Tổng quan luận án

Tình trạng vô sinh và hiếm muộn đang là một vấn đề sức khỏe sinh sản quan trọng trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Trong số các căn nguyên gây vô sinh mắc phải ở nữ giới, nhiễm trùng đường sinh dục trên do các tác nhân lây truyền qua đường tình dục chiếm một tỷ lệ đáng kể, đặc biệt là vi khuẩn Chlamydia trachomatis. Chlamydia trachomatis là vi khuẩn ký sinh nội bào bắt buộc, có khả năng xâm nhập và lan tràn ngược dòng từ cổ tử cung lên tử cung, vòi tử cung và buồng trứng. Quá trình viêm mạn tính dẫn đến các biến chứng cơ học và cấu trúc nghiêm trọng như viêm tiểu khung (PID), viêm dính niêm mạc, ứ dịch và tắc vòi tử cung, từ đó trực tiếp gây ra vô sinh do yếu tố vòi tử cung (tubal factor infertility - TFI) hoặc thai ngoài tử cung. Đáng chú ý, phần lớn các trường hợp nhiễm C. trachomatis ở phụ nữ (ước tính khoảng 70%) không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng rõ rệt hoặc triệu chứng rất nghèo nàn, dẫn đến việc người bệnh không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Tại Việt Nam, việc xét nghiệm sàng lọc và chẩn đoán căn nguyên C. trachomatis chưa được triển khai thường quy ở tất cả các cơ sở khám chữa bệnh phụ khoa và hỗ trợ sinh sản. Đồng thời, các nghiên cứu chuyên sâu về phân bố kiểu gen (genotype) dựa trên phân tích gen ompA của C. trachomatis trên nhóm phụ nữ vô sinh còn rất hạn chế. Để giải quyết khoảng trống dữ liệu dịch tễ học và sinh học phân tử này, luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Nguyễn Hòa với đề tài "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kiểu gen của Chlamydia trachomatis ở phụ nữ vô sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương (2020-2021)" được thực hiện thuộc chuyên ngành Bệnh truyền nhiễm và các bệnh nhiệt đới (Mã số: 972 01 09), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đỗ Ngọc Ánh tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương.

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số yếu tố liên quan tới tình trạng nhiễm Chlamydia trachomatis ở phụ nữ vô sinh đến khám, điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương (2020-2021).
  2. Xác định kiểu gen của Chlamydia trachomatis phân lập được từ đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ trong độ tuổi từ 19 đến 52 tuổi đến khám và điều trị vô sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tổng số 761 bệnh nhân nữ được thu thập mẫu bệnh phẩm dịch phết cổ tử cung để sàng lọc nhiễm C. trachomatis. Từ đó, 119 trường hợp xác định dương tính được đưa vào phân tích chuyên sâu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan; 22 chủng phân lập được xác định kiểu gen.
  • Không gian nghiên cứu: Bệnh viện Phụ sản Trung ương (khám, thu thập thông tin tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia và phòng khám chuyên khoa; xét nghiệm phát hiện và sinh học phân tử tại Khoa Vi sinh và phòng xét nghiệm chuyên sâu).
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan toàn diện các cơ sở lý luận sinh học, dịch tễ học lâm sàng và các phương pháp chẩn đoán vi sinh vật học liên quan đến C. trachomatis:

1. Đặc điểm sinh học và cấu trúc kháng nguyên của Chlamydia trachomatis

Chlamydia trachomatis là vi khuẩn Gram âm, ký sinh nội bào bắt buộc, thuộc bộ Chlamydiales, họ Chlamydiaceae. Do không có khả năng tự tổng hợp các hợp chất phosphate mang năng lượng cao như ATP và NADPH, vi khuẩn phụ thuộc hoàn toàn vào tế bào vật chủ để duy trì chu trình sống. Chu kỳ phát triển của vi khuẩn kéo dài từ 48 đến 72 giờ và luân chuyển qua hai dạng hình thái riêng biệt:

