CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. KHÁI NIỆM UNG THƯ VÚ Ung thư vú là ung thư biểu mô tuyến vú, tổn thương là khối u ác tính nguyên phát tại vú, có thể ở bất kỳ vị trí nào trong tuyến vú; khối u có thể xâm lấn di căn đến các vị trí khác trong cơ thể, thường gặp ở xương, gan, phổi và não (Nguyễn Thị Mai Lan, 2020). NGUYÊN NHÂN VÀ CHẨN ĐOÁN UNG THƯ VÚ 1.1 Nguyên nhân Trong các yếu tố nguy cơ mắc bệnh, nổi bật là tiền sử gia đình có người mắc UTV, đặc biệt có từ 2 người mắc trở lên ở lứa tuổi trẻ. Người ta cũng tìm thấy sự liên quan giữa đột biến gen BRCA1 và BRCA2 với UTV, ung thư buồng trứng và một số ung thư khác.
Một số yếu tố khác bao gồm: có kinh lần đầu sớm, mãn kinh muộn, phụ nữ độc thân, không sinh con, không cho con bú, sinh con đầu lòng muộn. Béo phì, chế độ ăn giàu chất béo, sử dụng rượu cũng góp phần tăng nguy cơ bị bệnh. Viêm vú trong khi sinh đẻ và một số bệnh vú lành tính cũng là các yếu tố tăng nguy cơ mắc UTV. Tuổi càng cao, nguy cơ mắc bệnh càng tăng.
Tuy nhiên, bệnh cũng có thể xuất hiện ở những người rất trẻ (Bộ Y Tế, 2020). Chẩn đoán lâm sàng ung thư vú: - Hỏi bệnh: + Quá trình phát hiện u vú, hạch nách, hạch thượng đòn, chảy dịch núm vú, các phương pháp can thiệp trước đó. + Một số bệnh nhân có các triệu chứng cơ năng: cảm giác đau nhẹ như kiến cắn trong vú, giai đoạn muộn có thể căng tức khó chịu, đau do u xâm lấn, chảy dịch hôi, chảy máu… + Khai thác tiền sử: • Tiền sử bản thân: bệnh vú trước đây, các bệnh lý nội khoa, ngoại khoa…, tiền sử sản, phụ khoa, tình trạng kinh nguyệt hiện tại. 4 • Tiền sử gia đình, đặc biệt tiền sử ung thư vú, buồng trứng.
- Khám thực thể: + Khám vú hai bên, hạch vùng (nách, thượng đòn). + Khám các cơ quan, bộ phận khác + Khám toàn thân, lưu ý các triệu chứng, dấu hiệu di căn xa (đau đầu, đau xương, khó thở v. - Đánh giá toàn trạng (chỉ số hoạt động cơ thể) (Bộ Y Tế,2020). Cận lâm sàng a.
Siêu âm tuyến vú Siêu âm vú không có giá trị trong việc sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú nhưng có giá trị phát hiện các tổn thương nằm sâu, không sờ nắn được khi thăm khám. Siêu âm có khả năng mô tả các đặc tính tổn thương đã phát hiện trên nhũ ảnh hoặc tổn thương sờ thấy trên lâm sàng. Siêu âm xác định được khối u là đặc hay nang, vách nang dày hay mỏng, có chồi sùi trên vách nang hay không, có vách ngăn hay không. Siêu âm tuyến vú không được sử dụng thường xuyên trong tầm soát ung thư vú vì không phát hiện được dấu hiệu sớm nhất của ung thư vú như các nốt vi vôi hóa và siêu âm phụ thuộc vào chủ quan của người đọc (Piccart- Gebhart, M.
Siêu âm vú và hạch vùng: siêu âm thông thường hoặc siêu âm 3D, siêu âm đàn hồi, siêu âm quét thể tích vú tự động (automated volume breast scanner- AVBS) để có kết quả chính xác hơn (Bộ Y Tế, 2020). X quang tuyến vú (nhũ ảnh) Hình ảnh tổn thương có thể gặp trên phim chụp vú bao gồm: tổn thương hình khối, calci hóa, sự bất đối xứng của cấu trúc tuyến và các mô xung quanh. Dấu hiệu tổn thương trên X quang tuyến vú rất đa dạng và có những giá trị khác nhau. Trong đó tổn thương khu trú, bờ không rõ và nốt vôi hóa là các dấu hiệu có giá trị gợi ý tổn thương ác tính.
X quang tuyến vú là phương tiện để tầm soát và 5 chẩn đoán ung thư vú và có thể phát hiện 80%-90% ung thư vú không triệu chứng (Piccart-Gebhart, M. Các NC đã chứng minh rằng chụp X quang tuyến vú làm giảm từ 15% đến 26% tỉ lệ tử vong do ung thư vú. Hình ảnh nghĩ đến ác tính thường là tổn thương dạng nốt, tăng đậm độ, dạng hình sao, vi vôi hóa, hoặc thay đổi cấu trúc tuyến vú (Slamon, D. Chụp X-quang tuyến vú (mammography): chụp vú 2 bên, mỗi bên ít nhất 2 tư thế.
Trường hợp mật độ mô vú đậm hoặc khó chẩn đoán, có thể cần chụp tuyến vú số hóa có tiêm thuốc cản quang (contrast-enhanced digital mammography), chụp 3D (breast tomosynthesis), chụp ống dẫn sữa cản quang (galactography). Những phụ nữ đã phẫu thuật thẩm mỹ đặt túi ngực, chụp X-quang vú có thể gây biến dạng, dò, vỡ túi. Do vậy, cần thay chụp X-quang vú bằng chụp cộng hưởng từ (MRI) tuyến vú kết hợp siêu âm vú (Bộ Y Tế, 2020). Tế bào học Tế bào học: Chọc hút bằng kim nhỏ (fine needle aspiration – FNA) khối u, hạch, các tổn thương nghi ngờ.
Đối với các trường hợp khó xác định tổn thương, cần chọc hút tế bào dưới hướng dẫn của chẩn đoán hình ảnh. Tế bào học có thể làm với dịch tiết núm vú, dịch các màng (Bộ Y Tế, 2020). Mô bệnh học Có nhiều phương pháp lấy mẫu mô xét nghiệm mô bệnh học như sinh thiết lõi, sinh thiết mở bằng phẫu thuật, sinh thiết bằng kim lớn dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc nhũ ảnh nhằm định vị chính xác vị trí của khối u và hạch khi tiến hành thủ thuật lấy mẫu mô. Sinh thiết mở là phương pháp tin cậy do mẫu mô được lấy chính xác bởi phẫu thuật viên, kích cỡ đủ lớn để đánh giá đầy đủ về mô bệnh học và đạt đến rìa phẫu thuật âm tính tế bào ung thư trong trường hợp kết quả trả lời là ung thư.
Trong một phân tích dựa trên hơn 20 NC đã được công bố, các tác giả đã chứng minh độ nhạy của FNA từ 35% đến 95% thấp hơn so với độ nhạy của sinh thiết lõi (85%-100%) và độ đặc hiệu của FNA (48%-100%) cũng thấp 6 hơn so với độ đặc hiệu của sinh thiết lõi (86%-100%) [38]. Những chứng cứ trên cho thấy sinh thiết có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán xác định ung thư vú. Mô bệnh học là nền tảng trong chẩn đoán xác định ung thư vú, giúp điều trị và tiên lượng. Phân loại ung thư biểu mô tuyến vú của Tổ chức Y tế Thế giới 2003, mã ICD-10/C (International Classification of Diseases-10/ Code) phân ra 2 loại lớn: ung thư không xâm nhập (tại chỗ) và ung thư xâm nhập (Nguyễn Thị Mai Lan, 2020).
Hóa mô miễn dịch Mẫu mô bệnh lý thu được từ sinh thiết sẽ được phân tích sâu hơn để xác định loại mô bệnh học, thụ thể nội tiết ER và PR, thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì người loại 2 (Her-2) và chỉ số tăng sinh tế bào Ki-67 (Harris, L. - Protein Ki-67: Ki-67 là dấu ấn tăng sinh tế bào, là yếu tố tiên lượng độc lập. Ki-67 cũng được báo cáo là có liên quan đáp ứng lâm sàng với hóa trị. Ý nghĩa của Ki-67 khác nhau tùy theo ngưỡng sử dụng và có giá trị để theo dõi ung thư vú tái phát và dự báo thời gian sống không bệnh (Harris, L.
- Thụ thể ER và PR: ER: một nhóm các protein được tìm thấy trong các tế bào, được kích hoạt bởi hormon estrogen làm cho tế bào biểu mô tuyến vú kích thích tăng trưởng. Các protein thụ thể hóc môn steroid trong tế bào gồm estrogen và progesterone được xem như là những yếu tố tiên lượng và hướng dẫn cho điều trị nội tiết. Bệnh nhân có ER(+) hoặc PR(+) hoặc cả hai dương tính sẽ đáp ứng tốt với điều trị nội tiết, thời gian sống thêm không bệnh, sống thêm toàn bộ và sống thêm sau tái phát lâu hơn nhóm bệnh nhân có thụ thể nội tiết (-) (Harris, L. - Yếu tố Her-2: Her-2 là một tiền gen nằm trên nhiễm sắc thể 17, có vai trò là yếu tố phát triển biểu bì, chiếm khoảng 1/3 số trường hợp ung thư biểu mô tuyến vú.
Sự bộc lộ quá mức Her-2 liên quan đến tăng tỷ lệ tái bệnh, giảm tỷ lệ sống thêm không bệnh và tỷ lệ sống thêm toàn bộ ở BN ung thư vú có hạch nách dương tính. Nếu Her-2 dương tính, tiên đoán đáp ứng với thuốc điều trị đích kháng Her-2 (Harris, L. Độ ác tính mô bệnh học Dựa trên tiêu chuẩn của Scarff-Blom-Richardson. Phân độ này dựa vào ba yếu tố: Sự hình thành các ống nhỏ, mức đa hình thái nhân và hoạt động nhân chia.
Mỗi yếu tố được cho từ 1 đến 3 điểm. Độ mô học được xếp là tổng số điểm của ba yếu tố cộng lại (Elston, E. Phân loại như sau: Độ I: biệt hóa rõ (3-5 điểm) Độ II: biệt hóa vừa (6-7 điểm) Độ III: biệt hóa kém (8-9 điểm) Các chất chỉ điểm sinh hóa ung thư vú Chất chỉ điểm ung thư vú được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng hiện nay là CA 15.3 và CEA vì có giá trị trong theo dõi đáp ứng với điều trị, giúp phát hiện sớm tái bệnh, tiến triển DC cũng như phản ánh gánh nặng tổng thể ung thư vú trên bệnh nhân. Tuy nhiên, các chất chỉ điểm này có độ nhạy và độ đặc hiệu không cao nên chỉ giúp nghi ngờ tái bệnh ung thư vú.
Do đó, khuyến cáo chỉ nên đo các chất chỉ điểm này trong huyết thanh để theo dõi đáp ứng điều trị ở BN ung thư vú DC trong trường hợp thiếu các phương pháp đánh giá DC khác như chẩn đoán hình ảnh (Phùng Thị Huyền, 2016). Chẩn đoán xác định ung thư tuyến vú Chẩn đoán sớm bệnh ung thư vú nói riêng và một số bệnh ung thư khác, thì sàng lọc là một trong những biện pháp thực sự có hiệu quả, được thực hiện theo một mạng lưới từ tuyến y tế cơ sở. Ở Việt Nam, sàng lọc ung thư vú còn là Chương trình phòng chống ung thư quốc gia, nhằm mục đích phát hiện sớm, chẩn đoán sớm giai đoạn bệnh, đem lại hiệu quả điều trị cao nhất. Trên thực tế lâm sàng, đối với những trường hợp sờ thấy u, UTV thường được chẩn đoán dựa vào bộ 3 kinh điển: lâm sàng, tế bào học và chụp tuyến vú.
Với những tổn thương không sờ thấy trên lâm sàng có thể áp dụng một số phương pháp khác như định vị kim dây, sinh thiết định vị, sinh thiết dưới hướng dẫn của siêu âm để thực hiện sinh thiết kim, sinh thiết mở. được áp 8 dụng tùy theo từng trường hợp và hoàn cảnh cụ thể. Chẩn đoán xác định UTV nhất thiết phải có sự khẳng định của tế bào học và/hoặc giải phẫu bệnh học (Phùng Thị Huyền, 2016).