Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược về giải phẫu và sinh lý liên quan đến vùng khuỷu 1. Giải phẫu học định khu vùng khuỷu Vùng khuỷu tay được giới hạn bởi đường vòng phía trên và phía dưới nếp gấp khuỷu 3cm. Khớp khuỷu ở giữa chia vùng khuỷu ra thành 2 phần: vùng trước khuỷu hay vùng gấp khuỷu, vùng sau khuỷu hay vùng mỏm khuỷu.
Phần mềm vùng khuỷu Vùng khuỷu trước: thường không liên quan nhiều đến gãy mỏm khuỷu. Cấu tạo gồm da và tổ chức dưới da lỏng lẻo, dễ di chuyển. Trong mô mềm này chứa các thành phần sau: - Mạch máu: tĩnh mạch trụ nông, quay nông, giữa khuỷu, giữa đầu và giữa nền. Động mạch cánh tay từ ống cánh tay đi xuống rãnh nhị đầu trong xuống dưới nếp khuỷu 3cm thì chia thành 2 ngành cùng: động mạch trụ và động mạch quay.
- Thần kinh: nhánh bì của thần kinh cơ bì, nhánh bì của thần kinh cẳng tay bì. Thần kinh giữa đi phía trong động mạch rồi cùng động mạch xuống cẳng tay. Thần kinh quay khi đi ngang qua nếp khuỷu thì chia thành 2 ngành đi xuống cẳng tay: nhánh nông và nhánh sâu. Vùng khuỷu sau, là vùng nằm sau khớp khuỷu, khi duỗi cẳng tay ở giữa có mỏm khuỷu, 2 bên có 2 rãnh: - Rãnh ngoài là rãnh lồi cầu do mỏm trên lồi cầu và mỏm khuỷu tạo nên, rãnh này rộng và nông có cơ khuỷu lấp đầy rãnh.
- Rãnh trong là rãnh ròng rọc khuỷu do mỏm trên ròng rọc và mỏm khuỷu tạo nên, rãnh này hẹp và sâu trong rãnh có dây thần kinh trụ đi giữa 2 bó cơ trụ trước. Đây là mốc thường dùng thăm khám dây thần kinh trụ. Khớp khuỷu Là điểm cắt của trục dọc cánh tay và trục dọc cẳng tay ở tư thế ngửa tạo nên góc mở ra ngoài, do 3 khớp nhỏ tạo thành: 4 - Khớp cánh tay trụ là khớp ròng rọc. - Khớp cánh tay quay là khớp lồi cầu.
- Khớp quay trụ trên là khớp trục. Ba mốc xương của vùng khuỷu: - Mỏm trên lồi cầu. - Mỏm trên ròng rọc [3]. Khi khớp khuỷu duỗi thẳng, ba mốc xương (nhìn từ phía sau) nằm trên cùng một đường thẳng và cách đều nhau (đường thẳng Hueter).
Khi khuỷu gấp 90o, ba mốc xương (nhìn từ phía sau) tạo thành một tam giác cân đỉnh ở phía dưới (tam giác Hueter). Vận động khớp khuỷu bình thường: gập – duỗi: 150o – 0o – 10o [10]. Mạch máu vùng khuỷu Nguồn: Netter’s Atlas Of Human Anatomy [31]. Các xương vùng khuỷu Nguồn: Nettter’s Atlas Of Human Anatomy [31] Bao khớp: là một bao sợi bám vào xung quanh diện khớp của xương cánh tay và xương trụ, mỏng phía trước, dày phía sau và hai bên.
Dây chằng: vì khớp khuỷu có động tác gấp và duỗi là chính, nên các dây chằng bên chắc và mạnh, gồm có: - Dây chằng khớp cánh tay trụ quay có 3 bó: + Dây chằng bên quay. + Dây chằng bên trụ. + Dây chằng sau và dây chằng trước. - Dây chằng khớp quay trụ trên có hai dây: + Dây chằng vòng.
+ Dây chằng vuông: buộc cổ xương quay vào bờ dưới của hõm xích-ma bé. Bao hoạt dịch Là một bao thanh mạc lót mặt trong bao khớp và dính vào hai đầu xương ở xung quanh sụn bọc. 6 Liên quan Ở mặt trước khớp khuỷu liên quan với hai rãnh nhị đầu trong và màng nhị đầu ngoài và các bó mạch thần kinh lướt qua. Ở phía sau khớp khuỷu có cơ tam đầu bám, trong rãnh ròng rọc khuỷu có dây thần kinh trụ lướt qua.