  • Thể cơ bản (Elementary body - EB): Kích thước khoảng 0,3 µm, có lớp màng ngoài bền vững nhờ nhiều cầu nối disulfide. Đây là dạng gây nhiễm, có khả năng tồn tại ở môi trường ngoại bào và xâm nhập vào tế bào biểu mô vật chủ thông qua sự tương tác giữa protein màng ngoài (MOMP) với các thụ thể bề mặt tế bào.
  • Thể lưới (Reticulate body - RB): Kích thước khoảng 1 µm, là dạng chuyển hóa và sinh sản nội bào. Thể lưới nhân lên theo hình thức phân đôi bên trong không bào để tạo thành các thể vùi (inclusion body), sau đó tái tổ chức và ngưng kết trở lại thành các thể cơ bản trước khi làm vỡ màng tế bào vật chủ để giải phóng ra ngoài (mỗi lần phóng thích từ 100 đến 1000 thể cơ bản).

Về mặt kháng nguyên, C. trachomatis sở hữu kháng nguyên giống mang bản chất lipopolysaccharide (LPS), kháng nguyên loài và kháng nguyên đặc hiệu kiểu huyết thanh. Kháng nguyên quan trọng nhất là protein chính màng ngoài (Major Outer Membrane Protein - MOMP) do gen ompA mã hóa, chiếm tới 50% cấu tạo màng ngoài. Dựa trên tính kháng nguyên và trình tự nucleotide của gen ompA, vi khuẩn được phân chia thành 19 kiểu gen:

  • Kiểu gen A, B, Ba, C: Gây bệnh đau mắt hột (trachoma), có nguy cơ dẫn đến mù lòa.
  • Kiểu gen D, Da, E, F, G, Ga, H, I, Ia, J, K: Gây nhiễm trùng đường tiết niệu - sinh dục và các biến chứng sinh sản.
  • Kiểu gen L1, L2, L2a, L3: Gây bệnh hột xoài (Lymphogranuloma venereum - LGV) với các thương tổn loét sinh dục và viêm hạch bạch huyết vùng bẹn.

2. Tình hình nhiễm Chlamydia trachomatis và các nghiên cứu được điểm lại

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), C. trachomatis là căn nguyên lây truyền qua đường tình dục phổ biến hàng đầu. Năm 2012, toàn cầu ghi nhận khoảng 131 triệu ca mắc mới ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (18-49 tuổi). Đến năm 2020, số ca mắc trên toàn thế giới ước tính khoảng 129 triệu trường hợp. Tần suất nhiễm thay đổi theo khu vực địa lý và giới tính:

Khu vực địa lý Tỷ lệ nhiễm ở Nữ năm 2012 (%) Tỷ lệ nhiễm ở Nữ năm 2016 (%) Tỷ lệ nhiễm ở Nam năm 2012 (%) Tỷ lệ nhiễm ở Nam năm 2016 (%)
Châu Phi 3,7 (2,7–5,2) 5,0 (3,8–6,6) 2,5 (1,7–3,6) 4,0 (2,4–6,1)
Châu Mỹ 7,6 (6,7–8,7) 7,0 (5,8–8,3) 1,8 (1,3–2,6) 3,7 (2,1–5,5)
Đông Nam Á 1,8 (1,4–2,2) 1,5 (1,0–2,5) 1,3 (0,9–1,8) 1,2 (0,6–2,1)
Châu Âu 2,2 (1,6–2,9) 3,2 (2,5–4,2) 1,5 (0,9–2,6) 2,2 (1,5–3,0)
Phía Đông Địa Trung Hải 3,5 (2,4–5,0) 3,8 (2,6–5,4) 2,7 (1,6–4,3) 3,0 (1,7–4,8)
Tây Thái Bình Dương 6,2 (5,1–7,5) 4,3 (3,0–5,9) 5,2 (3,4–7,2) 3,4 (2,0–5,3)
Toàn cầu 4,2 (3,7–4,7) 3,8 (3,3–4,5) 2,7 (2,0–3,6) 2,7 (1,9–3,7)

Tổng hợp các nghiên cứu quốc tế trên các nhóm phụ nữ khác nhau:

