CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình mắc ung thư trẻ em Ung thư ở trẻ em và thanh thiếu niên là không phổ biến, chiếm ít hơn 1% trong tất cả các trường hợp ung thư ở Hoa Kỳ. Trong năm 2019, ước tính có khoảng 11.060 trẻ em dưới 15 tuổi và 5.000 thanh thiếu niên từ 15 đến 19 tuổi ở Hoa Kỳ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Hầu hết ung thư ở trẻ em và thanh thiếu niên đều có thể điều trị thành công.
Từ năm 1970 đến năm 2016, số ca tử vong do ung thư ở trẻ em đã giảm đi hai phần ba. Tuy nhiên, ung thư vẫn là nguyên nhân đứng thứ hai gây tử vong ở trẻ em từ 1 đến 14 tuổi, chỉ sau tai nạn. Người ta ước tính trong năm 2019, có 1.190 trẻ em từ 1 đến 14 và 600 thanh thiếu niên từ 15 đến 19 tuổi tử vong do ung thư. Tỷ lệ sống 5 năm cho biết phần trăm trẻ em sống ít nhất 5 năm sau khi phát hiện ung thư, vào giữa những năm 1970, tỷ lệ sống 5 năm là 58%.
Ngày nay, nhờ các tiến bộ trong điều trị và các thử nghiệm lâm sàng, con số này tăng đến 83% [5],[26]. Phân loại ung thư trẻ em Các loại ung thư phổ biến ở trẻ em và thanh thiếu niên từ 0–16 tuổi gồm có bệnh bạch cầu, u não, ung thư hạch bạch huyết, u nguyên bào thần kinh và sarcoma [10],[27]. Bệnh bạch cầu là một loại ung thư máu hình thành do sự quá sản tế bào bất thường của tủy xương, đây chính là loại ung thư phổ biến nhất ở trẻ em. Ước tính cứ 4 trẻ mắc bệnh thì có gần 3 trẻ mắc bệnh bạch cầu thuộc dạng bạch cầu lympho cấp tính [20].
U não là những khối u bất thường phát triển bên trong hoặc xung quanh não. Khối u não không nhất thiết là ung thư và một số có thể lành tính. Dựa theo vị trí của khối u, việc điều trị có thể gây ra các tác dụng phụ hoặc làm suy giảm chức năng thần kinh của trẻ em, thanh thiếu niên trong thời gian dài [20]. U lympho là một bệnh ung thư ở hệ bạch huyết, xuất hiện khi tế bào hạch bạch huyết phát triển quá mức kiểm soát.
Bệnh được phân thành các nhóm: U lympho không Hodgkin và Hodgkin [20]. U nguyên bào thần kinh ở trẻ em do sự phát triển bất thường của các tế bào thần kinh chưa trưởng thành được gọi là nguyên bào thần kinh. Khối u đa số Thư viện ĐH Thăng Long 4 bắt nguồn từ các tuyến thượng thận trong ổ bụng. Bệnh này phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 5 tuổi [20].
Sarcoma là một bệnh ung thư phát triển trong xương, mô mềm như cơ hoặc các mô liên kết. Trẻ em có thể mắc phải nhiều dạng sarcoma khác nhau. Có hai nhóm bệnh chính là Ewing sarcoma và sarcoma xương, hai bệnh này chủ yếu phổ biến ở thanh thiếu niên đang dậy thì. Sarcoma cơ vân là loại sarcoma phổ biến nhất ở trẻ nhỏ và có thể xuất hiện ở bất kỳ bộ phận nào của cơ thể [20], [41].
