ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Globocan, năm 2020 số lượng ca bệnh ung thư mới là 19,3 triệu người và đã gây tử vong cho 10 triệu người lớn hơn cả tổng số người chết vì các bệnh HIV/AIDS, lao và sốt rét cộng lại [1]. Ung thư sinh dục dưới (UTSDD) ở nữ là một căn bệnh phổ biến xảy ra khi có sự xuất hiện của các khối u ác tính ở các bộ phận sinh dục nữ như: cổ tử cung, buồng trứng, nội mạc tử cung, âm hộ, âm đạo. UTSDD ở nữ gây nên bởi nhiều nguyên nhân như yếu tố di truyền, chế độ sinh hoạt và ăn uống. Thống kê từ Nghiên cứu chi phí điều trị ung thư tại các quốc gia Đông Nam Á, được tiến hành tại 8 quốc gia (Việt Nam chiếm 20% bệnh nhân) trong giai đoạn 2012-2014, cho thấy bệnh nhân ung thư Việt Nam hiện đang phải gánh chịu những hệ lụy tài chính nghiêm trọng và tỉ lệ tử vong cao lên đến 55% trong vòng 1 năm sau khi được chẩn đoán [1],[2].
Ngoài ra, bệnh nhân nữ UTSDD cũng chịu những ảnh hưởng nghiêm trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống như mệt mỏi, mất ngủ, rối loạn chức năng sinh học của cơ thể và ảnh hưởng nghiêm trọng liên quan đến chức năng sinh sản, sinh dục là những trở ngại lớn cho thiên chức làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ [3],[4],[5]. Tổ chức y tế thế giới đã định nghĩa "chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe" là những ảnh hưởng do một bệnh, tật hoặc một rối loạn sức khỏe của một cá nhân đến sự thoải mái và khả năng hưởng thụ cuộc sống của cá nhân đó [6],[7]. Theo định nghĩa này, kết quả điều trị bệnh không chỉ được xem xét dưới góc độ y khoa thuần túy mà còn dưới góc độ tâm lý, xã hội và kinh tế [8]. Ngày nay, để đo lường kết quả điều trị người ta sử dụng khái niệm "kết cục" [9] trong đó chất lượng cuộc sống (CLCS) cũng là một kết cục của điều trị.
Các phương pháp điều trị UTSDD mặc dù có thể loại bỏ khối u nhưng đều ít nhiều gây ảnh hưởng lên chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trong thời gian sống thêm sau điều trị [10],[11]. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng điều trị và kéo dài thời 2 gian sống thêm cho các bệnh nhân, thì CLCS của bệnh nhân ung thư cũng là một vấn đề ngày càng được quan tâm nhiều hơn, nhất là đối với đối tượng dễ bị tổn thương như những bệnh nhân nữ UTSDD. Nghiên cứu về CLCS cung cấp cho bệnh nhân những thông tin đầy đủ và toàn diện hơn về quá trình diễn tiến của bệnh cũng như tình trạng sức khỏe sau điều trị, qua đó nhân viên y tế có những giải pháp can thiệp (như lập kế hoạch tư vấn tâm lý, phục hồi chức năng,.) phù hợp giúp bệnh nhân thích nghi và hòa nhập với cuộc sống sau điều trị [8],[12]. Tuy nhiên, ở Việt Nam cho đến nay chưa có nghiên cứu nào được công bố về thực trạng CLCS của bệnh nhân nữ UTSDD cũng như thực hiện các can thiệp tâm lý cải thiện CLCS một cách có hệ thống cho những người bệnh này.
Vậy, thực trạng CLCS của bệnh nhân UTSDD đang điều trị tại bệnh viện tại Việt Nam như thế nào? Các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân nữ UTSDD là gì? Liệu rằng kết quả can thiệp lên bệnh nhân UTSDD có giúp cải thiện CLCS của họ hay không? Hiệu quả của can thiệp được chứng minh không chỉ giúp ích cho cải thiện CLCS của bệnh nhân nữ mắc ung thư sinh dục mà từ đó giúp hệ thống chăm sóc có các chính sách, hoàn thiện tổ chức nâng cao chất lượng dịch vụ [3],[13]. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng chất lượng cuộc sống, một số yếu tố liên quan của bệnh nhân nữ ung thư sinh dục và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại bệnh viện K Trung ương” với các mục tiêu như sau: 1. Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nữ bị ung thư sinh dục dưới tại bệnh viện K năm 2020. Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu trên 3.
Đánh giá hiệu quả của can thiệp hỗ trợ tâm lý cải thiện chất lượng cuộc sống và tình trạng căng thẳng của bệnh nhân nữ bị ung thư sinh dục dưới tại bệnh viện K năm 2021.1 Một số đặc điểm của ung thư sinh dục dưới 1.1 Định nghĩa ung thư Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích của các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển cơ thể [14].2 Các giai đoạn và điều trị của một số loại ung thư sinh dục dưới Việc phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm để có những biện pháp can thiệp phù hợp bằng phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị sẽ giúp người bệnh chữa khỏi hoàn toàn hoặc kéo dài sự sống [15]. Chẩn đoán giai đoạn là đánh giá sự phát triển, xâm lấn và lan tràn của ung thư bao gồm đánh giá tình trạng tại chỗ, tại vùng và tình trạng di căn. Chẩn đoán giai đoạn cần thiết cho 2 mục đích cơ bản. Thứ nhất, đối với người bệnh giúp đánh giá và tiên lượng bệnh để lựa chọn phác đồ điều trị tối ưu hóa.