  • Tại Hoa Kỳ (2014): Khảo sát trên 4.149 phụ nữ (14-39 tuổi) ghi nhận tỷ lệ nhiễm 2,0%.
  • Tại Châu Phi (2018): Khảo sát trên 17.119 phụ nữ độ tuổi sinh đẻ ghi nhận tỷ lệ 7,8%.
  • Tại Hồng Kông (2017): Khảo sát 535 phụ nữ cộng đồng ghi nhận tỷ lệ 1,7%.
  • Tại Pháp (2020): Khảo sát 338 bệnh nhân đi khám phụ khoa ghi nhận tỷ lệ 24,3%.
  • Tại Tanzania (2020): Khảo sát 439 phụ nữ mang thai ghi nhận tỷ lệ 4,6%.
  • Tại Trung Quốc (2021): Khảo sát các nhóm phụ nữ mang thai, viêm phụ khoa và vô sinh ghi nhận tỷ lệ lần lượt là 6,7% (n=881), 8,2% (n=595) và 5,9% (n=254). Nghiên cứu năm 2022 trên 439.372 phụ nữ chuẩn bị mang thai ghi nhận tỷ lệ 0,2%.
  • Tại Cộng hòa Séc (2022): Khảo sát 128 phụ nữ chửa ngoài tử cung ghi nhận tỷ lệ 12,5%.
  • Tại Đức (2022): Khảo sát 336 phụ nữ cộng đồng ghi nhận tỷ lệ 2,8%.

Tại Việt Nam, các công trình trước đây công bố tỷ lệ nhiễm dao động từ 3,3% đến 26%:

  • Nguyễn Duy Ánh (2021): Tỷ lệ nhiễm 22,11% trên 1.176 phụ nữ có gia đình tại Cầu Giấy và Đông Anh (Hà Nội); nghiên cứu năm 2022 trên 3.000 phụ nữ có biểu hiện viêm đường tiết niệu - sinh dục tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
  • Phạm Mỹ Hoài và CS (2022): Tỷ lệ 3,3% trên 150 phụ nữ khám phụ khoa tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên.
  • Nguyen và CS (2019): Tỷ lệ 6,0% trên 800 thai phụ tại Bệnh viện Hà Đông.
  • Nguyễn Thị Nhu và CS (2013): Khảo sát trên 215 phụ nữ có biểu hiện nhiễm trùng sinh dục tại Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức.
  • Phạm Văn Đức và CS (2009): Tỷ lệ 9,1% trên phụ nữ hút thai 3 tháng đầu tại Bệnh viện Từ Dũ.
  • Lê Thị Phương (2001): Tỷ lệ 5,55% trên 126 phụ nữ tiết dịch âm đạo tại Viện Da liễu.
  • Trần Đình Vinh và CS (2020): Tỷ lệ 15,6% trên 600 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng.
  • Lê Hồng Cẩm và CS (2001): Tỷ lệ 18,07% trên 415 phụ nữ tại Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh.
  • Hồ Thị Mỹ Châu và CS (2018): Tỷ lệ 26% trên bệnh nhân có hội chứng tiết dịch âm đạo tại Bệnh viện Da liễu TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm Văn Bằng và CS (2011): Khảo sát 85 bệnh nhân tại Bệnh viện Da liễu Trung ương ghi nhận ba kiểu gen chiếm ưu thế gồm D (29,4%), F (27,1%), E (23,5%); các kiểu gen G, H, J, K chiếm 3,5% - 7,1% và không gặp kiểu gen I.

3. Mối liên quan giữa C. trachomatis và vô sinh nữ

Luận án dẫn chứng các công trình quốc tế khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa tiền sử nhiễm C. trachomatis và tình trạng tổn thương vòi tử cung gây vô sinh:

