Tổng quan luận án

Gãy các mắt cá là loại tổn thương phổ biến nhất trong nhóm gãy xương chi dưới và là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng thoái hóa khớp cổ chân sau chấn thương nếu không được chẩn đoán và điều trị phục hồi đúng giải phẫu. Gãy Dupuytren là một dạng tổn thương phức tạp vùng cổ chân, đặc trưng bởi gãy xương mác (ở đoạn 1/3 dưới hoặc ngang mức khớp chày mác dưới) kèm theo tổn thương hệ thống dây chằng chày mác dưới gây doãng mộng chày mác (DMCM), bán trật khớp xương sên ra ngoài hoặc ra sau, phối hợp với gãy mắt cá trong hoặc đứt rách dây chằng delta.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tiễn: tại Việt Nam, trước thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình nào khảo sát một cách toàn diện và hệ thống các thông số nhân trắc - giải phẫu của khớp chày mác dưới và khớp chày sên trên phim X quang quy ước ở người Việt Nam trưởng thành bình thường để thiết lập hệ thống giá trị tham chiếu chuẩn. Đa số các đánh giá tổn thương giải phẫu và kết quả nắn chỉnh phục hồi sau phẫu thuật kết xương gãy Dupuytren trong nước trước đây chủ yếu dựa vào nhận định định tính hoặc áp dụng các chỉ số đo đạc từ các nghiên cứu trên người nước ngoài (vốn có sự khác biệt về thể trạng, kích thước nhân trắc học).

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả một số đặc điểm X quang khớp cổ chân ở người Việt Nam trưởng thành.
  2. Đánh giá kết quả điều trị gãy kín Dupuytren bằng phẫu thuật kết xương bên trong.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng khảo sát giải phẫu X quang (Mục tiêu 1): 80 người Việt Nam trưởng thành (độ tuổi từ 19 đến 61 tuổi) có khớp cổ chân hoàn toàn bình thường, không có tiền sử chấn thương, dị tật bẩm sinh hoặc bệnh lý thoái hóa vùng cổ chân, tự nguyện tham gia nghiên cứu.
  • Đối tượng nghiên cứu lâm sàng (Mục tiêu 2): 73 bệnh nhân được chẩn đoán gãy kín Dupuytren và được điều trị bằng phẫu thuật kết xương bên trong.
  • Không gian nghiên cứu: Khoa Chẩn đoán hình ảnh và Trung tâm Chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y.
  • Thời gian nghiên cứu: Thu thập số liệu và theo dõi bệnh nhân trong giai đoạn từ tháng 02/2015 đến tháng 12/2019; luận án hoàn thành và bảo vệ năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án đã điểm lại lịch sử nghiên cứu giải phẫu, cơ chế chấn thương, các phân loại gãy xương mắt cá và các phương pháp điều trị từ cổ điển đến hiện đại:

  • Lịch sử mô tả tổn thương: Từ thời Hippocrates (thế kỷ V TCN) đã lưu ý gãy kín mắt cá cần nắn chỉnh ngay. Năm 1768, Percivall Pott mô tả gãy xương mác trên mắt cá ngoài 2 - 3 inch kèm đứt dây chằng chày sên và bán trật xương sên. Năm 1771, Jean-Pierre David mô tả cơ chế xoay ngoài bàn chân. Boyer mô tả cơ chế bán trật xương sên liên quan đến gãy mắt cá trong hoặc tổn thương dây chằng delta. Năm 1819 và 1832, Guillaume Dupuytren công bố chuyên luận thực nghiệm trên xác và mô tả thể gãy mang tên ông. Maisonneuve tiếp tục làm rõ vai trò của lực xoay ngoài và hệ thống dây chằng chày mác dưới.
  • Các nghiên cứu giải phẫu X quang trên thế giới:
    • Harper M. và cộng sự (1989): Nghiên cứu trên 12 mẫu cẳng chân xác tươi ở các tư thế chụp thẳng, nghiêng và xoay trong 15 độ (tư thế Mortise). Tác giả xác định kích thước khoảng sáng giữa xương chày và xương mác (TFCS) bình thường là $3,6 \pm 0,8\text{ mm}$, khoảng chồng giữa xương chày và xương mác (TFO) trên phim thẳng là $9,4 \pm 1,8\text{ mm}$ (tương đương 50% bề rộng xương mác) và trên phim xoay trong 15 độ là $4,2 \pm 1,7\text{ mm}$. Tác giả cũng thực nghiệm tạo doãng mộng chày mác từ 1 đến 4 mm để đo sự biến thiên của các chỉ số này.
    • Ostrum R. và cộng sự (1995): Khảo sát 80 người tình nguyện (40 nam, 40 nữ) trên phim thẳng, ghi nhận TFCS trung bình là $4,2\text{ mm}$ (nam: $4,8\text{ mm}$, nữ: $3,8\text{ mm}$) và TFO trung bình là $7,8\text{ mm}$ (nam: $9,6\text{ mm}$, nữ: $6,0\text{ mm}$).
    • Ebraheim N. và cộng sự (1997, 2006): Khảo sát các kích thước TFCS, TFO trên 12 mẫu xác tươi và đo đạc góc bám của các dây chằng chày mác trên phim cộng hưởng từ.
    • Pneumaticos S. và cộng sự (2002): Xác định giá trị trung bình của TFCS là $3,9 \pm 1,9\text{ mm}$.
    • Các công trình khác: Đo TFO và TFCS trên 392 phim X quang người khỏe mạnh; khảo sát tỷ lệ khoảng chày mác trước (ATFI) và khoảng chày mác sau (PTFI) so với kích thước xương chày (TW) và xương mác (FW) trên 72 phim nghiêng; so sánh X quang quy ước với cắt lớp vi tính (CLVT) 2D và 3D trên 484 đối tượng.
  • Các hệ thống phân loại tổn thương: Luận án phân tích chi tiết phân loại của Nguyễn Tiến Bình và cộng sự (2020) (thể giạng và thể khép); phân loại Danis - Weber (kiểu A, B, C dựa vào vị trí gãy xương mác so với khớp chày mác dưới); phân loại AO/OTA (nhóm 44-A, 44-B, 44-C); phân loại Lauge - Hansen (dựa vào tư thế bàn chân và hướng lực chấn thương: ngửa - khép, ngửa - xoay ngoài, sấp - giạng, sấp - xoay ngoài); phân loại Merle d’Aubigné (gãy Dupuytren cao và gãy Dupuytren thấp).
  • Các phương pháp điều trị: Tổng quan phân tích phương pháp bảo tồn bằng nắn chỉnh bó bột (Dupuytren, Sutter, Manjunath M., Cedell C.) và phương pháp phẫu thuật kết xương bên trong (Burwell H., Wilson F., McKenna P., Al-Lamy, Sipahidglu S., Hovis W.). Tại Việt Nam, công trình của Trần Văn Cư và cộng sự (2016) trên 41 bệnh nhân gãy mắt cá kiểu Weber B và C đã chứng minh tính hiệu quả của phẫu thuật kết xương nẹp vít.

Vị trí của luận án: Luận án giải quyết trực tiếp khoảng trống về dữ liệu giải phẫu X quang khớp cổ chân ở người Việt Nam trưởng thành, đồng thời là công trình chuyên sâu ứng dụng các số đo định lượng giải phẫu X quang để đánh giá toàn diện kết quả phẫu thuật kết xương bên trong điều trị gãy kín Dupuytren tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và giải phẫu - sinh lý học