Thứ hai, đối với đối với cơ sở điều trị việc chẩn đoán góp phần xác định phương hướng điều trị; bên cạnh đó còn so sánh và đánh giá các thông tin điều trị giữa các cơ sở y tế với nhau [15],[16],[17].1 Ung thư Cổ tử cung Ung thư CTC là loại ung thư phổ biến thứ tư ở phụ nữ sau ung thư vú, ung thư đại trực tràng và ung thư phổi. Năm 2018, thế giới có khoảng 570.000 ca mới mắc và 311 000 trường hợp tử vong vì căn bệnh này. Trong khi đó, xảy ra tỷ lệ điều trị khỏi phụ thuộc vào giai đoạn bệnh [18]. Theo kết quả nghiên cứu của Cecilia năm 2017 thì dưới 50% phụ nữ bị mắc ung thư cổ tử cung và sống sót khi được phát hiện ở giai đoạn sớm ở các nước thu nhập thấp.
Tỉ lệ này ở các nước thu nhập cao là 66% [19]. Với ung thư CTC ở giai đoạn chưa xâm lấn, chỉ định cắt bỏ là một trong những phương pháp tối ưu, tuy nhiên nó sẽ phù hợp với những phụ nữ đã lập gia đình và có con vì phương pháp này sẽ ảnh 4 hưởng lớn đến khả năng sinh con của người phụ nữ. Việc cắt bỏ một phần TC khiến phụ nữ sẽ không sinh được con, việc này ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống và chức năng sinh sản, sinh dục của người phụ nữ, đặc biệt là những người còn trẻ. Vì vậy, phát hiện sớm ung thư CTC là yếu tố quyết định đến tiên lượng sống và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Theo Ủy ban quốc tế Phòng chống Ung thư (UICC) và Hiệp hội Hoa Kỳ kiểm soát Ung thư (AJCC) ung thư CTC được phân giai đoạn FIGO [20] như sau: Bảng 1.1: Phân loại quốc tế về ung thư Cổ tử cung Giai Mô tả đoạn I Ung thư khu trú hạn chế ở CTC (sự mở rộng vào tử cung có thể không được để ý) IA Ung thư được chẩn đoán chỉ bằng kính hiển vi, với sự xâm nhập mô đệm ≤ 5 mm chiều sâu* IA1: Xâm nhập mô đệm được đo < 3 mm chiều sâu IA2: Xâm nhập mô đệm được đo ≥ 3 mm và < 5 mm chiều sâu IB Đo xâm lấn ≥ 5 mm (lớn hơn giai đoạn IA) với tổn thương giới hạn ở cổ tử cung. IB1: Thương tổn nhìn thấy trên lâm sàng có kích thước lớn nhất < 2 cm IB2: Thương tổn nhìn thấy lâm sàng có kích thước lớn ≥ 2 và < 4 cm IB3: Thương tổn ở kích thước lớn nhất ≥ 4 cm II Ung thư lan ra CTC nhưng chưa tới thành chậu. Ung thư tới cả âm đạo nhưng không qua 1/3 dưới IIA Giới hạn ở 2/3 trên của âm đạo mà không có tham số rõ ràng IIA1: Tổn thương lâm sàng có thể quan sát bằng mắt nhỏ hơn 4cm IIA1: Tổn thương lâm sàng có thể quan sát bằng mắt lớn hơn 4cm 5 IIB Xâm lấn vùng xung quanh cổ tử cung nhưng không đến khung chậu III Lan rộng tới thành khung chậu và/hoặc xâm lấn 1/3 dưới của âm đạo và/hoặc gây chứng ứ nước thận hoặc thận không còn chức năng IIIA Lan rộng tới 1/3 dưới của âm đạo nhưng không vào thành khung chậu IIIB Lan rộng tới thành khung chậu và/hoặc gây ứ nước thận hoặc thận mất chức năng IIIC† Liên quan đến các hạch bạch huyết vùng chậu và/hoặc cạnh động mạch chủ, bất kể kích thước và khối u (với các ký hiệu r và p)† IIIC1: Di căn đến hạch bạch huyết vùng chậu IIIC2: Hạch bạch huyết cạnh động mạch chủ ở trên thận IV Mở rộng ra ngoài khung chậu thật hoặc liên quan đến niêm mạc bàng quang hoặc trực tràng đã được chứng minh bằng sinh thiết IVA Phát triển lan vào các cơ quan lân cận vùng chậu IVB Phát triển vào các cơ quan xa * Nếu nghi ngờ giai đoạn, nên phân giai đoạn thấp hơn. Chẩn đoán hình ảnh và giải phẫu bệnh có thể sử dụng để bổ sung cho dấu hiệu lâm sàng khi xác định kích thước khối u và độ lan truyền ở tất cả các giai đoạn.
Độ sâu của tổn thương xâm nhập phải được đo từ màng đáy của biểu mô (bề mặt hoặc tuyến) từ nơi nó bắt đầu. Sự xâm lấn vào vùng mạch máu (tĩnh mạch hoặc bạch huyết) không nên làm thay đổi giai đoạn. Bên ngoài của tổn thương không còn được xem xét. Các loại hình ảnh hoặc kỹ thuật bệnh lý được sử dụng phải luôn luôn được ghi lại.2 Ung thư buồng trứng Ung thư buồng trứng (UTBT) là một trong bảy ung thư thường gặp ở phụ nữ.
Theo ước tính của GLOBOCAN 2020, khoảng 314.000 ca ung thư buồng 6 trứng mới và 207.000 ca tử vong vào năm 2020. Có sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ mắc bệnh theo địa lý, trong đó tỷ lệ cao nhất được quan sát thấy ở các nước châu Âu có HDI rất cao và tỷ lệ thấp được tìm thấy ở các nước châu Phi trong nhóm HDI thấp nhất [21].