  • Malik A và CS (2006, 2009): Tỷ lệ nhiễm C. trachomatis ở 110 phụ nữ vô sinh là 28,1% (so với 3,3% ở nhóm chứng có thai khỏe mạnh, p < 0,01); 55% phụ nữ vô sinh thứ phát có kháng thể IgG kháng C. trachomatis (so với 5,5% ở nhóm chứng).
  • Al Ramahi và CS (2008) tại Jordan: Tỷ lệ nhiễm ở nhóm vô sinh là 3,9% so với 0,7% ở nhóm chứng.
  • Hoenderboom và CS (2019): Tỷ lệ nhiễm C. trachomatis ở bệnh nhân vô sinh có tắc vòi tử cung cao gấp 4 lần so với nhóm không tắc vòi tử cung; trong 13.498 phụ nữ Hà Lan giai đoạn 2015-2016, tỷ lệ di chứng PID là 3,0% - 30,0%, thai ngoài tử cung là 0,2% - 2,7%, và TFI là 0,1% - 6,0%.
  • van Dooremalen và CS (2020): Tỷ lệ có kháng thể ở nhóm tắc vòi tử cung là 41,9% so với 9,6% ở nhóm không tắc.
  • Rawre và CS (2016): Ghi nhận 56 trong số 75 phụ nữ tắc vòi tử cung có tiền sử nhiễm C. trachomatis.
  • Navarro và CS (2002): Khảo sát 162 phụ nữ vô sinh cho thấy toàn bộ 29 phụ nữ tắc vòi tử cung một hoặc hai bên đều có kháng thể IgG kháng C. trachomatis, nguy cơ tắc vòi tử cung cao gấp 4 lần nhóm không nhiễm.
  • de Jesús và CS (2011) tại Mexico: Xác định kiểu gen F chiếm ưu thế cao nhất ở bệnh nhân vô sinh (54,5%), tiếp theo là E (8,7%), G (8,7%), K (8,7%), LGV (8,7%), D, H, Ia (mỗi loại 4,2%).

Vị trí của luận án: Luận án tập trung giải quyết khoảng trống thực tiễn tại Việt Nam bằng cách kết hợp giữa mô tả dịch tễ học lâm sàng, cận lâm sàng và phân tích sinh học phân tử xác định kiểu gen của C. trachomatis trực tiếp trên nhóm bệnh nhân phụ nữ vô sinh tại trung tâm sản phụ khoa tuyến cuối.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Nghiên cứu dựa trên cơ chế bệnh sinh học phân tử của vi khuẩn C. trachomatis tác động lên niêm mạc đường sinh dục nữ, dẫn tới phản ứng viêm lan tỏa, xơ hóa và biến dạng cấu trúc giải phẫu vòi tử cung. Khung phân tích liên kết giữa các biến số nhân khẩu học, tiền sử sản phụ khoa, hành vi tình dục với tình trạng nhiễm khuẩn và phân bố các biến thể gen ompA.

2. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích (cross-sectional analytical study).
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện. Toàn bộ phụ nữ vô sinh đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong thời gian từ tháng 01/2020 đến tháng 12/2021 được đưa vào nghiên cứu cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Phụ nữ trong độ tuổi 19-52 được chẩn đoán vô sinh, tự nguyện tham gia nghiên cứu, đồng ý lấy mẫu bệnh phẩm dịch phết cổ tử cung và cung cấp đầy đủ thông tin bệnh án.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Phụ nữ có bất thường về tâm thần kinh, mắc bệnh lý nội ngoại khoa cấp tính hoặc nhiễm HIV/AIDS; phụ nữ đang trong kỳ hành kinh, rong kinh, rong huyết; phụ nữ sử dụng thuốc đặt âm đạo hoặc thụt rửa âm đạo trong vòng 1 tuần trước thời điểm khám.
  • Cỡ mẫu nghiên cứu:
    • Tổng số 761 phụ nữ vô sinh được sàng lọc bằng kỹ thuật Realtime PCR.
    • Cỡ mẫu mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng được tính theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể: $$n = Z_{1-\alpha/2}^2 \frac{p(1-p)}{d^2}$$ Với mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), tỷ lệ tham khảo triệu chứng tiết dịch âm đạo bất thường $p = 0,885$ (theo nghiên cứu của Trần Đình Vinh và CS năm 2020 tại Bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng), sai số tuyệt đối $d$ lựa chọn cho ra cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là $n = 109$. Thực tế luận án đã thu thập và mô tả chi tiết 119 phụ nữ vô sinh có kết quả xét nghiệm dương tính với C. trachomatis.
    • Mục tiêu 2 thực hiện xác định kiểu gen trên 22 chủng phân lập được từ mẫu bệnh phẩm.

