Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về ung thư tuyến giáp 1. Giải phẫu Tuyến giáp nằm ở phần trước của cổ, phía trước các vòng sụn khí quản đầu tiên và hai bên thanh quản, giàu mạch máu, màu nâu đỏ, hình dạng thay đổi từ chữ U đến chữ H. Các phần của TG: thuỳ phải và thùy trái nối với nhau bởi eo tuyến.
Thuỳ tuyến có 3 mặt, 2 bờ và 2 cực. Mạch máu và tuyến giáp vùng cổ (nhìn thẳng) - Các mặt: Mặt ngoài hay mặt nông: được phủ bởi lớp nông là cơ ứcmóng và bụng trên của cơ vai–móng, lớp sâu là cơ ức giáp. Mặt trong liên quan tới 3 thanh quản, khí quản, thực quản, cơ khít hầu dưới, nhánh ngoài của TK thanh quản trên và với TK thanh quản quặt ngược. Mặt sau ngoài liên quan với bao cảnh.
- Các bờ: Bờ trước liên quan với nhánh trước của ĐM giáp trên. Bờ sau tròn, ở dưới liên quan với ĐM giáp dưới và ngành nối với nhánh sau của ĐM giáp trên, ở bờ sau có các tuyến cận giáp. - Các cực: Cực trên liên quan với ĐM giáp trên. Cực dưới, liên quan với bó mạch giáp dưới và ống ngực ở bên trái.
- Eo tuyến: Nằm vắt ngang khí quản, thường tách ra thuỳ tháp. Dọc theo bờ trên của eo tuyến có nhánh nối giữa hai ĐM giáp trên. - Bờ dưới có TM giáp dưới. Tuyến giáp được bọc trong bao mô liên kết mỏng, mỗi nang tuyến có một hàng tế bào biểu mô trụ, hình dạng phụ thuộc vào tình trạng hoạt động của tuyến.
Mỗi nang tuyến là một tiểu thuỳ tuyến. Như vậy TG có rất nhiều tiểu thuỳ. Mô liên kết nằm giữa các nang tuyến gọi là chất đệm [3]. Vị trí của các tuyến cận giáp và dây thanh quản - ĐM giáp trên: là động mạch lớn nhất, và là nhánh trước đầu tiên của động mạch cảnh ngoài (rất hiếm gặp ở chỗ phân đôi của động mạch cảnh 4 chung), sát ở cực trên của thuỳ tuyến.
Động mạch giáp trên đi xuống ở mặt bên thanh quản bị cơ vai móng và cơ giáp móng phủ lên, phân chia hoặc ở chỗ tiếp xúc với tuyến hoặc ở xa thành 3 nhánh: Nhánh trong đi xuống về phía trong của cực trên trước khi nối với nhánh cùng tên ở bờ trên của eo. Nhánh sau nối với nhánh cùng tên đi từ dưới lên. Nhánh ngoài nhỏ hơn, phân phối vào bề mặt trước ngoài của thuỳ [32]. - ĐM giáp dưới là nhánh của ĐM thân giáp cổ tách ra từ ĐM dưới đòn.
Các ĐM này có vòng nối dồi dào ở cùng bên và đối diện. - ĐM giáp đơn bắt nguồn từ cung ĐM chủ hoặc từ ĐM không tên đi vào bờ dưới của eo tuyến. - Các TM của tuyến giáp tạo nên các đám rối ở trên mặt tuyến và phía trước khí quản, đổ vào các TM giáp trên, giáp dưới và giáp giữa. Chỉ có TM giáp trên đi theo ĐM cùng tên.
TM giáp giữa từ mặt bên của tuyến, gần cực dưới, chạy ngang ra ngoài, đổ vào TM cảnh trong. TM giáp dưới bên phải đi xuống trước khí quản và đổ vào TM cánh tay đầu phải còn TM giáp dưới bên trái đi xuống dưới trước khí quản, qua cơ ức giáp đổ vào thân TM cánh tay đầu trái. Các TM giáp dưới có thể tạo thành đám rối TM trước khí quản. Tuyến giáp là một tuyến giàu các mao mạch bạch huyết, các mao mạch được phân bố bao quanh các nang giáp, kế cận với các tế bào C tiết calcitonin.