Phương pháp điều trị ung thư 1. Phương pháp phẫu thuật trong điều trị ung thư - Mục đích của phương pháp phẫu thuật trong điều trị ung thư: Cắt bỏ khối u - Cách thức thực hiện phương pháp phẫu thuật trong điều trị ung thư: Người bệnh sẽ được gây mê và các bác sỹ ngoại sẽ thực hiện thủ thuật [11] [12]. Phương pháp xạ trị trong điều trị ung thư - Mục đích của phương pháp xạ trị trong điều trị ung thư: Sử dụng chùm tia có năng lượng cao tác động vào khối u giúp tiêu diệt và hạn chế sự phát triển của tế bào ung thư - Cách thức thực hiện phương pháp xạ trị trong điều trị ung thư: Tia xạ phát từ máy và chiếu vào cơ thể [11] [12]. Phương pháp hóa trị trong điều trị ung thư - Mục đích của phương pháp hóa trị trong điều trị ung thư: Sử dụng các loại chất hóa học để tiêu diệt các tế bào ung thư - Cách thức thực hiện phương pháp hóa trị trong điều trị ung thư: Thuốc có thể là dạng viên, hoặc tiêm, hoặc truyền.
Các liệu trình cũng được sắp xếp phù hợp để người bệnh có thời gian nghỉ ngơi trong các đợt điều trị [11] [12]. Phương pháp Sử dụng tế bào gốc Ghép tủy xương hoặc tế bào gốc máu ngoại vi. - Mục đích của phương pháp sử dụng tế bào gốc trong điều trị ung thư: Sử dụng tế bào gốc từ tủy xương hoặc từ máu, để thay thế các tế bào đã bị phả ủy do xạ trị/ hóa trị liều cao. - Cách thức thực hiện phương pháp sử dụng tế bào gốc trong điều trị ung thư: Tế bào gốc có thể tự thân hoặc từ người hiến.
Người hiến thường là người trong gia đình. Người bệnh sẽ nhận tế bào gốc bằng đường truyền tĩnh mạch [11] [12]. Liệu pháp hormoon trong điều trị ung thư - Mục đích của Liệu pháp hormoon trong điều trị ung thư: Đây là phương pháp tác dụng bổ sung, ngăn chặn và loại bỏ hormon khỏi cơ thể nhằm làm chậm hoặc ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư. - Cách thức thực hiện Liệu pháp hormoon trong điều trị ung thư: Liệu pháp này có thể sử dụng viên uống, tiêm hoặc qua miếng dán qua da.
Đôi khi có thể cần phẫu thuật cắt bỏ tuyến hormon liên quan [11] [12]. Liệu pháp miễn dịch hay còn gọi là liệu pháp sinh học trong điều trị ung thư. - Mục đích của liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư: Liệu pháp sinh học giúp tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể để chống lại ung thư. - Cách thức thực hiện liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư: Người bệnh có thể được uống thuốc, tiêm hoặc qua truyền tĩnh mạch [11] [12].4 Tác dụng không mong muốn khi điều trị ung thư - Các tác dụng ngoài ý muốn thường gặp ở những người bệnh đang điều trị ung thư, đặc biệt là chứng thiếu tế bào máu, tác dụng trên đường tiêu hóa, ly giải khối u và hội chứng giải phóng cytokine.
Người bệnh cũng có thể bị các tác dụng bất lợi do ung thư (ví dụ: trầm cảm, đau đớn). Xử lý tốt những tác dụng phụ này rất quan trọng vì điều này cải thiện chất lượng cuộc sống Giảm tế bào máu Giảm nồng độ trong máu của các tế bào hồng cầu (RBC), bạch cầu (WBC), đặc biệt là bạch cầu hạt và tiểu cầu là kết quả của các liệu pháp điều trị ung thư đa dạng có hệ thống, đặc biệt là các loại thuốc hóa trị liệu thông thường và xạ trị. Thiếu máu Giảm lượng hồng cầu thường thấy ở người bệnh ung thư. Giảm hồng cầu do ảnh hưởng trực tiếp của ung thư (đặc biệt là ung thư máu và tủy xương như ung thư bạch cầu, u lympho và đa u tủy) và do tác động của liệu pháp điều trị ung thư, đặc biệt là các loại thuốc điều trị ung thư thông thường (hóa trị).
Thiếu máu thường không cần điều trị. Một số người bệnh khuyến khích nên truyền hồng cầu, đặc biệt là những người bệnh có bệnh đi kèm như bệnh tim mạch xơ cứng động mạch. Những người bệnh khác khuyến khích tiếp nhận erythropoietin tái tổ hợp thay thế cho việc truyền hồng cầu. Một số dữ liệu cho thấy sử dụng erythropoietin có thể có tác dụng Thư viện ĐH Thăng Long 6 phụ đối với tiên lượng ung thư và gây huyết khối.