3. Kỹ thuật xét nghiệm và thu thập số liệu

  • Thu thập bệnh phẩm: Dùng tăm bông gắn cán nhựa dài vô trùng đưa sâu vào lỗ cổ tử cung từ 1-2 cm, xoay nhẹ để lấy dịch, chất nhầy và tế bào biểu mô niêm mạc cổ tử cung. Mẫu được bảo quản trong môi trường vận chuyển chuyên dụng ở nhiệt độ lạnh hoặc âm sâu (-20°C đến -80°C).
  • Kỹ thuật xét nghiệm sàng lọc: Thực hiện kỹ thuật Realtime PCR bằng bộ sinh phẩm cobas® CT/NG trên hệ thống máy Cobas® 4800 tự động của hãng Roche Diagnostics.
  • Kỹ thuật khuếch đại và xác định kiểu gen: Sử dụng kỹ thuật PCR lồng (Nested PCR) với các cặp mồi đặc hiệu khuếch đại đoạn gen ompA (vòng 1 và vòng 2).
  • Phân tích trình tự và phát sinh loài: Các sản phẩm PCR dương tính được tinh sạch và giải trình tự nucleotide. Trình tự gen được đối chiếu với các trình tự tham chiếu trên ngân hàng gen (GenBank). Phân tích đa hình gen và xây dựng cây phát sinh loài bằng phần mềm MEGA7 (sử dụng phương pháp Neighbor-Joining - NJ với hệ số kiểm định lặp lại bootstrap 1000).
  • Xử lý số liệu: Toàn bộ dữ liệu được quản lý, nhập liệu và phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về cấu trúc vi sinh học, hình thái, chu kỳ nhân lên hai pha (EB và RB), đặc điểm hóa sinh và sức đề kháng của C. trachomatis. Chương này phân tích chi tiết cấu trúc kháng nguyên bề mặt, vai trò của protein MOMP mã hóa bởi gen ompA trong việc định type và cơ chế bám dính vào tế bào biểu mô vật chủ.

Chương tổng quan đi sâu vào các biểu hiện bệnh lý đường tiết niệu - sinh dục ở cả hai giới, nhấn mạnh các di chứng âm thầm nhưng nghiêm trọng ở nữ giới như viêm cổ tử cung nhầy mủ, viêm lộ tuyến phì đại, viêm niêm mạc tử cung, viêm vòi tử cung, viêm tiểu khung và hội chứng Fitz-Hugh-Curtis. Chương luận giải mối quan hệ giữa nhiễm khuẩn và vô sinh nữ (đặc biệt là tắc vòi tử cung), tổng kết các phương pháp chẩn đoán vi sinh từ quan sát trực tiếp, nuôi cấy tế bào (McCoy, HeLa), miễn dịch học (DFA, EIA, ELISA phát hiện IgA, IgM, IgG) đến các xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (NAATs: Realtime PCR Cobas 4800, Abbott m2000, Aptima Combo 2, BD ProbeTec) được xem là tiêu chuẩn vàng. Cuối chương, tác giả giới thiệu sơ lược về lịch sử thành lập, cơ cấu tổ chức chuyên môn và năng lực khám chữa bệnh vô sinh của Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả tường minh quy trình nghiên cứu, tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân, thiết kế cắt ngang có phân tích trên 761 phụ nữ vô sinh sàng lọc và 119 ca nhiễm C. trachomatis. Chương trình bày bảng danh mục các biến số nghiên cứu cho cả hai mục tiêu:

