Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư trực tràng trên và giữa và giữa được điều trị bằng phẫu thuật nội soi cắt trực tràng trước thấp

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá kết quả chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư trực tràng trên và giữa và giữa được, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2021

185
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. GIẢI PHẪU TRỰC TRÀNG

1.1.1. Hình thể ngoài và liên quan

1.1.2. Cấu tạo và hình thể trong trực tràng

1.1.3. Động mạch trực tràng

1.1.4. Tĩnh mạch trực tràng

1.1.5. Bạch huyết trực tràng

1.1.6. Mạc treo trực tràng

1.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2. ĐẶT VẤN ĐỀ

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh

3.3. Tiêu chuẩn loại trừ

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Nghiên cứu đặc điểm chung

3.4.2. Nghiên cứu một số đặc điểm về tiền sử

3.4.3. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng

3.4.4. Nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng

3.4.5. Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu bệnh trước mổ

3.4.6. Nghiên cứu về phẫu thuật

3.4.7. Nghiên cứu kết quả trong mổ

3.4.8. Nghiên cứu một số đặc điểm sau mổ

3.4.9. Nghiên cứu điều trị bổ trợ sau mổ

3.4.10. Đánh giá kết quả tái khám sau mổ

3.4.11. Đánh giá chất lượng cuộc sống sau mổ

3.4.12. Xử lý số liệu

3.4.13. Đạo đức nghiên cứu trong y học

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân

4.1.1. Giới tính, địa dư và nghề nghiệp

4.1.2. Tiền sử bản thân và lý do vào viện

4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

4.2.1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng

4.2.2. Nghiên cứu đặc điểm cận lâm sàng

4.3. Kết quả điều trị

4.3.1. Phương pháp phẫu thuật

4.3.2. Nghiên cứu kết quả trong mổ

4.3.3. Nghiên cứu sau mổ

4.3.4. Đặc điểm giải phẫu bệnh sau mổ

4.3.5. Giai đoạn ung thư

4.3.6. Điều trị bổ trợ sau mổ

4.3.7. Phân tích tỷ lệ sống không mắc bệnh và sống thêm của bệnh nhân

4.3.8. Đặc điểm theo dõi bệnh nhân

4.3.9. Tỷ lệ sống thêm không mắc bệnh

4.3.10. Tỷ lệ sống thêm của bệnh nhân

4.3.11. Phân tích các yếu tố liên quan với mô bệnh học và giai đoạn ung thư

4.3.12. Đánh giá LARS-score và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân theo thang EORTC QLQ-C30 và CR29

4.3.12.1. Đánh giá thang điểm hội chứng trước thấp LARS score
4.3.12.2. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân theo thang đo EORTC QLQ-C30
4.3.12.3. Chất lượng cuộc sống theo thang đo EORTC QLQ-CR29
4.3.12.4. Chất lượng chuẩn hóa theo thang đo EORTC QLQ-CR29 ở 2 nhóm có HMNT và không có HMNT
4.3.12.5. Bảng điểm thô chức năng tình dục ở người < 60 tuổi

4.3.13. Các yếu tố liên quan với chất lượng sống của bệnh nhân

4.3.13.1. Đặc điểm chung
4.3.13.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
4.3.13.2.1. Đặc điểm lâm sàng
4.3.13.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng
4.3.13.3. Kết quả phẫu thuật
4.3.13.3.1. Phương pháp và kỹ thuật tiến hành phẫu thuật
4.3.13.3.2. Kết quả sau mổ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Ung thư trực tràng là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến tại đường tiêu hóa. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh này đang gia tăng, đặc biệt ở nam giới. Phẫu thuật nội soi cắt trực tràng trước thấp đã trở thành phương pháp điều trị chính, mang lại nhiều lợi ích như giảm đau, hồi phục nhanh và ít biến chứng. Tuy nhiên, việc đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật là rất quan trọng. Tổ chức Châu Âu về nghiên cứu và điều trị ung thư (EORTC) đã phát triển bộ câu hỏi EORTC QLQ-C30 và EORTC QLQ-CR29 để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư. Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá kết quả phẫu thuật và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư trực tràng sau phẫu thuật nội soi.