  • Giải phẫu xương: Đầu dưới xương chày (hình khối vuông 5 mặt, diện khớp dưới tiếp khớp ròng rọc xương sên, mắt cá trong, gờ sau Destot tạo thành mắt cá sau, khuyết mác ở mặt ngoài); đầu dưới xương mác (mắt cá ngoài nằm thấp hơn mắt cá trong khoảng 1 cm, diện chồng với xương chày khoảng 5 mm chiều rộng và 15 mm chiều cao); xương sên (hình hộp 6 mặt, là cầu nối truyền toàn bộ trọng lượng cơ thể từ cẳng chân xuống xương gót và vòm bàn chân).
  • Hệ thống dây chằng và bao khớp: Dây chằng delta ở phía trong (gồm lớp nông hình quạt và lớp sâu bám vào trục quay xương sên); hệ thống dây chằng bên ngoài (dây chằng mác sên trước, mác sên sau, mác gót); phức hợp dây chằng khớp chày mác dưới (khớp sợi syndesmosis gồm: dây chằng chày mác trước hình thang chạy chếch $35^\circ$ so với mặt phẳng ngang và $65^\circ$ so với mặt phẳng đứng dọc; dây chằng chày mác sau; dây chằng ngang dưới; dây chằng liên cốt và màng liên cốt).
  • Sinh lý vận động: Khớp cổ chân hoạt động theo trục chếch qua hai mắt cá với biên độ gấp gan chân trung bình $50^\circ$, duỗi (gấp mu chân) trung bình $20^\circ$. Khi gấp - duỗi, hình thể hình thang của ròng rọc xương sên tạo nên sự trượt và dịch chuyển sinh lý của mắt cá ngoài. Khi có doãng mộng chày mác hoặc xương sên di lệch ra ngoài, diện tích tiếp xúc khớp giảm sút nghiêm trọng, làm tăng áp lực cục bộ và gây thoái hóa diện sụn khớp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp hai phương pháp nghiên cứu cho hai mục tiêu:

  1. Nghiên cứu khảo sát giải phẫu X quang (Mục tiêu 1):

    • Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả cắt ngang.
    • Cỡ mẫu: Tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể $n = Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot \frac{p(1-p)}{d^2}$. Với mức tin cậy 95% ($Z = 1,96$), tỷ lệ $p = 0,75$, sai số $d = 0,10$, cỡ mẫu lý thuyết tối thiểu là 72 người. Nghiên cứu thực tế thu thập 80 người.
    • Trang thiết bị và kỹ thuật: Máy chụp X quang kỹ thuật số DR-F (hãng GE, Mỹ, sản xuất năm 2015), điện áp 50 - 60 kV, cường độ 5 - 10 mAs, khoảng cách tiêu cự bóng chụp - phim là 100 cm. Chụp 3 tư thế chuẩn: thẳng (A-P), xoay trong $15^\circ$ (Mortise view) và nghiêng (Lateral).
    • Công cụ đo đạc: Sử dụng phần mềm chuyên dụng EFILM để đo đạc chính xác các kích thước, khoảng cách và tỷ lệ phần trăm trên ảnh kỹ thuật số.
  2. Nghiên cứu lâm sàng và can thiệp phẫu thuật (Mục tiêu 2):

    • Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu, can thiệp lâm sàng không đối chứng, theo dõi dọc.
    • Đối tượng: 73 bệnh nhân gãy kín Dupuytren được phẫu thuật kết xương bên trong tại Bệnh viện Quân y 103.
    • Quy trình phẫu thuật: Bộc lộ và nắn chỉnh giải phẫu xương mác, kết hợp xương mác bằng nẹp vít hoặc vít xốp; nắn chỉnh và cố định mắt cá trong bằng vít xốp hoặc néo ép số 8; cố định mắt cá sau (nếu có chỉ định); kiểm tra sự vững của mộng chày mác bằng nghiệm pháp Cotton; nắn chỉnh phục hồi mộng chày mác và xương sên; cố định khớp chày mác dưới bằng vít xốp (đường kính 3,5 mm hoặc 4,0 mm, bắt qua 3 hoặc 4 vỏ xương từ xương mác sang xương chày ở vị trí trên khe khớp chày sên 2 - 3 cm theo hướng chếch ra trước $30^\circ$, bàn chân giữ ở tư thế trung gian hoặc gấp mu tối đa) dưới sự kiểm soát của màn tăng sáng C-arm.
    • Tiêu chuẩn đánh giá: Đánh giá nắn chỉnh giải phẫu trên X quang sau mổ (TFCS, TFO, khe khớp trong MCS, góc talocrural); kiểm tra liền xương tại thời điểm 6 tháng; đánh giá chức năng khớp cổ chân theo thang điểm của Hội Chấn thương Chỉnh hình Cổ Chân và Bàn Chân Mỹ (AOFAS); đo biên độ vận động khớp (gấp - duỗi, sấp - ngửa); đánh giá mức độ đau; phân loại mức độ thoái hóa khớp theo Van Dijk; ghi nhận các tai biến, biến chứng trong và sau phẫu thuật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về giải phẫu học, sinh lý khớp cổ chân, bệnh sinh và cơ chế chấn thương gãy Dupuytren. Luận án phân tích sâu về cấu trúc khớp chày mác dưới - một khớp xơ sợi giữ vai trò quyết định độ vững chắc của gọng chày mác. Tác giả tổng hợp các mốc kích thước X quang được công bố trên thế giới, tiêu biểu là số liệu thực nghiệm của Harper M. và cộng sự (1989) về sự thay đổi của TFCS và TFO khi mộng chày mác bị doãng rộng từ 1 mm đến 4 mm:

Mức độ doãng mộng chày mác TFCS phim thẳng (mm) TFCS phim Mortise (mm) TFO phim thẳng (mm) TFO phim Mortise (mm)
Bình thường 3,6 3,6 9,4 4,2
Doãng 1 mm 4,8 4,5 8,9 3,5
Doãng 2 mm 5,7 5,4 8,3 2,8
Doãng 3 mm 6,2 6,2 7,7 1,9
Doãng 4 mm 7,0 7,1 6,5 1,0

Bên cạnh đó, chương 1 trình bày tổng quan các phương pháp chẩn đoán hình ảnh (X quang quy ước, CLVT đa dãy, CHT/MRI), đồng thời phân tích ưu nhược điểm của từng phương pháp cố định khớp chày mác dưới: cố định bằng vít kim loại (tiêu chuẩn vàng), nút chặn sinh học (Endobutton/Tightrope), vít tự tiêu sinh học, nẹp móc, đinh Kirschner và khung cố định ngoài Ilizarov.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu, tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ cho cả hai nhóm đối tượng.

  • Đối với nhóm khảo sát giải phẫu X quang (80 người): Loại trừ tất cả các đối tượng có tiền sử bong gân, chấn thương cổ chân, thoái hóa khớp, bàn chân bẹt, ngón cái vẹo ngoài hoặc có bệnh lý xương khớp. Tác giả chuẩn hóa quy trình chụp X quang 3 tư thế trên máy kỹ thuật số GE DR-F và xác định phương pháp đo đạc các biến số hình thái trên phần mềm EFILM gồm:
    • Khoảng sáng chày mác (TFCS) và tỷ lệ TFCS so với bề rộng xương mác, xương chày tại vị trí trên trần chày 10 mm.
    • Khoảng chồng chày mác (TFO), tỷ lệ TFO so với bề rộng xương mác, xương chày và chiều cao vùng chồng lấp chày mác.
    • Kích thước khe khớp chày sên (ở các vị trí trong, giữa, ngoài) và khe khớp sên - mắt cá trong (MCS).
    • Góc talocrural, góc chày mác và các chỉ số liên quan giữa hai mắt cá.
    • Các kích thước trên phim nghiêng: Khoảng chày mác trước (ATFI), khoảng chày mác sau (PTFI), bề rộng xương chày (TW), bề rộng xương mác (FW) và các tỷ lệ tương quan.
  • Đối với nhóm nghiên cứu lâm sàng (73 bệnh nhân): Luận án chi tiết hóa các bước phẫu thuật mở nắn chỉnh và kết xương bên trong (ORIF), quy trình thử nghiệm Cotton trong mổ, chỉ định bắt vít cố định khớp chày mác dưới qua 3 hoặc 4 vỏ xương, phác đồ bất động bổ sung và hướng dẫn tập phục hồi chức năng sau mổ.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu được từ hai nhánh nghiên cứu:

  • Kết quả khảo sát X quang khớp cổ chân bình thường ở 80 người Việt Nam trưởng thành:
    • Phân tích chi tiết các chỉ số trung bình của TFCS, TFO, chiều cao diện chồng chày mác, kích thước khe khớp chày sên, khe khớp mắt cá trong - xương sên (MCS) trên phim chụp thẳng và phim Mortise (xoay trong $15^\circ$), có so sánh giữa hai giới nam và nữ.
    • Xác định các thông số trên phim chụp nghiêng gồm khoảng chày mác trước (ATFI), khoảng chày mác sau (PTFI) và tương quan với kích thước xương chày (TW), xương mác (FW).
  • Kết quả điều trị phẫu thuật kết xương bên trong trên 73 bệnh nhân gãy kín Dupuytren:
    • Đặc điểm dịch tễ và chấn thương: Phân tích độ tuổi, giới tính, nguyên nhân chấn thương (tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt, tai nạn thể thao), cơ chế chấn thương và phương pháp sơ cứu trước khi nhập viện.
    • Đặc điểm thương tổn giải phẫu: Tỷ lệ và vị trí gãy xương mác (phân loại theo Danis - Weber kiểu B và C; gãy Dupuytren cao và thấp); đặc điểm tổn thương phối hợp ở mắt cá trong (gãy xương hoặc đứt dây chằng delta) và mắt cá sau; mức độ doãng mộng chày mác và mức độ di lệch ra ngoài, ra sau của xương sên trên X quang trước mổ.
    • Phương pháp phẫu thuật và kỹ thuật can thiệp: Thời gian từ khi chấn thương đến khi phẫu thuật; tỷ lệ sử dụng nẹp vít và vít xốp kết xương mác; phương pháp kết xương mắt cá trong (vít xốp, néo ép số 8); phương pháp bắt vít cố định khớp chày mác dưới (loại vít, kỹ thuật bắt qua 3 vỏ xương hoặc 4 vỏ xương, vị trí bắt vít so với trần chày).
    • Đánh giá kết quả nắn chỉnh giải phẫu sau mổ: Đo đạc đối chiếu các chỉ số TFCS, TFO, MCS, góc talocrural sau mổ với hệ số tham chiếu bình thường của người Việt Nam; tỷ lệ nắn chỉnh phục hồi hoàn toàn vị trí giải phẫu của xương sên và mộng chày mác.
    • Kết quả liền xương và phục hồi chức năng: Tỷ lệ liền xương vững chắc tại thời điểm kiểm tra 6 tháng; thời gian theo dõi kết quả xa; biên độ vận động gấp - duỗi và sấp - ngửa của cổ chân; mức độ đau khi vận động; đánh giá chức năng tổng thể theo thang điểm AOFAS; tỷ lệ thoái hóa khớp cổ chân theo phân loại Van Dijk.
    • Phân tích các yếu tố liên quan: Mối liên quan giữa kết quả điều trị chung với thời điểm phẫu thuật, vị trí gãy xương mác, loại vít cố định khớp chày mác dưới và chất lượng phục hồi giải phẫu trên X quang.
    • Biến chứng: Ghi nhận tỷ lệ nhiễm khuẩn nông/sâu vết mổ, biến chứng liên quan đến phương tiện kết xương (lỏng vít, gãy vít cố định khớp chày mác dưới khi chịu tải).

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, so sánh các phát hiện của luận án với y văn trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận về đặc điểm giải phẫu X quang: Luận án phân tích lý do cần thiết phải xác lập bộ chỉ số X quang riêng cho người Việt Nam; so sánh các giá trị TFCS, TFO, khoảng sáng khe khớp đo được với các công bố kinh điển của Harper M. (1989), Ostrum R. (1995), Ebraheim N. (1997) và Pneumaticos S. (2002). Tác giả chỉ ra sự tương đồng về quy luật tỷ lệ nhưng có sự khác biệt về kích thước tuyệt đối do đặc điểm thể tạng nhân trắc của người Việt Nam.
  • Bàn luận về tổn thương và chẩn đoán: Phân tích cơ chế chấn thương giạng và xoay ngoài gây nên chuỗi tổn thương đặc trưng của gãy Dupuytren; giá trị của từng tư thế chụp X quang (thẳng, xoay trong $15^\circ$, nghiêng) trong việc phát hiện doãng mộng chày mác và gãy mắt cá sau; vai trò và chỉ định hợp lý của CLVT và CHT trong cấp cứu chấn thương cổ chân.
  • Bàn luận về kỹ thuật phẫu thuật và kết quả điều trị: Phân tích thời điểm can thiệp phẫu thuật tối ưu; các nguyên tắc nắn chỉnh phục hồi giải phẫu chiều dài và trục xoay của xương mác; kỹ thuật bắt vít cố định khớp chày mác dưới (số lượng vít, đường kính vít, hướng bắt vít chếch ra trước $30^\circ$, bắt qua 3 vỏ hay 4 vỏ xương); thời điểm tháo vít cố định khớp chày mác dưới trước khi cho bệnh nhân tỳ đè chịu lực hoàn toàn để tránh biến chứng gãy vít hoặc cứng khớp.
  • Bàn luận về kết quả chức năng và biến chứng: Đánh giá mối tương quan chặt chẽ giữa mức độ phục hồi giải phẫu trên phim X quang sau mổ với điểm số chức năng AOFAS và biên độ vận động của khớp; bàn luận về các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ và xử trí biến chứng thoái hóa khớp sau chấn thương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  • Thiết lập hệ thống dữ liệu nhân trắc - giải phẫu X quang quy ước khớp cổ chân chuẩn ở người Việt Nam trưởng thành bình thường trên cả ba tư thế chụp (thẳng, xoay trong $15^\circ$ và nghiêng).
  • Cung cấp các thông số định lượng cụ thể về khoảng sáng chày mác (TFCS), khoảng chồng chày mác (TFO), khe khớp chày sên, khe khớp mắt cá trong - xương sên (MCS) và các góc giải phẫu (talocrural, chày mác) làm cơ sở tham chiếu khoa học cho ngành Chấn thương Chỉnh hình và Chẩn đoán hình ảnh tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn lâm sàng

  • Đưa ra tiêu chí định lượng khách quan dựa trên số đo X quang để chẩn đoán chính xác tổn thương doãng mộng chày mác và bán trật xương sên trong gãy kín Dupuytren, khắc phục nhược điểm của việc đánh giá cảm tính trước đây.
  • Chuẩn hóa quy trình phẫu thuật kết xương bên trong điều trị gãy kín Dupuytren: xác định rõ thứ tự nắn chỉnh kết xương mác, mắt cá trong/sau, chỉ định và kỹ thuật bắt vít cố định khớp chày mác dưới qua 3 hoặc 4 vỏ xương, kiểm soát nắn chỉnh bằng C-arm trong mổ.
  • Cung cấp bằng chứng thực tiễn về hiệu quả điều trị phục hồi giải phẫu và chức năng vận động khớp cổ chân (đạt tỷ lệ liền xương cao, phục hồi chức năng tốt theo thang điểm AOFAS), đồng thời xác định rõ thời điểm tháo vít cố định khớp chày mác dưới nhằm ngăn ngừa gãy phương tiện kết xương và giảm thiểu thoái hóa khớp.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Cần áp dụng thường quy quy trình chụp X quang cổ chân ở cả 3 tư thế (thẳng, nghiêng, xoay trong $15^\circ$) trong chẩn đoán cấp cứu chấn thương cổ chân để không bỏ sót tổn thương khớp chày mác dưới.
  • Khuyến cáo các phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình sử dụng bộ chỉ số X quang tham chiếu của người Việt Nam để kiểm tra, đánh giá mức độ phục hồi giải phẫu mộng chày mác trong và sau mổ.
  • Chỉ định phẫu thuật kết xương bên trong sớm cho các trường hợp gãy kín Dupuytren khi điều kiện phần mềm tại chỗ cho phép, tuân thủ kỹ thuật bắt vít cố định khớp chày mác dưới đúng hướng và có kế hoạch tháo vít trước khi cho bệnh nhân chịu tải trọng hoàn toàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Cỡ mẫu nghiên cứu lâm sàng (73 bệnh nhân) được thu thập tại một trung tâm duy nhất (Bệnh viện Quân y 103), chưa phản ánh trên quy mô đa trung tâm.
    • Đánh giá hình thái giải phẫu và tổn thương chủ yếu dựa trên hệ thống X quang quy ước và kỹ thuật số, chưa tiến hành chụp cắt lớp vi tính 3D hoặc cộng hưởng từ đồng loạt cho toàn bộ các đối tượng nghiên cứu do giới hạn về điều kiện trang thiết bị và chi phí thực tế.
    • Thời gian theo dõi kết quả sau mổ ở một số bệnh nhân chưa đủ dài để đánh giá toàn diện nguy cơ thoái hóa khớp muộn sau nhiều năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lâm sàng lớn hơn nhằm củng cố các phân tích thống kê đa biến về các yếu tố tiên lượng.
    • Ứng dụng chụp cắt lớp vi tính đa dãy dựng hình không gian 3 chiều và cộng hưởng từ để nghiên cứu sâu hơn về các tổn thương vi thể của sụn khớp và các bó dây chằng chày mác dưới trong gãy Dupuytren.

Giá trị tham khảo

  • Đối với bác sĩ Chấn thương Chỉnh hình và Phẫu thuật viên ngoại khoa: Luận án là tài liệu tham khảo thực hành giá trị về kỹ thuật phẫu thuật nắn chỉnh mở, quy trình bắt vít cố định mộng chày mác và các mốc giải phẫu X quang để đánh giá chất lượng cuộc mổ.
  • Đối với bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh: Cung cấp bộ trị số X quang chuẩn của người Việt Nam bình thường trên các tư thế chụp, hỗ trợ việc đọc và nhận định chính xác các tổn thương doãng mộng chày mác, bán trật xương sên.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là tài liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu cho giảng viên, học viên sau đại học (bác sĩ nội trú, chuyên khoa 2, nghiên cứu sinh) chuyên ngành Ngoại khoa - Chấn thương Chỉnh hình; phần tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu là hình mẫu chuẩn mực cho các nghiên cứu kết hợp giữa hình thái học và can thiệp lâm sàng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Gãy Dupuytren được định nghĩa và phân loại thương tổn như thế nào trong luận án? Gãy Dupuytren là thể gãy vùng mắt cá do cơ chế giạng và xoay ngoài bàn chân, bao gồm gãy xương mác ở 1/3 dưới hoặc ngang/trên khớp chày mác dưới, tổn thương phức hợp dây chằng chày mác dưới gây doãng mộng chày mác, bán trật khớp xương sên ra ngoài (hoặc ra sau), kèm gãy mắt cá trong hoặc đứt dây chằng delta (có thể kèm gãy mắt cá sau). Luận án phân chia tổn thương thành gãy Dupuytren thấp (gãy xương mác ngang mức khớp chày mác dưới, tương ứng Weber B) và gãy Dupuytren cao (gãy xương mác trên khớp chày mác dưới, tương ứng Weber C).

  2. Bộ tiêu chuẩn giải phẫu X quang của Harper và Keller được áp dụng như thế nào trong chẩn đoán doãng mộng chày mác? Theo Harper và Keller, trên phim chụp thẳng và phim xoay trong $15^\circ$, khoảng sáng giữa xương chày và xương mác (TFCS) bình thường nhỏ hơn 6 mm. Khoảng chồng giữa xương chày và xương mác (TFO) trên phim thẳng bình thường lớn hơn 6 mm (hoặc $> 42%$ bề rộng xương mác) và trên phim xoay trong $15^\circ$ lớn hơn 1 mm. Khi TFCS $> 6\text{ mm}$ hoặc TFO $< 2\text{ mm}$ (hoặc $< 42%$ bề rộng xương mác), bệnh nhân được xác định là có hiện tượng doãng mộng chày mác.

  3. Nguyên tắc kỹ thuật bắt vít cố định khớp chày mác dưới được luận án mô tả ra sao? Vít cố định khớp chày mác dưới (đường kính 3,5 mm hoặc 4,0 mm) được bắt từ mặt ngoài xương mác sang xương chày ở vị trí trên khe khớp chày sên khoảng 2 - 3 cm để tránh đi xuyên qua diện khớp sợi. Mũi khoan và hướng vít đi chếch từ sau ra trước một góc $30^\circ$, song song với diện khớp chày sên, thực hiện khi bàn chân được giữ ở tư thế trung gian hoặc gấp mu tối đa để đảm bảo xương sên nằm trọn vẹn trong gọng chày mác. Vít có thể bắt qua 3 vỏ xương hoặc 4 vỏ xương dưới sự kiểm soát của màn tăng sáng C-arm.

  4. Vì sao cần đặt vấn đề tháo vít cố định khớp chày mác dưới sau phẫu thuật? Khớp chày mác dưới là khớp sợi có độ đàn hồi và dịch chuyển sinh lý khi cổ chân gấp - duỗi. Việc bắt vít kim loại nhằm giữ vững mộng chày mác trong thời gian chờ các dây chằng liền sẹo. Nếu để vít lâu dài, sự bất động cứng sẽ làm mất tính đàn hồi sinh lý, có nguy cơ gây cốt hóa khớp chày mác dưới, hạn chế biên độ vận động và đặc biệt dễ dẫn đến biến chứng gãy vít khi bệnh nhân bắt đầu tỳ đè chịu lực hoàn toàn. Do đó, vít cố định cần được tháo bỏ sau khoảng 2 - 3 tháng trước khi cho bệnh nhân chịu tải trọng toàn phần.

  5. Những chỉ tiêu lâm sàng và hình ảnh học nào được sử dụng để đánh giá kết quả điều trị trong luận án? Luận án đánh giá kết quả dựa trên: (1) Đánh giá phục hồi giải phẫu X quang sau mổ thông qua các số đo TFCS, TFO, khoảng sáng sên - mắt cá trong MCS, góc talocrural và độ vững khớp cổ chân trên phim nghiêng; (2) Đánh giá mức độ liền xương tại thời điểm 6 tháng; (3) Đánh giá chức năng tổng thể theo thang điểm AOFAS; (4) Đo biên độ vận động khớp cổ chân (gấp - duỗi, sấp - ngửa); (5) Đánh giá mức độ đau khi vận động; (6) Đánh giá mức độ thoái hóa khớp theo phân loại Van Dijk và ghi nhận các biến chứng sau mổ.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Bá Ngọc đã hoàn thành xuất sắc hai mục tiêu nghiên cứu thông qua việc thiết lập bộ số liệu giải phẫu X quang khớp cổ chân chuẩn ở 80 người Việt Nam trưởng thành bình thường và đánh giá kết quả phẫu thuật kết xương bên trong ở 73 bệnh nhân gãy kín Dupuytren tại Bệnh viện Quân y 103. Công trình khẳng định phẫu thuật nắn chỉnh mở kết xương bên trong phối hợp cố định khớp chày mác dưới bằng vít xốp là phương pháp điều trị hiệu quả, giúp phục hồi chính xác cấu trúc giải phẫu và chức năng vận động của khớp cổ chân. Các kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống tham chiếu định lượng giá trị và quy trình kỹ thuật chuẩn mực, đóng góp thiết thực cho công tác chẩn đoán, điều trị và nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực Chấn thương Chỉnh hình tại Việt Nam.