Các hướng dẫn về truyền hồng cầu và sử dụng erythropoietin hiện có sẵn, nhưng khuyến cáo có thể gây tranh cãi [29]. Giảm tiểu cầu Giảm mật độ tiểu cầu thường thấy ở bệnh nhân ung thư. Giảm tiểu cầu phát sinh từ ảnh hưởng trực tiếp của ung thư (đặc biệt là ung thư máu và tủy xương như là ung thư bạch cầu, u lympho và đa u tủy) và do tác động của liệu pháp điều trị ung thư, đặc biệt là các loại thuốc hóa trị liệu thông thường [30],[45]. Giảm bạch cầu Giảm mật độ bạch cầu hạt thường thấy ở bệnh nhân ung thư.
Giảm bạch cầu trung tính được coi là giảm số lượng bạch cầu trung tính trong máu xuống < 1500/mcL (< 1,5 × 109/L) ở bệnh nhân Da trắng và < 1200/mcL (< 1,2 × 10 9/L) ở những người có tổ tiên gốc Phi. Giảm bạch cầu hạt phát sinh do ảnh hưởng trực tiếp của ung thư (đặc biệt là ung thư máu và tủy xương như ung thư bạch cầu, u lympho và đa u tủy) và do tác động của liệu pháp điều trị ung thư, đặc biệt là các loại thuốc hóa trị liệu thông thường [30],[45]. Tác dụng trên đường tiêu hóa Các tác dụng phụ với đường tiêu hóa thường gặp ở người bệnh ung thư. Những tác động này có thể do chính bệnh ung thư gây ra, liệu pháp điều trị ung thư hoặc cả hai.
Chán ăn Chán ăn thường gặp ở người bệnh ung thư và có thể do ung thư trực tiếp gây ra hoặc do hậu quả của (các) liệu pháp điều trị ung thư. Mất hơn 10% trọng lượng cơ thể lý tưởng dự báo tiên lượng xấu. Cần cố gắng duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý. Đôi khi cần cung cấp dinh dưỡng một phần hoặc toàn bộ qua đường tĩnh mạch.
Người bệnh bị gián đoạn phẫu thuật đường tiêu hóa có thể cần ống dẫn thức ăn vào dạ dày. Các loại thuốc có thể làm tăng cảm giác thèm ăn bao gồm corticosteroid, megestrol acetate, steroid androgen và dronabinol. Liệu những loại thuốc này có làm giảm chứng biếng ăn tốt, giúp tăng cân, cải thiện chất lượng cuộc sống hay kéo dài thời gian sống hay không vẫn chưa rõ rang [30],[45]. 7 Táo bón Táo bón thường gặp ở bệnh nhân ung thư và thường trầm trọng hơn do thuốc opiods được sử dụng để điều trị đau [30],[45].
Bệnh tiêu chảy Hiện tượng tiêu chảy phổ biến sau hóa trị, sử dụng thuốc điều trị nhắm trúng đích, hoặc xạ trị, đặc biệt nếu như khu vực xạ trị bao gồm vùng bụng và/hoặc khung chậu. Tổn thương miệng Các tổn thương ở miệng như viêm và loét thường gặp ở những người bệnh đang điều trị bằng thuốc hóa trị và/hoặc xạ trị. Đôi khi những tổn thương này bị tác động bởi nhiễm trùng, thường là do Candida albicans. Viêm niêm mạc do xạ trị có thể gây ra đau và làm người bệnh không thể ăn uống đầy đủ, dẫn đến suy dinh dưỡng và giảm cân.
Buồn nôn và nôn Buồn nôn và nôn ói thường gặp ở người bệnh ung thư cho dù có đang điều trị ung thư hay không. Một số loại thuốc hóa trị có khả năng đặc biệt gây buồn nôn và nôn ói, bao gồm các loại thuốc chứa bạch kim như cisplatin và oxaliplatin.