Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA DE TÀI 1. Khái niệm công cụ 1. Chăm sóc giảm nhẹ và chăm sóc cuối đời Chăm sóc giảm nhẹ là cách tiếp cận giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và gia đình họ đối mặt với van đề liên quan đến bệnh đe dọa đến tính mạng, thông qua việc phòng ngừa và giảm đau bằng phương pháp xác định sớm và đánh giá hoàn hao và điều trị đau và các van đề khác, thé chất , tâm lý xã hội và tinh thần (WHO 2002) [21, tr.79] Chăm sóc giảm nhẹ là tìm cách ngăn chặn hoặc làm giảm đau — có thé là các triệu chứng đau về thé chat, tâm lý xã hội hay tinh thần và các triệu chứng có liên quan đến các bệnh nghiêm trọng. Các điều kiện có thể là cuộc sống hạn chế hoặc bệnh mãn tính (NASW Center For Workforce Studies and Social Work Practice 2010).
Chăm sóc giảm nhẹ đối với NBUT và người bệnh AIDS là phối hợp các biện pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh băng cách phòng ngừa, phát hiện sớm, điều trị đau và xử trí các triệu chứng thực thể, tư van và hỗ trợ giải quyết các vấn đề tâm lý - xã hội mà người bệnh và gia đình họ phải chịu đựng (Bộ Y tế 2006) Trong nghiên cứu này, CSGN được hiểu là hoạt động xoa dịu nỗi đau về mặt vật chất tinh thần cho NBUT ở bất cứ giai đoạn nào của bệnh. Còn chăm sóc cuối đời là “một hình thức của chăm sóc giảm nhẹ, tập trung vào hỗ trợ và tiện nghi vật chất vào giai đoạn cuối đời - nhìn chung được xác định như ở Mỹ là khoảng thời gian tiên lượng sống là 6 tháng hoặc it hơn” (NASW Center For Workforce Studies and Social Work Practice 2010) Như vậy, chăm sóc cuối đời diễn ra khi NB được tiên lượng thời gian sống không còn nhiều, các phương pháp chữa trị ở giai đoạn này không còn ý 17 nghĩa mà chủ yếu là chuẩn bị cho NB tâm thế đón nhận cái chết một cách nhẹ nhàng. CSGN là sự can thiệp toàn diện hon đối với NB từ việc kiểm soát đau đến việc giải quyết các vấn đề xã hội của NB như can thiệp khủng hoảng, sự tương tác giữa NB với gia đình họ, huy động nguồn lực dé giúp đỡ NB. Người bệnh ung thư Ung thư là tên dùng chung dé mô tả một nhóm các bệnh phản ánh những thay đổi về sinh sản, tăng trưởng và chức năng của tế bào.
Các tế bào bình thường trở nên bất thường (đột biến) và tăng sinh một cách không kiểm soát, xâm lấn các mô ở gần (xâm lấn cục bộ) hay ở xa (di căn) qua hệ thong bach huyết hay mach máu. Di căn là nguyên nhân gây tử vong chính của ung thư. Những thuật ngữ khác của ung thư là khối u ác tính hoặc tân sinh ác tính. Ung thư không chỉ là một bệnh mà là nhiều bệnh, có hơn 100 loại ung thư khác nhau[14, tr.79] Người bệnh ung thư trong khuôn khô nghiên cứu nay được hiểu là những người được chân đoán mắc bệnh ung thư ở bất cứ giai đoạn nào của căn bệnh.
Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư Bất cứ ai cũng có nhu cầu, nhu cầu của con người là vô hạn. Theo Maslow, nhu cầu được chia thành các thang bậc khác nhau từ những nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo thoả mãn của con người về mặt sinh lý đến những nhu cầu cao hơn là được thê hiện bản thân, được làm những việc hết khả năng của mỗi người. CSGN hướng tới chăm sóc NB một cách toàn diện ca về mặt thể chất lẫn tinh thần nhằm giảm đi các nỗi đau về thực thể mà căn bệnh gây ra và giải quyết các căng thăng tâm lý mà NB có thê gặp phải. Nghiên cứu này tìm hiểu về các nhu cầu của NBUT đang được CSGN là những nhu cầu của NB nảy sinh trong quá trình điều trị để giải toả về mặt tâm lý cũng như sinh lý.
Từ những nhu cầu cơ bản đó là ăn, ngủ được đến những nhu cầu 18 cao hơn như nhu cầu được nhìn nhận, được đánh giá cao. Thực tế, khi điều trị bệnh, NBUT sẽ gặp khó khăn trong việc chăm sóc bản thân, không thé sinh hoạt được một cách bình thường như khi chưa mắc bệnh. Và NBUT còn phải đối mặt với những van đề như chi phí điều trị, các hệ thống xung quanh bị xáo trộn — công việc, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiép,. Tóm lại, nhu cầu CSGN của NBUT là những nhu cau phát sinh trong quá trình điều trị của NB, những nhu cầu này để làm giảm đi nỗi đau về thực thể lẫn tinh thần của NB.