  • Biến số nhân khẩu học: Tuổi, nhóm tuổi ($\le 25$ và $> 25$), nghề nghiệp, trình độ học vấn, dân tộc.
  • Biến số tiền sử sản phụ khoa và hành vi: Tuổi có kinh lần đầu, tuổi quan hệ tình dục lần đầu, thời điểm quan hệ tình dục lần đầu, số lượng bạn tình, tuổi kết hôn lần đầu, tiền sử viêm âm đạo, tiền sử nạo phá thai, đặt dụng cụ tử cung, tiền sử bạn tình mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs).
  • Biến số vô sinh: Phân loại vô sinh (vô sinh nguyên phát - vô sinh I; vô sinh thứ phát - vô sinh II), thời gian phát hiện vô sinh.
  • Biến số lâm sàng và cận lâm sàng: Triệu chứng toàn thân, tính chất khí hư (màu sắc, mùi), đau bụng dưới, tiểu buốt, khám cổ tử cung (viêm, lộ tuyến, xuất huyết), soi tươi và nuôi cấy vi khuẩn âm đạo, siêu âm tử cung - phần phụ, hình ảnh tổn thương và tắc vòi tử cung.
  • Biến số sinh học phân tử: Tỷ lệ khuếch đại gen ompA qua Nested PCR, trình tự nucleotide, các vị trí đột biến sai khác và phân nhóm kiểu gen của 22 chủng vi khuẩn.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng qua hệ thống bảng số liệu và hình ảnh:

  • Đặc điểm chung và tỷ lệ nhiễm: Khảo sát phân bố nhân khẩu học, tiền sử sản phụ khoa, loại vô sinh và thời gian vô sinh ở 761 phụ nữ được sàng lọc.
  • Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng:
    • Tần suất xuất hiện các triệu chứng cơ năng tại cơ quan sinh dục (tăng tiết khí hư, thay đổi màu sắc và mùi khí hư, đau vùng bụng dưới, rối loạn tiểu tiện) và triệu chứng toàn thân.
    • Tỷ lệ tổn thương thực thể qua khám phụ khoa (viêm cổ tử cung, viêm lộ tuyến) và hình ảnh siêu âm phần phụ tử cung.
    • Tỷ lệ tắc vòi tử cung ở nhóm bệnh nhân vô sinh nhiễm C. trachomatis.
    • Tỷ lệ đồng nhiễm các tác nhân STDs và vi khuẩn gây bệnh khác ở âm đạo; kết quả xét nghiệm tế bào học và dịch âm đạo.
    • So sánh sự khác biệt về tần suất xuất hiện triệu chứng lâm sàng giữa nhóm phụ nữ vô sinh nhiễm và không nhiễm C. trachomatis.
  • Phân tích các yếu tố liên quan:
    • Phân tích đơn biến xác định mối liên quan giữa tình trạng nhiễm C. trachomatis với nhóm tuổi, học vấn, nghề nghiệp, tiền sử viêm âm đạo, tiền sử bạn đời mắc STDs, tuổi quan hệ tình dục lần đầu, số bạn tình, tuổi kết hôn, loại vô sinh, thời gian vô sinh, triệu chứng đau bụng dưới và tắc vòi tử cung.
    • Kết quả phân tích hồi quy đa biến xác định các yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến tình trạng nhiễm C. trachomatis.
  • Kết quả xác định kiểu gen và phân tích đa hình gen ompA:
    • Tỷ lệ khuếch đại thành công sản phẩm PCR vòng 2 của gen ompA.
    • Xác định 9 kiểu gen trong số 22 chủng phân lập được.
    • Tỷ lệ tương đồng nucleotide và các vị trí biến đổi nucleotide trên gen ompA so với trình tự chuẩn trên GenBank.
    • Cây phát sinh loài xây dựng bằng phương pháp Neighbor-Joining (MEGA7) thể hiện mối quan hệ phả hệ giữa các chủng phân lập tại Việt Nam và các chủng chuẩn quốc tế.
    • Phân bố các kiểu gen theo nhóm tuổi, tuổi quan hệ tình dục, loại vô sinh, tiền sử sảy thai, triệu chứng đau bụng dưới, viêm âm đạo - cổ tử cung và tình trạng tắc vòi tử cung.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 phân tích, biện giải các phát hiện nghiên cứu trong mối tương quan với y văn trong nước và thế giới:

