ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phế quản hay ung thư phổi (UTP) là thuật ngữ để chỉ bệnh lý ác tính của phế quản phổi xuất phát từ biểu mô niêm mạc phế quản, tiểu phế quản, phế nang, các tuyến của phế quản hoặc từ các thành phần khác của phổi [5]. Theo ghi nhận tình hình ung thư trên toàn thế giới GLOBOCAN năm 2018, ung thư phổi có tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ tử vong cao nhất trong các loại ung thư. Tần suất chung của bệnh trên thế giới ngày càng tăng. Tại thời điểm phát hiện được bệnh, chỉ có 20% bệnh nhân bị ung thư phế quản - phổi có biểu hiện tại chỗ, 25% bệnh nhân đã có biểu hiện lan rộng đến các hạch bạch huyết khu vực, và 55% NB đã có những biểu hiện di căn xa.
Hiện nay, tỷ lệ sống sót của ung thư phế quản - phổi sau 5 năm kể từ khi chẩn đoán là 14%. Như vậy, ung thư phế quản - phổi nguyên phát là một vấn đế lớn trong y tế và tiên lượng bệnh thường rất dè dặt [61]. Năm bệnh ung thư phổ biến nhất ở Việt Nam bao gồm: Ung thư gan (15,4%), kế đó là ung thư phổi (14,4%), ung thư dạ dày (10,6%), ung thư đại tràng và ung thư vú [5]. Theo nghiên cứu của Bùi Công Toàn và Nguyễn Bá Đức cùng với cộng sự (2015), ung thư phế quản - phổi chiếm 20% trong tổng số các ung thư, tuy nhiên ung thư phổ biến nhất là ở nam giới và đứng hàng thứ ba trong số các ung thư ở nữ giới sau ung thư vú và ung thư dạ dày và tỉ lệ tử vong đứng hàng thứ 2 trong các loại ung thư [43].
Triệu chứng lâm sàng của bệnh UTP thường rất nghèo nàn và không đặc hiệu. Đa phần người bệnh đến khám thường vào giai đoạn muộn của bệnh. Lúc này phương pháp điều trị chủ yếu là tiến hành hóa xạ trị kết hợp tại những vùng tế bào ung thư đã lan rộng và không thể tiến hành phẫu thuật được nữa. Do đó, công tác chăm sóc của điều dưỡng cực kỳ quan trọng.
Góp phần giúp đỡ NB giảm bớt những đau đớn về thể chất, đồng thời kết hợp chăm sóc tâm lý, nâng cao chất lượng cuộc sống của NB. Tại Việt nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về ung thư phổi, nhưng tập trung chủ yếu về khía cạnh dịch tễ học, lâm sàng và cận lâm sàng, chẩn đoán mô bệnh học và phương pháp điều trị. Cho đến nay, rất ít nghiên cứu đề cập một cách đầy đủ đến kết quả theo dõi chăm sóc của điều dưỡng trên đối tượng người bệnh ung thư phổi. Tại Khoa Ung Bướu bệnh viện Đa Khoa Kiên Giang đã và đang tiến hành điều trị cho rất nhiều người bệnh ung thư nói chung và bệnh ung thư phổi nói riêng.
Đạt 2 được nhiều thành công to lớn trong công tác khám – chữa bệnh, phát hiện ra sớm các giai đoạn của bệnh, kéo dài thời gian sống thêm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Cùng với sự tiến bộ của y học kết hợp với các trang thiết bị y tế hiện đại thì công tác chăm sóc người bệnh ung thư phổi góp phần không nhỏ vào thành công của điều trị. Do đó, việc theo dõi và chăm sóc của người điều dưỡng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Người điều dưỡng cần phải có đầy đủ kiến thức, kỹ năng tốt để giúp đỡ người bệnh nâng cao sức khỏe, dự phòng các biến chứng, giảm bớt đau đớn về thể chất – tinh thần nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản và chất lượng cuộc sống được tốt hơn.
Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Kết quả chăm sóc, điều trị người bệnh ung thư phổi và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện đa khoa Kiên Giang, năm 2020-2021” với 2 mục tiêu: 1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của người bệnh ung thư phổi tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang. Phân tích kết quả chăm sóc người bệnh và một số yếu tố liên quan. Thang Long University Library 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.Tổng quan về ung thƣ phổi 1.
Định nghĩa - Ung thư phế quản hay ung thư phổi là bệnh ác tính phát triển từ biểu mô phế quản, tiểu phế quản, phế nang hoặc các tuyến của phế quản. Khoảng 95% ung thư phổi là ung thư biểu mô, hoặc các khối u có nguồn gốc từ các tế bào được biến đổi của dòng biểu mô. Hiện nay, gần bốn chục biến thể mô bệnh học khác nhau của ung thư biểu mô phổi được công nhận. - Về thực hành lâm sàng, Theo nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như Harvey I.
Hai nhóm bệnh này có tiên lượng và phương pháp điều trị khác nhau. UTPKTBN có tiên lượng tốt hơn và có nhiều lựa chọn điều trị hơn [63], [75]. Dịch tễ - Ung thư phổi là bệnh lý ác tính và ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.121 trường hợp ung thư Phổi và Phế quản mới đã được báo cáo, và 145.849 người chết vì Ung thư Phổi và Phế quản.000 người, có 55 trường hợp ung thư Phổi và Phế quản mới được báo cáo và 37 người chết vì ung thư [48]. - Theo khảo sát tình hình ung thư trên thế giới năm 2018 về tỷ lệ mắc và tử vong do ung thư, các vị trí ung thư phổ biến nhất là ung thư vú phụ nữ (523.000 ca), tiếp theo là đại trực tràng (500.000), ung thư phổi (470.000) và tuyến tiền liệt (450.
Bốn bệnh ung thư này đại diện cho một nửa gánh nặng ung thư nói chung ở châu Âu. Các nguyên nhân tử vong do ung thư phổ biến nhất là ung thư phổi (388.000 ca tử vong), đại trực tràng (243.000 ca) và ung thư tuyến tụy (128. - Tại Việt Nam, UTP chiếm khoảng 12,4% các loại ung thư. Năm 2000, số NB bị ung thư phổi là 6.905 trường hợp.
Đến 2013, tỷ lệ người mắc bệnh ung thư phổi đã tăng lên gấp 4 lần.000 ca tử vong. Trong số các NB ung thư phổi nhập viện, có 62,5% không còn khả năng phẫu thuật. 4 Trong số đó, tỉ lệ mắc ung thư phổi nam giới thường nhiều hơn so với nữ giới. Tức là,cứ 12 người nam bị bệnh ung thư phổi thì có 4 – 10 bệnh nhân là nữ, với tỉ lệ khoảng 29,6/100.000 người (nam) và 7,3/100.
Ở Hà Nội, trong 100.000 người dân thì có đến 40 người mắc bệnh ung thư phổi. Trong khi đó, con số này tại TP Hồ Chí Minh là 30/100. Đối với NB mắc ung thư phổi, tỷ lệ sống thêm 5 năm là: Ung thư phổi tế bào nhỏ: = 6%. Ung thư phổi không tế bào nhỏ: 18%.
Yếu tố nguy cơ - Theo tác giả Ngô Quý Châu, lần đầu tiên người ta đã chứng minh mối liên quan giữa ung thư phổi với hút thuốc lá và kết quả nhận thấy rằng 80% các ung thư phổi có mối liên quan với yếu tố môi trường, chế độ dinh dưỡng, khói thuốc lá, sự nhiễm độc nước, không khí, điều kiện lao động. Nếu có nhiều yếu tố phối hợp thì nguy cơ mắc ung thư phổi càng cao [5]. - Có đến 90% trường hợp người bệnh UTP do hút thuốc lá. Ở những người hút thuốc lá, nguy cơ UTBMV và ung thư phổi tế bào nhỏ tăng 5- 20 lần, còn nguy cơ UTBMT và ung thư biểu mô tế bào lớn (UTBMTBL) tăng 2- 5 lần so với những người không hút thuốc.
Theo Hoàng Thị Hương (2013) khi nghiên cứu 91 NB ung thư phổi ≥ 60 tuổi thấy 90,2% nam có hút thuốc lá, 3,3% nữ hút thuốc. 27,53% người bệnh trong gia đình có người thân mắc bệnh ung thư [18]. - Ngoài thuốc lá, ô nhiễm không khí cũng là một trong những nguyên nhân gây ra ung thư phổi. Tác giả Võ Văn Xuân (2010) đã chỉ ra, nguy cơ mắc ung thư phổi tăng theo quá trình công nghiệp hóa và ô nhiễm môi trường.
Sự tiếp xúc thường xuyên với Niken, Crom, Sắt, thạch tín, than, khí đốt, dầu mỏ, khói động cơ Diezen góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh [47]. - Tuổi: Ở cả hai giới, tỷ lệ mắc ung thư phổi bắt đầu tăng dần ở lứa tuổi sau 40. Phần lớn ung thư phổi được chẩn đoán ở tuổi 35 - 75, đỉnh cao ở lứa tuổi 55 – 65 tuổi. Tác giả Moumtzi D và cs.156 BN UTPKTBN giai đoạn IIIB hoặc IV thấy tuổi trung bình là 62 tuổi [53].
Tác giả Hoàng Thị Hương (2013) nghiên cứu 91 người bệnh ung thư phổi thấy 51,6% ở độ tuổi trung bình từ 60- 69 tuổi [18]. - Giới: từ trước tới nay, tỷ lệ ung thư phổi ở nam giới vẫn cao hơn nhiều so với nữ, tỷ lệ nam/nữ khoảng 6: 1. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc ung thư phổi ở nam ngày càng có xu hướng giảm xuống, còn tỷ lệ mắc ở nữ giới lại có xu hướng gia tăng. Điều này là Thang Long University Library 5 do sự gia tăng tỷ lệ nữ giới hút thuốc lá.
Tại Việt Nam, trước năm 1994 tỷ lệ mắc nam/nữ khoảng 8:1, hiện nay tỷ lệ này chỉ còn 4: 1. Kết quả nghiên cứu của Moumtzi D và cs (2016) có 11,9% nữ và 88,1% là nam [53], Hoàng Thị Hương (2013) tỷ lệ nam/nữ=2/1 [18]. - Bên cạnh đó, bênh mạn tính ở phổi cũng là một trong những nguyên nhân gây ung thư phổi. Các nốt vôi hóa, các sẹo cũ, tổn thương lao, các viêm phế quản mạn có dị sản dạng biểu bì, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, lao phổi là một trong những tác nhân dễ dẫn đến ung thư phổi - Cuối cùng phải kể đến yếu tố gen.
Gen di truyền, cùng với sự biến đổi gen là một trong những nguyên nhân đưa đến ung thư phổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy ung thư phổi không tế bào nhỏ tăng lên trong những gia đình có tiền sử mắc bệnh, yếu tố nguy cơ gen được biết rõ nhất là các gen bị biến đổi p53 và nhiều gen khác như KRAS, EGFR, Her2/NEU. - Tương tự vậy, Hoàng Anh Vũ và cs. Tác giả Nguyễn Minh Hà (2014) nghiên cứu 181 người bệnh UTPKTBN giai đoạn IIIB/IV thấy 106/181 NB đột biến gen EGFR (58,6%) [12].
Nghiên cứu của Ngô Thị Tuyết Hạnh (2016) xác định tỷ lệ đột biến gen EGFR trong UTPKTBN bằng phương pháp giải trình tự gen thấy tỷ lệ đột biến gen EGFR 50% gặp ở nữ, không hút thuốc lá [16]. - Ngoài ra, gen p53 cũng có mối liên quan nhất định đến ung thư phổi. Nghiên cứu của Misudomi. T chỉ ra rằng tỷ lệ biểu lộ của gen p53 trong UTPKTBN dao động từ 45,2%- 55,6% và tỷ lệ biểu lộ p53 ở nhóm UTBMT thấp hơn UTBMV (34% so với 52%) [74].