Hoạt động CTXH trong bệnh viện Công tác xã hội trong bệnh viện là các hoạt hoạt động hỗ trợ người bệnh, người nhà người bệnh và các nhân viên y tế trong bệnh viện nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và tâm lý liên quan đến bệnh tật và quá trình khám chữa bệnh. Mục đích là hỗ trợ các nhóm đối tượng khắc phục những khó khăn về xã hội dé đạt được hiệu quả chăm sóc sức khoẻ tốt nhất. Nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện là cầu nối dé giải quyết các mâu thuẫn giữa bệnh nhân và nhân viên y té, giữa bệnh nhân va bệnh nhân, bệnh nhân và người nhà bệnh nhan,. Do đó, công tác xã hội trong bệnh viện thực sự có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.
Công tác xã hội không đơn thuần chỉ là công tác từ thiện trong bệnh viện, như các bữa ăn, nồi cháo từ thiện cho bệnh nhân nghèo, tặng quà cho các bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn,. Ngoài ra, công tác xã hội trong bệnh viện là một nội dung hoạt động rất quan trọng trong quá trình chuyên nghiệp hoá lĩnh vực công tác xã hội, góp phần không nhỏ vào công cuộc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dan[9, tr. Lý thuyết nhu cau Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu câu cơ bản (basic needs) và nhu câu bậc cao (meta needs). 19 Nhu cầu co bản liên quan đến các yếu tổ thé lý của con người như mong muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ.Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tỒn tại trong cuộc sông hàng ngày.
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao. Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tổ tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân V. Theo Maslow nhu cầu con người thành 5 thang bậc từ thấp đến cao: - Nhu cầu cơ bản/sinh lý (basic needs): bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí đề thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,. - Nhu cầu an toàn: thường được khăng định thông qua các mong muốn về sự 6n định trong cuộc song, được song trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật,.Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần, hay các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này.
- Nhu cầu xã hội: nhu cầu này là nhu cầu mong muốn được thuộc về một bộ phận, một nhóm hay nhu cầu về tình cảm, tình yêu thông qua việc giao tiếp. - Nhu cầu về được tôn trong/ty trọng: thé hiện qua việc muốn được người khác quý mến, nề trọng thông qua các thành quả của bản thân. - Nhu cầu được thé hiện mình: nhu cầu của một cá nhân muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra đê làm”, nói một cách đơn 20 giản đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của minh dé tự khẳng định mình. Ứng dụng lý thuyết nhu cầu vào nghiên cứu, người nghiên cứu tìm hiểu được những nhu cầu dành cho NBUT, thứ tự ưu tiên của những nhu cầu đó.
Và nhà nghiên cứu hiểu được rằng NBUT có rất nhiều nhu cầu tuy nhiên ở điều kiện không gian điều trị, thời gian điều trị thì không phải nhu cầu nào cũng có thé giải quyết được. Từ đó, nhà nghiên cứu sẽ đề xuất và ưu tiên giải quyết nhu cầu (vấn đề) nào trước. Lý thuyết hệ thống Hệ thong là một tập hop các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau dé hoạt động thông nhất. Như vậy, hệ thong là một tập hợp các phần tử có quan hệ tương hỗ.
Những thay đổi của phần tử này trong hệ thống sẽ gây ra tác động tới các phần tử khác. Hệ thống: là bat cứ đơn vị, tô chức nào có những giới hạn xác định được với những bộ phận tương tác với nhau. Những đơn vị, tổ chức này có thé mang tính vật chất (như nhà cửa, các vật dụng hàng ngày.), mang tính xã hội (hệ thống gia đình, bạn bè, hàng xóm và những người làm việc cùng nhau.), mang tính kinh tế (những yếu tố liên quan đến tài chính, ngân sách và đầu tư.) hoặc mang tính lý luận (ý tưởng, lý thuyết.) NBUT là một nhân tố với nhiều hệ thống xung quanh như bệnh viện, gia đình của mỗi NB, chính sách,.Do vậy, ứng dụng lý thuyết hệ thống vào nghiên cứu, người nghiên cứu sẽ sắp xếp, tổ chức lại những thông tin thu thập được; xem xét mối quan hệ, nguồn lực hỗ trợ NBUT. Từ đó, người nghiên cứu sẽ đưa ra được các khuyến nghị giúp giải quyết được một số nhu cầu của NB ví dụ NVCTXH kết nối với các nhà hảo tâm dé hỗ trợ NBUT về mặt vật chat,.
Lịch sử chăm sóc giảm nhẹ Trong bài nghiên cứu “Study of the Developmental History on Hospice. Palliative Care and Need for Korean Medicine” cua tac gia Hae-chang Yoon và cộng sự [17, tr.78], tác giả đã cho thay lịch sử phát trién của CSGN ở một số nước trên thế giới. Khởi nguồn từ Vương quốc Anh năm 1967 sau đó không lâu lĩnh vực được lan rộng dan sang các quốc gia phát triển khác như My, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc.