàn thiện; việc theo dõi giờ mở cửa phòng tư vấn chỉ thực hiện được trong 11 ngày trọn vẹn do thiếu hệ thống lưu trữ điện tử tự động.
  • Cỡ mẫu quan sát: Số ca tư vấn được theo dõi quy trình can thiệp (n=50) và đo lường thời gian (n=49) trên 5 dược sĩ còn ở mức độ mô tả sơ bộ, chưa đủ quy mô để thực hiện các phân tích tương quan đa biến sâu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng theo dõi dọc để đánh giá hiệu quả can thiệp của tư vấn dược đối với các chỉ số lâm sàng cụ thể của bệnh nhân mãn tính sau 3 - 6 tháng (ví dụ: mức huyết áp mục tiêu, chỉ số HbA1c, số lần nhập viện do biến cố thuốc).
  • Nghiên cứu xây dựng và thẩm định bộ tài liệu hướng dẫn phát tay chuẩn hóa cho từng nhóm bệnh mãn tính phổ biến (tăng huyết áp, đái tháo đường, hen phế quản) nhằm hỗ trợ phương thức tư vấn kết hợp lời nói và văn bản.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên đại học ngành Dược, học viên sau đại học chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng, và học viên Quản lý Dược cần tài liệu tham khảo thực tế về thiết kế nghiên cứu khảo sát và phương pháp đánh giá hoạt động dược bệnh viện.
    • Dược sĩ lâm sàng và lãnh đạo khoa Dược tại các bệnh viện công lập đang trong quá trình thành lập, triển khai hoặc cải tiến quy trình phòng tư vấn sử dụng thuốc ngoại trú theo các quy chuẩn thực hành tốt.
  • Các nội dung đáng tham khảo:
    • Hệ thống các bộ phiếu điều tra thiết kế sẵn (bảng hỏi nhận thức người bệnh, bảng kiểm quan sát quy trình tư vấn bám sát khung lý thuyết của USP và Rantucci).
    • Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp giữa biến định tính và biến định lượng trên SPSS trong nghiên cứu dược xã hội học và dược lâm sàng.
    • Các phát hiện thực chứng về rào cản nhận thức của người bệnh mãn tính (thói quen chia thuốc, cách xử lý khi quên liều, thao tác chia nhỏ viên nén) làm căn cứ xây dựng nội dung truyền thông y tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhóm bệnh nhân tham gia khảo sát có những đặc điểm bệnh lý và nhân khẩu học nổi bật nào?

Trong 100 bệnh nhân BHYT tham gia khảo sát, phần lớn là người cao tuổi từ 60 trở lên (50,0%) và nữ giới chiếm đa số (67,0%). Nhóm cán bộ về hưu chiếm tỷ lệ lớn nhất (53,0%). Về mô hình bệnh tật, bệnh nhân tái khám chiếm 96,0% và 63,0% nằm trong chương trình quản lý bệnh mãn tính quốc gia. Các bệnh lý mắc phải phổ biến nhất là tăng huyết áp (55,0%), tim mạch (27,0%) và đái tháo đường (25,0%), trong đó 34,0% người bệnh mắc kèm từ hai bệnh trở lên.

2. Thực trạng tìm kiếm thông tin về thuốc của bệnh nhân BHYT ngoại trú diễn ra như thế nào?

Người bệnh tiếp cận thông tin thuốc chủ yếu thông qua việc tự đọc tờ hướng dẫn sử dụng (92,0%). Khi tiếp nhận thông tin từ nhân viên y tế, bác sĩ là nguồn cung cấp chính (50,0%), trong khi tỷ lệ người bệnh nhận được thông tin từ dược sĩ rất thấp, chỉ chiếm 5,0%. Đáng chú ý, có tới 31,0% bệnh nhân hoàn toàn không nhận được thông tin hướng dẫn nào từ cán bộ y tế trong quá trình khám chữa bệnh.

3. Nhu cầu tư vấn của người bệnh tập trung vào nội dung gì và vì sao một bộ phận từ chối tư vấn?

Có 62,0% bệnh nhân bày tỏ mong muốn được tư vấn sử dụng thuốc. Các nội dung được quan tâm nhiều nhất là giải thích về bệnh lý (41,9%), tác dụng không mong muốn của thuốc (19,4%), lối sống và chế độ ăn (16,1%), cùng với thuốc dùng kèm và thời điểm uống (mỗi nội dung 9,7%). Ở nhóm 31 bệnh nhân không có nhu cầu tư vấn, các lý do chính được đưa ra là đã được bác sĩ tư vấn (45,2%), tự thấy đã có đủ kiến thức (25,8%), hoặc không có đủ thời gian chờ đợi (19,4%).

4. Hoạt động tư vấn thực tế của dược sĩ tại Bệnh viện Bạch Mai đạt được những kết quả chuyên môn nào?

Qua quan sát 50 ca tư vấn, dược sĩ thực hiện xuất sắc khâu chào hỏi và ghi chép sổ lưu thông tin (100%), kiểm tra tính hợp lý của đơn thuốc (82,0%), giải thích tên thuốc và chỉ định (70,0%), cùng thời điểm uống thuốc (62,0%). Tuy nhiên, các nội dung chuyên sâu như tư vấn tác dụng không mong muốn (44,0%), liều dùng (42,0%), cách dùng (42,0%), khai thác tiền sử dị ứng (40,0%) và độ dài đợt điều trị (20,0%) có tỷ lệ thực hiện chưa cao. Thời gian trung bình cho một cuộc tư vấn đạt 4,8 ± 2,4 phút.

5. Nguyên nhân nào dẫn đến sự sụt giảm số lượng bệnh nhân vào phòng tư vấn theo thời gian?

Dữ liệu hành chính cho thấy số bệnh nhân vào phòng tư vấn có xu hướng giảm mạnh từ tháng 3/2013 (có ngày lên tới 36 - 40 người) sang tháng 4/2013 (chỉ còn 3 - 12 người/ngày), với giá trị trung vị là 9 người/ngày. Nguyên nhân chính được tác giả chỉ ra là do thời gian mở cửa phòng tư vấn bị hạn chế và không cố định (trung vị mở cửa chỉ 2,75 giờ/ngày) do dược sĩ phải làm việc kiêm nhiệm, kết hợp với vị trí phòng tư vấn nằm ở khu vực khuất tầm nhìn, khiến người bệnh gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thảo đã phản ánh chân thực thực trạng nhận thức sử dụng thuốc của bệnh nhân BHYT ngoại trú và kết quả bước đầu triển khai phòng tư vấn dược lâm sàng tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2013. Mặc dù người bệnh có nhu cầu tư vấn cao (62,0%) và dược sĩ đã bước đầu thiết lập được sự tương tác hai chiều tích cực với thời lượng trung bình 4,8 phút/ca, hoạt động này vẫn đối mặt với các rào cản về cơ chế nhân sự kiêm nhiệm, thời gian mở cửa ngắt quãng và tỷ lệ can thiệp sâu vào tiền sử dị ứng hay thời gian dùng thuốc còn hạn chế. Công trình là tài liệu nghiên cứu thực chứng có giá trị tham khảo tốt cho các cơ sở khám chữa bệnh trong việc chuẩn hóa quy trình thao tác và tổ chức mô hình tư vấn thuốc ngoại trú chuyên trách.