  • Bàn luận về tỷ lệ hiện nhiễm C. trachomatis trên nhóm phụ nữ vô sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, so sánh với các nghiên cứu cộng đồng và các nhóm nguy cơ cao khác.
  • Bàn luận về đặc điểm lâm sàng thầm lặng, sự nghèo nàn của triệu chứng thực thể, lý giải vì sao người bệnh thường chỉ đi khám khi đã xuất hiện biến chứng vô sinh hoặc tắc vòi tử cung.
  • Bàn luận về các yếu tố nguy cơ dịch tễ học như độ tuổi trẻ, hành vi quan hệ tình dục sớm, can thiệp buồng tử cung và mối liên hệ nhân quả đối với tổn thương tắc vòi tử cung gây vô sinh nguyên phát và thứ phát.
  • Bàn luận về cơ cấu phân bố các kiểu gen của C. trachomatis, tính đa hình di truyền của gen ompA và mối liên quan giữa các kiểu gen cụ thể với mức độ trầm trọng của tổn thương giải phẫu đường sinh dục nữ.

Kết quả và những đóng góp mới

1. Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Cung cấp dữ liệu dịch tễ học phân tử cập nhật về sự lưu hành và đặc điểm đa hình gen ompA của Chlamydia trachomatis trên đối tượng phụ nữ vô sinh tại Việt Nam.
  • Xác định cụ thể 9 kiểu gen của vi khuẩn phân lập từ bệnh phẩm lâm sàng, xây dựng cây phát sinh loài đối chiếu trực tiếp với các chủng tham chiếu quốc tế trên GenBank bằng phần mềm tin sinh học (MEGA7).
  • Củng cố bằng chứng thực nghiệm về mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng nhiễm C. trachomatis với các tổn thương cơ học đường sinh dục trên, đặc biệt là biến chứng tắc vòi tử cung ở bệnh nhân vô sinh.

2. Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phản ánh thực trạng lâm sàng và cận lâm sàng của nhiễm C. trachomatis ở phụ nữ vô sinh tại bệnh viện chuyên khoa phụ sản tuyến trung ương, chỉ ra rằng phần lớn các ca bệnh có biểu hiện lâm sàng không điển hình.
  • Khẳng định giá trị và tính khả thi của kỹ thuật sinh học phân tử (Realtime PCR Cobas 4800, Nested PCR) trong sàng lọc, chẩn đoán xác định và phân tích kiểu gen vi khuẩn từ mẫu dịch phết cổ tử cung.

3. Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất áp dụng quy trình xét nghiệm sàng lọc C. trachomatis bằng kỹ thuật sinh học phân tử (NAATs/Realtime PCR) thành xét nghiệm thường quy cho phụ nữ đến khám và điều trị vô sinh, đặc biệt là nhóm bệnh nhân có tiền sử viêm nhiễm đường sinh dục hoặc nghi ngờ tổn thương vòi tử cung.
  • Tăng cường tư vấn, giáo dục sức khỏe sinh sản về các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nhằm phát hiện và điều trị sớm, ngăn ngừa biến chứng vô sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm sản phụ khoa tuyến cuối (Bệnh viện Phụ sản Trung ương) nên đối tượng nghiên cứu mang tính chọn lọc cao (bệnh nhân vô sinh nặng hoặc chuyển tuyến). Cỡ mẫu giải trình tự gen xác định kiểu gen gồm 22 chủng phân lập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng nghiên cứu đa trung tâm trên quy mô mẫu lớn hơn ở nhiều vùng địa lý khác nhau; tăng cường số lượng chủng giải trình tự toàn bộ gen ompA và các gen độc lực khác; đồng thời nghiên cứu theo dõi dọc kết quả điều trị kháng sinh kết hợp can thiệp hỗ trợ sinh sản trên nhóm bệnh nhân vô sinh nhiễm C. trachomatis.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn cao cho:

  • Bác sĩ lâm sàng Sản phụ khoa và Hỗ trợ sinh sản: Tham khảo dữ liệu về đặc điểm lâm sàng, tỷ lệ tắc vòi tử cung để chỉ định xét nghiệm sàng lọc căn nguyên vi khuẩn kịp thời trước khi tiến hành các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
  • Cán bộ chuyên ngành Vi sinh y học và Bệnh truyền nhiễm: Tham khảo quy trình kỹ thuật Realtime PCR trên hệ thống Cobas 4800, kỹ thuật Nested PCR khuếch đại gen ompA và phương pháp phân tích tin sinh học xây dựng cây phát sinh loài.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh: Sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích và xử lý thống kê y sinh học.