Mạng lưới mao mạch bạch huyết đổ về vùng dưới vỏ của tuyến giáp, sau đó chúng tập trung lại thành những ống góp nằm trong vỏ. Những ống góp có mối liên quan chặt chẽ với các tĩnh mạch ở vùng vỏ và chạy theo dẫn lưu của hệ tĩnh mạch của tuyến giáp. Những vị trí đi ra của chúng gồm: Hạch sau hầu bên, hạch cơ hai bụng, hạch Delphian, hạch máng cảnh, hạch chuỗi quặt ngược, hạch trước khí quản phía trên, phía bên và phía dưới của tuyến, đi theo mạch giáp trên, động mạch giáp dưới, tĩnh mạch giáp giữa và đám rối tĩnh mạch giáp dưới. Dẫn lưu bạch huyết vùng cổ Chặng đầu tiên của dẫn lưu bạch huyết gồm hạch Delphian, hạch khí thực quản và hạch trung thất trên.
Hạch cổ bên (hạch dọc tĩnh mạch cảnh, hạch cổ sau) thuộc chặng thứ hai của dẫn lưu bạch huyết tuyến giáp. Xuất phát từ bờ trên của eo giáp và từ bờ trên của thùy bên tuyến giáp, có từ 3 đến 6 mạch bạch huyết, chúng đi lên trên, phía trước thanh quản và đổ vào hạch cơ hai bụng [7]. Một số mạch có thể đi vào một hay nhiều hạch trước thanh quản (hạch Delphian) ngay trên eo giáp. Dẫn lưu bạch huyết chặng thứ hai đi vào vùng hạch cảnh cao hai bên hoặc đến hạch trước khí quản dưới tuyến giáp thông qua mạch bạch huyết đi từ hạch Delphian xuống mặt trước của tuyến giáp.
Những mạch bạch huyết dẫn lưu bạch huyết ở phần thấp của eo giáp và vùng trong dưới của thùy bên đi theo tĩnh mạch giáp dưới tận cùng ở hạch trước khí quản và hạch cánh tay đầu. Đối với những mạch bạch huyết xuất phát từ bờ ngoài của mỗi thùy thùy, phía trên, chúng đi lên trên cùng với động mạch và tĩnh mạch giáp trên; phía dưới, chúng đi theo động mạch giáp dưới. Giữa hai nhóm trên, một số mạch bạch huyết đi sang bên, ra trước hoặc phía sau bao cảnh đến đến chuỗi hạch tĩnh mạch cảnh trong. Hiếm khi, dẫn lưu bạch huyết của tuyến giáp đổ trực tiếp vào tĩnh mạch dưới đòn phải, tĩnh mạch cảnh hay ống ngực 6 mà không đi qua một hạch bạch huyết nào.
Những mạch bạch huyết phía sau xuất phát từ mặt dưới và mặt giữa của thùy và đổ vào chuỗi hạch dọc theo dây thần kinh thanh quản quặt ngược. Dẫn lưu bạch huyết sau đó có thể đi ngược xuống dưới vùng lân cận của tuyến ức, đi theo đường đi của tĩnh mạch vô danh [8]. Đại cương Ung thư tuyến giáp là bệnh hay gặp nhất trong ung thư các tuyến nội tiết (chiếm 92-95%) và chiếm 3,6% các bệnh ung thư nói chung. Theo GLOBOCAN 2018, ung thư tuyến giáp đứng thứ mười một trong tổng số các ca ung thư ở cả hai giới với khoảng 567.000 ca mới mắc hàng năm, đứng thứ năm trong tổng số các loại ung thư ở nữ giới và đứng thứ 15 trong số các loại ung thư ở nam giới.
UTTG gặp ở mọi lứa tuổi, tiên lượng tốt nhất 15-45 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1/2 - 1/3 [36]. Ung thư tuyến giáp được chia thành hai nhóm khác nhau về lâm sàng và tiên lượng, đó là ung thư tuyến giáp thể biệt hóa và ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa. Ung thư tuyến giáp thể biệt hóa tiến triển chậm, bệnh nhân thường đến viện ở giai đoạn chưa di căn xa, có thể phẫu thuật được và tiên lượng tốt. Ung thư tuyến giáp thể không biệt hóa tiến triển nhanh, bệnh nhân thường đến viện khi khối u và hạch đã xâm lấn rộng, không cắt bỏ được, di căn xa sớm và tiên lượng xấu.
Trong điều trị ung thư tuyến giáp, phẫu thuật đóng vai trò quan trọng nhất có tính chất quyết định đến kết quả điều trị. Trong trường hợp phẫu thuật cắt giáp toàn bộ, bệnh nhân có thể được điều trị I131 và hormone thay thế giúp bổ sung hormone tuyến giáp duy trì hoạt động của cả cơ thể và làm giảm nồng độ TSH giúp duy trì bệnh ổn định lâu dài. Xạ trị có vai trò bổ trợ đối với ung thư tuyến giáp không biệt hóa và ung thư tuyến giáp thể tủy. Tuy nhiên, hóa chất ít có vai trò trong điều trị ung thư tuyến giáp [22].
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ Hiện nay người ta chưa tìm thấy nguyên nhân rõ ràng trong cơ chế bệnh sinh ung thư tuyến giáp, hầu hết các nghiên cứu chỉ đưa ra các yếu tố nguy cơ. Một số các yếu tố nguy cơ sau có liên quan đến ung thư tuyến giáp: - Tiền sử xạ trị vùng cổ trước đó - Chế độ ăn thiếu iod - Tiền sử mắc các bệnh lý tuyến giáp mạn tính trước đó - Yếu tố gia đình - Yếu tố di truyền - Một số yếu tố nguy cơ khác 1. Triệu chứng lâm sàng Các triệu chứng ung thư tuyến giáp thường nghèo nàn, bệnh nhân thường đến khám vì u vùng cổ, hoặc tình cờ phát hiện qua siêu âm tuyến giáp. - Khàn tiếng do u chèn ép, xâm lấn dây thần kinh quặt ngược - Khó nuốt - Khó thở - Một số bệnh nhân đến viện vì các triệu chứng của di căn xa, qua thăm khám mới phát hiện được u tuyến giáp 1.
Triệu chứng cận lâm sàng - Chẩn đoán tế bào học: Là xét nghiệm cho kết quả nhanh, tương đối an toàn và có giá trị cao trong chẩn đoán với độ chính xác vào khoảng 90-95%. Chọc tế bào dưới hướng dẫn siêu âm giúp tăng độ nhậy, độ đặc hiệu của kết quả. - Siêu âm vùng cổ: Cho phép xác định vị trí, số lượng, kích thước, tính chất, xâm lấn của u tuyến giáp và hạch cổ. Hiện nay, việc sử dụng TIRADS đánh giá các khối u tuyến giáp khá phổ biến.
8 - Chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ vùng cổ - Xạ hình bằng I-131: Ít có ý nghĩa trong chẩn đoán xác định nhưng có ý nghĩa trong theo dõi sau điều trị và phát hiện tái phát, di căn - Một số xét nghiệm khác để đánh giá giai đoạn: Nội soi tai mũi họng; X-quang ngực thẳng; Siêu âm ổ bụng; PET/CT… 1. Chẩn đoán xác định Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng cơ năng, thăm khám lâm sàng một cách cẩn thận kết hợp với các phương thức cận lâm sàng trước mổ đặc biệt là siêu âm và chọc tế bào để có thái độ xử trí thích hợp. Ngoài ra, tổn thương đại thể trong mổ, mô bệnh học tức thì có vai trò quan trọng giúp phẫu thuật viên quyết định phương pháp phẫu thuật trong mổ. Chẩn đoán phân biệt Trước một khối u ở tuyến giáp, khi thăm khám lâm sàng cần phải phân biệt nang tuyến giáp đặc biệt khi u có vỏ canxi hóa cứng chắc, u tuyến nang, viêm tuyến giáp (thường lan tỏa cả hai thùy, đau khi thăm khám) và những trường hợp u hoặc hạch cổ xâm lấn vào tuyến giáp.
Chẩn đoán giai đoạn Đánh giá giai đoạn theo phân loại TNM phiên bản lần thứ tám AJCC 2017. Điều trị Phẫu thuật là phương pháp được lựa chọn đầu tiên đối với ung thư giáp trạng. Điều trị Iod 131 và liệu pháp nội tiết thường áp dụng cho loại ung thư biệt hóa.