II. Tổng Quan Tài Liệu

Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư trực tràng đã được thực hiện rộng rãi trên thế giới. Các nghiên cứu cho thấy rằng tình trạng sức khỏe tâm thần và thể chất của bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau phẫu thuật. Việc sử dụng thang điểm EORTC QLQ-C30 và EORTC QLQ-CR29 đã giúp cung cấp thông tin chi tiết về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Các yếu tố như hậu phẫu, triệu chứng sau phẫu thuật, và tình trạng sức khỏe tổng quát đều có tác động lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố này để đưa ra những kết luận có giá trị.

III. Đối Tượng và Phương Pháp Nghiên Cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm bệnh nhân ung thư trực tràng được điều trị bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Trung ương Huế. Tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ được xác định rõ ràng để đảm bảo tính chính xác của kết quả. Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc thu thập dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá chất lượng cuộc sống thông qua các bộ câu hỏi EORTC. Việc phân tích dữ liệu sẽ giúp xác định mối liên hệ giữa tình trạng sức khỏechất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư trực tràng sau phẫu thuật nội soi có sự cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, một số bệnh nhân vẫn gặp phải các triệu chứng như đau, mệt mỏi và lo âu. Thang điểm LARS và EORTC QLQ-C30 đã được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống và cho thấy rằng có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm bệnh nhân. Các yếu tố như tình trạng sức khỏe tổng quát, triệu chứng sau phẫu thuật, và điều trị bổ trợ đều có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

V. Đánh Giá và Kết Luận

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phẫu thuật nội soi cắt trực tràng trước thấp không chỉ mang lại hiệu quả điều trị mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Tuy nhiên, cần có các biện pháp hỗ trợ để giảm thiểu các triệu chứng sau phẫu thuật. Việc đánh giá chất lượng cuộc sống là cần thiết để cải thiện quy trình điều trị và chăm sóc bệnh nhân. Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc phát triển các chương trình hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân sau phẫu thuật.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIẢI PHẪU TRỰC TRÀNG 1. Hình thể ngoài và liên quan Trực tràng dài khoảng 12 - 15 cm, tiếp nối với đại tràng xích-ma ở phía trên ngang mức xương cùng thứ 3 (S3) và nối với ống hậu môn ngay vị trí đường lược phía dưới. Nhìn trước tới thì thẳng nên gọi là trực tràng nhưng nhìn nghiêng thì cong theo đường cong của xương cùng cụt, lúc đầu cong lõm ra trước tạo nên góc cùng và tại chỗ nối với ống hậu môn thì cong lõm ra sau tạo nên góc đáy chậu.

Về liên quan: trực tràng nằm trước xương cùng cụt và các mạch máu thần kinh ở trước xương cùng. Ở nam thì trực tràng nằm sau bàng quang, các quai ruột non, túi tinh, ống tinh, tiền liệt tuyến và ngăn cách với các tạng sinh dục này bởi mạc tiền liệt – phúc mạc chạy từ túi cùng trực tràng bàng quang tới đáy chậu; còn ở nữ thì trực tràng nằm sau tử cung và thành sau âm đạo, ngăn cách với thành này bởi mạc trực tràng – âm đạo. Ở hai bên, trực tràng liên quan ở phía trên phúc mạc với ruột non và đại tràng xích ma và ở phía dưới phúc mạc với bao xơ chứa đám rối thần kinh hạ vị [28],[135],[142]. Hình thể ngoài và liên quan của trực tràng [142] luan an 4 1.

Cấu tạo và hình thể trong trực tràng Từ trong ra ngoài, trực tràng có năm lớp: - Lớp niêm mạc: bên trong trực tràng, niêm mạc nhô lên tạo thành ba nếp ngang trên, giữa, dưới hình lưỡi liềm (Houston valves). - Tấm dưới niêm mạc: nhiều mạch máu và thần kinh. - Lớp cơ: + Tầng trong là cơ vòng + Tầng ngoài là cơ dọc: ba dải cơ dọc khi đến trực tràng phân tán thành lớp cơ dọc, ở phía trước và sau dày hơn ở hai bên. - Tấm dưới thanh mạc - Lớp thanh mạc: chỉ phủ ở phần trên, phía trước và hai bên trực tràng [28],[55],[142].

Cấu tạo các lớp thành trực tràng [85]. Động mạch trực tràng Trực tràng được nuôi dưỡng bởi 3 động mạch: động mạch trực tràng trên, động mạch trực tràng giữa và động mạch trực tràng dưới. - Động mạch trực tràng trên là nhánh cuối cùng của động mạch mạc treo tràng dưới , đây là nhánh tưới máu chính cho phần trên của trực tràng. - Động mạch trực tràng giữa bắt nguồn từ động mạch hạ vị, cung cấp máu cho phần giữa của trực tràng - Động mạch trực tràng dưới bắt nguồn từ động mạch thẹn trong (một nhánh của động mạch hạ vị), cung cấp máu cho hậu môn và các cơ tròn [55], [135].

Mạch máu trực tràng [135] luan an 6 1. Tĩnh mạch trực tràng Các tĩnh mạch của trực tràng bắt nguồn từ một hệ thống tĩnh mạch đặc biệt, họp thành một đám rối trong thành trực tràng, các đám rối này được tạo thành bởi các xoang tĩnh mạch to nhỏ không đều. Tất cả các đám rối này đều đổ về tĩnh mạch trực tràng trên, giữa và dưới, rồi cuối cung đổ về theo 2 hệ thống: tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch chủ [135]. Hệ thống tĩnh mạch trực tràng và hậu môn [135] 1.

Bạch huyết trực tràng Bạch huyết trực tràng đổ về theo 3 đường chính: - Chuỗi hạch bạch huyết mạc treo tràng dưới: dẫn lưu các hạch bạch huyết của đại tràng trái và phần trên trực tràng. - Chuỗi hạch bạch huyết hạ vị: dẫn lưu các hạch bạch huyết của phần giữa trực tràng. - Chuỗi hạch bạch huyết vùng bẹn: dẫn lưu các hạch bạch huyết của phần thấp trực tràng [28],[135]. luan an 7 Hình 1.

A: dẫn lưu hạch bạch huyết trực tràng; B: dẫn lưu hạch bạch huyết ống hậu môn [142]. Mạc treo trực tràng Từ mạc treo trực tràng có lẽ được sử dụng đầu tiên bởi Maunsell vào năm 1892, sau đó năm 1982 được Heald một phẫu thuật viên người Anh đưa ra sử dụng rộng rãi. Trực tràng được bao phủ bởi một lớp mô mỡ chứa các mạch máu, mạch bạch huyết và thần kinh, lớp mô này có bề dày khoãng 2 – 3 cm, lớp này được xem là mạc treo trực tràng. Lớp mạc treo trực tràng là một bao kín, bao quanh thành của trực tràng.

Bên ngoài lớp mỡ này có một lớp màng mỏng bao quanh gọi là mạc quanh trực tràng hay còn gọi là mạc riêng trực tràng, có những lổ thủng để cho động mạch trực tràng giữa và thần kinh trực tràng chui qua. Giới hạn của mạc treo trực tràng là giữa cơ thành trực tràng và lá tạng của mạc sàn chậu, bao phủ ¾ chu vi trực tràng sau bên, nằm dưới phúc mạc, mặt trước dưới nếp phúc mạc là tổ chức xơ mỡ. Mạc treo trực tràng là một hàng rào quan trọng trong việc chống lại sự lan tràn của các tế bào ung thư từ khối u ở trực tràng, vì vậy đã hình thành nên khái niệm chu vi mặt cắt của mạc treo và luan an 8 bờ dưới mạc treo trực tràng để đảm bảo về mặt ung thư học trong phẫu thuật điều trị UTTT [56]. Việc cắt toàn bộ mạc treo trực tràng phải xác định là mạc treo trực tràng phải được cắt bỏ toàn bộ mà không cần quan tâm đến vị trí của khối u.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bàn cải về phạm vi việc cắt bỏ mạc treo trực tràng thích hợp. Dựa trên nghiên cứu về mô bệnh học, u trực tràng không thể lan tràn xa mạc treo trực tràng xuống dưới trên 4 cm và thực tế mạc treo trực tràng không còn ở trên mức gần 2 cm tính từ cơ nâng hậu môn. Vì vậy đối với u ở trực tràng trên thì có thể cắt bỏ mạc treo trực tràng dưới u khoảng 5 cm [115]. Mạc treo trực tràng Thành trực tràng Hình 1.

Mạc treo trực tràng mất dần và kết thúc tại vị trí 2 - 3 cm trên cơ nâng hậu môn, thành sau bên của trực tràng [115] Trong phẫu thuật điều trị UTTT thấp và trung gian, một khái niệm được đưa ra bởi Heald là phẫu tích cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (TME), là thủ thuật lấy toàn bộ mô mỡ quanh trực tràng bằng cách phẫu tích vào vùng giữa mạc nội tạng và đỉnh của mạc nội chậu hay còn gọi là mặt phẫu thuật (Holy plane). Những nghiên cứu khác về vấn đề tái phát tại chỗ đối với ung thư trực tràng; trong qua khứ khi chưa thực hiện được kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng thì tỷ lệ tái phát tại chổ 30% - 38%, nhưng theo báo cáo của Heald nếu cắt toàn bộ mạc treo trực tràng thì tỷ lệ tái phát tại chỗ sau 5 năm là 3. luan an 9 Hình 1. Sơ đồ phẫu tích cắt TME bảo tồn thần kinh tự động vùng chậu mà không làm phá vỡ mạc treo trực tràng [115].

Hệ thống thần kinh trực tràng Hệ thống giao cảm Các sợi giao cảm của trực tràng được phân chia từ L1, L2, L3 thông qua các chuỗi hạch giao cảm và rời các sợi giao cảm của cột sống để đến nối với đám rối cận động mạch chủ. Từ đây các sợi chạy xuống bao quanh động mạch mạc treo tràng dưới để đi đến phần trên của trực tràng. Đám rối hạ vị trên xuất phát từ đám rối động mạch chủ và các sợi thần kinh nội tạng thắt lưng hai bên. Bắt đầu từ ụ nhô của xương cùng và phân chia thành hai nhóm sợi thần kinh hạ vị đi xuống dưới vùng tiểu khung chạy dọc theo hai bên niệu quản [28],[30].

Hệ thần kinh phó giao cảm Hệ thần kinh này được nhận từ S2 đến S4, các sợi thần kinh này chạy qua lỗ xương cùng và được gọi là thần kinh Erigenti. Sau đó chạy ra mặt bên và thẳng lên trên để nối với các sợi giao cảm của thần kinh chậu hạ vị ở đám rối chậu. Từ đây sẽ kết hợp với sợi sau hạch của hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm để chi phối cho trực tràng trên và đại tràng trái. Tiếp tục đi xuống dưới và băng qua đám rối mạc treo tràng dưới để vào trực tiếp trực tràng dưới và ở phần trên ống hậu môn [28],[53].

luan an 10 Hình 1. Hệ thống thần kinh trực tràng [53]. Sự rối loạn sinh dục và tiểu tiện thường gặp trong những trường hợp phẫu thuật vùng chậu: cắt trực tràng trước thấp, phẫu thuật Miles. Các dây thần kinh vùng chậu nằm ở giữa phúc mạc và mạc chậu trong cho nên dễ bị thương tổn trong quá trình cắt trực tràng, tổn thương thần kinh tự động có thể nặng nề hơn.

Tổn thương thần kinh hạ vị và đám rối hạ vị khi phẫu tích vào vùng mấu xương cùng hoặc vùng trước xương cùng. Trong trường hợp tổn thương thần kinh giao cảm mà không tổn thương thần kinh nội tạng thì gây ra phóng tinh ngược dòng và rối loạn chức năng bàng quang [79],[115]. GIẢI PHẪU BỆNH UNG THƯ TRỰC TRÀNG 1. Đại thể - Thể loét thâm nhiễm: là loại gặp nhiều nhất, loét có bờ cao, thành đứng và đáy cứng, gồ ghề, dễ chảy máu.

- Thể u sùi: ít gặp, khối u sùi vào lòng trực tràng, nhiều múi, chân rộng nền cứng, thường bị loét ở giữa u. - Thể thâm nhiễm cứng: rất ít gặp, thành trực tràng dày lên , cứng, phát triển chiếm toàn bộ chu vi, gây hẹp lòng trực tràng nhưng không bao giờ bị loét ở bề mặt. Vi thể - Ung thư biểu mô tuyến là loại gặp nhiều nhất, chiếm 97%. Tùy mức độ biệt hóa tế bào và cấu trúc tổ chức u mà chia các loại như sau: Ung thư biểu mô tuyến biệt hóa tốt (80%); Ung thư biểu mô tuyến biệt hóa vừa; Ung thư biểu mô tuyến biệt hóa kém (rất ít gặp).

- Ung thư biểu mô tuyến nhầy: (10 - 15%); ung thư biểu mô tế bào nhẫn (2%); ung thư biểu mô vẩy (hiếm gặp) thường xuất hiện ở vị trí chuyển tiếp ống hậu môn – trực tràng và hình ảnh đặc trưng trên vi thể là các cầu keratin. - Ung thư biểu mô tế bào nhỏ (< 1%): tiến triển rất nhanh. - Ung thư biểu mô thể tủy: các tế bào ung thư với nhân tròn và hạch nhân rất to. - Ung thư biểu mô không biệt hóa.

- Các bệnh lý ác tính ít gặp khác như: Sarcome (< 3%), carcinoid, lymphoma malin, U mô đệm đường tiêu hóa… Ung thư biểu mô tế bào nhỏ chiếm khoảng 1% các ung thư biểu mô đại trực tràng, có tiên lượng xấu nhất. Ung thư biểu mô tuyến vảy, ung thư biểu mô không biệt hóa cũng là những biến thể hiếm gặp của UTĐTT [19],[24],[68]. Ung thư biểu mô tuyến Hình 1. Ung thư biểu mô tuyến nhầy [6] 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá kết quả chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư trực tràng sau phẫu thuật nội soi cắt trực tràng" của tác giả Trần Ngọc Thông, dưới sự hướng dẫn của PGS. Lê Mạnh Hà, thuộc Đại học Huế, cung cấp cái nhìn sâu sắc về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau khi trải qua phẫu thuật nội soi. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về những thay đổi trong cuộc sống của bệnh nhân mà còn chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự phục hồi và chất lượng cuộc sống của họ. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện quy trình chăm sóc và hỗ trợ bệnh nhân ung thư.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị và chăm sóc bệnh nhân trong lĩnh vực y tế, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cắt khối tá tụy và nạo hạch trong điều trị ung thư vùng đầu tụy", nơi nghiên cứu về các phương pháp phẫu thuật trong điều trị ung thư. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu điều trị bảo tồn ung thư nguyên bào võng mạc bằng laser diode" cũng mang đến cái nhìn về các phương pháp điều trị bảo tồn trong ung thư. Cuối cùng, bài viết "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh u não tế bào thần kinh đệm ác tính" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp chẩn đoán trong ung thư, từ đó nâng cao kiến thức về lĩnh vực này.