Dây chằng vùng khuỷu (thẳng) Nguồn: Netter’s Atlas Of Human Anatomy [31] Hình 1. Dây chằng vùng khuỷu (nghiêng) Nguồn: Netter’s Atlas Of Human Anatomy [31] 7 Động tác - Khớp cánh tay trụ quay có động tác gấp duỗi cẳng tay. - Khớp quay trụ trên và khớp quay trụ dưới có động tác sấp ngửa bàn tay. Đường vào khớp Tuỳ theo mục đích của phẫu thuật có các đường vào khớp khác nhau, nhưng đường rạch an toàn và mở rộng là đường rạch giữa sau (dọc giữa mỏm khuỷu) không gây tổn thương cho mạch máu thần kinh và dẫn lưu tốt [7], [8].
Cơ chế chấn thương vùng khuỷu Thường do té ngã, đánh nhau, tai nạn lưu thông. - Cơ chế trực tiếp: ngã giập cẳng tay xuống mô đất cứng, giơ tay cản đỡ đòn,… - Cơ chế gián tiếp: khi ngã chống lên bàn tay duỗi và khuỷu gấp, cơ tam đầu co mạnh làm khuỷu gãy ngang hay gãy chéo. - Phối hợp cơ chế trực tiếp và gián tiếp: cơ co mạnh cộng với lực đánh trực tiếp làm mỏm khuỷu bị gãy nhiều mảnh. Lực mạnh còn gây gãy và trật khuỷu [9], [13].
Giải phẫu học gãy mỏm khuỷu Do cấu trúc giải phẫu đặc biệt, tất cả gãy mỏm khuỷu đều là gãy nội khớp, ảnh hưởng đến tính vững chắc của khớp khuỷu. Sự cốt hóa của mỏm khuỷu thường bắt đầu từ 10 tuổi và kết thúc năm 16 tuổi. Khi đó mỏm khuỷu sẽ dính liền vào đầu trên xương trụ. Phía sau, gân cơ tam đầu phủ lên khớp trước khi hòa vào mỏm khuỷu.
Mạc phủ cơ tam đầu và cân cơ hòa vào mạc sâu của cánh tay trước. Chính sự hòa lẫn của những cấu trúc này quyết định đến thái độ điều trị của những trường hợp gãy mỏm khuỷu khác nhau. Nếu những cấu trúc này còn nguyên vẹn, di lệch ít xảy ra, nhưng nếu những cấu trúc này bị đứt, sẽ kéo theo sự di lệch của mỏm khuỷu theo nhiều hướng khác nhau [22]. Mặt sau trong khớp khuỷu có thần kinh trụ vắt qua mỏm trên lồi cầu trong để đi ra mặt trước cẳng tay.
Điều này cũng cần được các nhà ngoại khoa lưu ý khi tiến hành phẫu thuật trên vùng khuỷu [12]. Sinh lý liền xương Khi có những lực lâu ngày hoặc quá lớn làm xương gãy, quá trình liền xương có thể diễn ra theo hai cơ chế: - Khi xương được cố định vững chắc không di động, không có sự hình thành khối mô hạt, các hủy cốt bào sẽ dọn dẹp các tế bào xương chết ở 2 đầu xương gãy. Sau đó những lá xương sống sẽ được tăng sinh và nối liền 2 đầu xương, tạo cốt bào tạo ra khối mô hạt bên trong xương và sẽ dần dần cốt hóa lại thành xương lành. Quá trình này cần nhiều tháng để xương đạt vững chắc như ban đầu.
- Khi xương gãy được cố định với sự di động nhẹ của 2 đầu xương, tại chỗ gãy hình thành cục máu đông cùng với tế bào chết. Đại thực bào tập trung tới ổ gãy và bắt đầu dọn dẹp những mô hoại tử. Tại đây, dần dần hình thành khối mô hạt. Màng ngoài xương và màng trong xương quanh xương gãy phản ứng bằng cách tăng sinh tiền tạo cốt bào và tạo cốt bào.
Khối mô hạt biến thành can xơ-sụn. Khối can xơ – sụn bắt đầu quá trình cốt hóa. Đồng thời sự sửa sang bắt đầu diễn ra. Kết thúc thời kì sửa sang, xương gãy được phục hồi gần như bình thường [1], [25].
Các giai đoạn liền xương Nguồn: Characterization Of The Early Stages Of Long Bone Regeneration In Xenopus Laevis. Biến chứng của gãy mỏm khuỷu - Cứng khớp: có thể do bất động, dính bao khớp, xơ hóa bao khớp. - Rối loạn tuần hoàn: một mạch máu bị đụng giập là điều kiện hình thành cục máu đông. Đôi khi, phản xạ co mạch trong chấn thương cũng có khả năng gây ra những huyết khối.
Hậu quả là, cơ bị thiếu máu, hoại tử, thần kinh bị thoái hóa, các cấu trúc khớp, bao hoạt dịch cũng dần bị xơ hóa làm mất chức năng. - Tổn thương thần kinh: do chấn thương trực tiếp hoặc rối loạn tuần hoàn. - Biến dạng: do các cơ bị teo hoặc cố định xương không phù hợp. - Tổn thương cơ và gân.
- Tất cả những biến chứng trên nếu không có vai trò của vật lý trị liệu sẽ đưa đến hậu quả nặng nề nhất là mất chức năng khuỷu của bệnh nhân [15]. Tình hình chấn thương gãy mỏm khuỷu - Trong nước: + Trong số các loại gãy xương do chấn thương nói chung, gãy mỏm khuỷu chiếm tỉ lệ là 2,95% theo thống kê của Bệnh viện Việt Đức [4]. + Gãy mõm khuỷu chiếm 4,69% ở các bệnh nhân điều trị trật khớp và gãy xương chi trên tại khoa Chi trên Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình năm 2011 [5]. - Thế giới: + Biên độ hoạt động rất lớn của chi trên là sự phối hợp của rất nhiều khớp với tầm vận động lớn.
Trong chuỗi vận động này, nếu mất đi cử động của khớp khuỷu sẽ làm ảnh hưởng to lớn tới vận động của toàn bộ chi trên, có khi làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống của một người. + Với tỉ lệ 10% trong số những chấn thương của vùng khuỷu, gãy mỏm khuỷu là một trong những chấn thương thường gặp [32]. Đặc điểm lâm sàng gãy mỏm khuỷu 1. Triệu chứng cơ năng Cơ năng thường không mất hoàn toàn mà chỉ giảm cơ năng, hạn chế động tác duỗi khuỷu, không duỗi được cẳng tay hoàn toàn.
Triệu chứng thực thể - Nhìn: thấy sưng nề ở phía sau khuỷu, nhiều trường hợp có vết bầm tím. Triệu chứng sưng nề, bầm tím vùng khuỷu sau - Sờ nắn: thấy các triệu chứng sau: + Đau chói ở mỏm khuỷu. + Khoảng cách giữa hai đầu gãy. + Sờ, nắn trực tiếp đoạn trung tâm thấy di động.
+ Mỏm khuỷu không nằm trên đường nối mỏm trên lồi cầu với mỏm trên ròng rọc, khi khuỷu gấp 90o [20]. + Tam giác Hueter đảo ngược. - Có thể có tổn thương thần kinh trụ kèm theo: khám vùng cảm giác riêng của thần kinh trụ ở mu đốt 2 và 3 ngón út. - Gãy hở sẽ thấy rách da và phần mềm kèm theo [2] 1.
Hình ảnh tổn thương trên X quang gãy mỏm khuỷu Tiêu chuẩn vàng giúp chẩn đoán gãy mỏm khuỷu: hình ảnh X quang. Cho bệnh nhân chụp phim tư thế thẳng và nghiêng vùng khuỷu, khuỷu gấp 90o sẽ thấy các hình ảnh gãy xương và khớp khuỷu, có thể chụp phim cả cẳng tay để tìm tổn thương phối hợp. Đây là triệu chứng quan trọng nhất để chẩn đoán gãy mỏm khuỷu. 11 X-quang còn giúp cho phân loại gãy mỏm khuỷu, đánh giá tiên lượng và đặt ra những phương pháp điều trị thích hợp [4].
Phân loại - Theo Colton: + Gãy không di lệch: khe gãy dưới 2mm khi gấp khuỷu 90o thì khe gãy không há rộng ra. Duỗi khuỷu chủ động được. Loại này điều trị bảo tồn được. + Gãy di lệch: loại gãy này thường điều trị bảo tồn không hiệu quả, không đảm bảo phục hồi chức năng khuỷu.
Chỉ định mổ thường được ưu tiên nhằm nắn chỉnh chính xác di lệch. Loại này có thể gặp các dạng sau: Gãy bong một mẩu nhỏ, thường gặp ở người già. Gãy ngang hay chéo.