Câu hỏi thường gặp

1. Chlamydia trachomatis có đặc điểm sinh học và chu kỳ phát triển như thế nào?

Chlamydia trachomatis là vi khuẩn Gram âm ký sinh nội bào bắt buộc, không tự tổng hợp được ATP và NADPH. Chu kỳ nhân lên kéo dài từ 48 đến 72 giờ qua hai dạng: Thể cơ bản (EB, 0,3 µm, có lớp màng bền vững chứa nhiều cầu nối disulfide, là thể lây nhiễm ngoại bào) và Thể lưới (RB, 1 µm, là thể sinh sản nội bào bằng cách phân đôi trong không bào tạo thành các thể vùi).

2. Dựa vào gen ompA, C. trachomatis được phân loại thành bao nhiêu kiểu gen và gây ra các nhóm bệnh lý nào?

Dựa vào gen ompA mã hóa protein chính màng ngoài (MOMP), C. trachomatis được chia thành 19 kiểu gen:

  • Kiểu gen A, B, Ba, C: Gây bệnh đau mắt hột có thể dẫn đến mù lòa.
  • Kiểu gen D, Da, E, F, G, Ga, H, I, Ia, J, K: Gây nhiễm trùng đường tiết niệu - sinh dục và vô sinh.
  • Kiểu gen L1, L2, L2a, L3: Gây bệnh hột xoài (LGV) với tổn thương loét sinh dục và viêm hạch bẹn.

3. Phương pháp xét nghiệm nào được sử dụng để sàng lọc C. trachomatis trong nghiên cứu này?

Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật xét nghiệm khuếch đại acid nucleic (NAATs) bằng Realtime PCR với bộ sinh phẩm cobas® CT/NG trên hệ thống máy tự động Cobas® 4800 của hãng Roche Diagnostics, thực hiện trên mẫu bệnh phẩm dịch phết cổ tử cung.

4. Luận án đã thực hiện nghiên cứu trên cỡ mẫu bao nhiêu bệnh nhân và xác định kiểu gen trên bao nhiêu chủng?

Luận án tiến hành sàng lọc trên 761 phụ nữ vô sinh (19-52 tuổi) đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 2020-2021. Trong đó, 119 bệnh nhân có kết quả dương tính được mô tả chi tiết đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, và 22 chủng phân lập được giải trình tự gen ompA để xác định kiểu gen.

5. Những yếu tố dịch tễ và tiền sử nào được khảo sát liên quan đến tình trạng nhiễm C. trachomatis ở phụ nữ vô sinh?

Các yếu tố được khảo sát bao gồm: Độ tuổi (nhóm $\le 25$ và $> 25$ tuổi), trình độ học vấn, nghề nghiệp, tuổi quan hệ tình dục lần đầu, số lượng bạn tình, tiền sử bạn tình mắc STDs, tiền sử viêm âm đạo, tiền sử nạo hút thai, loại vô sinh (nguyên phát hay thứ phát), thời gian vô sinh và tình trạng tắc vòi tử cung.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hòa đã giải quyết hoàn chỉnh hai mục tiêu nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố liên quan và kiểu gen của Chlamydia trachomatis trên phụ nữ vô sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương giai đoạn 2020-2021. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ thực trạng nhiễm khuẩn đường sinh dục thầm lặng và mối liên hệ chặt chẽ giữa C. trachomatis với biến chứng tắc vòi tử cung. Đồng thời, công trình xác định thành công 9 kiểu gen từ 22 chủng phân lập dựa trên phân tích đa hình gen ompA, cung cấp bằng chứng khoa học thực tiễn phục vụ công tác chẩn đoán, sàng lọc và điều trị hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam.