ĐẶT VẤN ĐỀ Trong số các bệnh ung thư xuất hiện khắp thế giới, ung thư dạ dày chiếm 10% số trường hợp mới mắc và 12% tổng số tử vong do ung thư [3]. Theo ghi nhận ung thư tại Việt Nam năm 2010, ung thư dạ dày xếp hàng thứ 2 sau ung thư phổi ở nam, và đứng thứ 3 ở nữ sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung [3]. Một vấn đề ngày càng quan trọng trong ung thư học là đánh giá chất lượng cuộc sống và một số vấn đề về stress, lo âu và trầm cảm ở bệnh nhân ung thư. Chất lượng cuộc sống đặc th ở ung thư liên quan đến tất cả các giai đoạn của bệnh này.
Trên thực tế, đối với tất cả các loại bệnh nhân ung thư, công cụ chất lượng cuộc sống nói chung có thể được sử dụng để đánh giá tác động tổng thể của tình trạng sức khỏe của bệnh nhân đối với chất lượng cuộc sống của họ. Trong một số bệnh ung thư, chất lượng cuộc sống đã trở thành một điểm cuối quan trọng để so sánh các phương pháp điều trị trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng để ở những bệnh nhân này, các nghiên cứu lâm sàng ngày càng kết hợp chất lượng cuộc sống làm điểm cuối. Ngoài ra, khi đối diện với căn bệnh ung thư, người bệnh trải qua diễn biến tâm l rất phức tạp, nhiều trạng thái cảm xúc, từ lo sợ khi phát hiện bệnh, đến chán nản, bi quan và rất dễ rơi vào trạng thái trầm cảm do sợ hãi về điều trị hoặc tác dụng phụ của điều trị. Sự lo âu, sợ hãi có thể làm cho việc đối mặt với điều trị ung thư trở nên khó khăn hơn, nó cũng có thể làm bệnh nhân khó đưa ra các quyết định liên quan tới điều trị và chăm sóc [6], [10], [11], [12].
Ngày nay, với sự ra đời các thuốc mới, một số nghiên cứu về điều trị hóa chất bổ trợ sau phẫu thuật trong ung thư dạ dày đã cho thấy có vai trò nhất định trong việc hạ thấp tỷ lệ tái phát, cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân, làm giảm triệu chứng và làm tăng thêm thời gian sống sau phẫu thuật cho người bệnh [1], [2], [4], [7]. Các vấn đề ch nh của những người sống sót sau ung thư lâu dài là trong các lĩnh vực hỗ trợ xã hội/tình cảm, thói quen sức khỏe, quan điểm tinh thần/triết học về cuộc sống và các mối quan tâm về hình ảnh cơ thể. 2 Nhiều bằng chứng khoa học đã chỉ ra rối loạn stress, lo âu, trầm cảm và chất lượng cuộc sống thấp là vấn đề rất đáng lo ngại trên bệnh nhân ung thư [1], [11], [12], [13], [14]. Mong muốn cải thiện tình trạng stress, lo âu, trầm cảm và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư được coi như một phần quan trọng trong chiến lược chăm sóc và điều trị bệnh ung thư [32].
Một số tác giả cho rằng giảm thiểu stress, lo âu và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trong quá trình điều trị sẽ làm tăng sự tuân thủ điều trị bệnh nhân và cho họ sức mạnh để đối phó với các triệu chứng của ung thư [14],[18]. Do đó, chất lượng cuộc sống và đánh giá nó ngày càng trở nên quan trọng hơn trong chăm sóc sức khỏe [52]. Ở Việt Nam đã có nhiều các công trình nghiên cứu đánh giá về stress, lo âu, trầm cảm và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất. Tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào đánh giá được mức độ stress, lo âu, trầm cảm và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư dạ dày sau truyền hóa chất, mặc d , Viện ung thư - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 là nơi tiến hành hóa trị liệu cho rất nhiều bệnh nhân ung thư trên toàn quốc.
Nói cách khác, câu hỏi là thực trạng về stress, lo âu, trầm cảm và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư dạ dày sau truyền hóa chất ở khu vực này ra sao và có những yếu tố nào liên quan tới nó vẫn chưa được tìm hiểu th ch đáng. Vì vậy, nhóm nghiên cứu tiến hành nghiên cứu đề tài “Tâm lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư dạ dày sau truyền hóa chất tại viện ung thư - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108”, nhằm 2 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng stress, lo âu, trầm cảm và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư dạ dày sau truyền hóa chất tại Viện Ung Thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2021. Xác định một số yếu tố liên quan đến stress, lo âu, trầm cảm và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư dạ dày sau truyền hóa chất tại Viện Ung Thư, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2021.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học ung thƣ dạ dày 1. Tình hình ung thư dạ dày trên thế giới và trong nước Các nước có tỷ lệ mắc bệnh ung thư dạ dày (UTDD) cao thuộc vùng Đông Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc), Liên Xô cũ, Nam Mỹ, vùng Caribe, và Nam Âu. Các nước có tỷ lệ mắc bệnh thấp thuộc vùng Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan), Bắc Mỹ, Úc, và Châu Phi [131].
Tỷ lệ mắc UTDD còn tùy thuộc vào các yếu tố khác nhau bên cạnh yếu tố địa dư. Ung thư dạ dày thay đổi theo từng nước khác nhau ngay cả từng vùng khác nhau trong cùng một nước. Theo Parkin và cộng sự, các nước có tỷ lệ ung thư dạ dày cao khi tần suất gặp từ 30-80/100.000 dân như các nước thuộc v ng Đông Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc)., các nước có tỷ lệ trung bình khi tần suất gặp từ 16-19/100.000 dân như các nước Châu Âu và Nam Mỹ, và các nước có tỷ lệ thấp khi tần suất ung thư dạ dày từ 0- 15/100.000 dân như các nước Bắc Mỹ, Úc, và Châu Phi. Tần suất ung thư dạ dày thay đổi theo thời gian.
Ở Mỹ tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư dạ dày vào năm 1930 là 30/100.000 dân đối với nam; 22/100.000 dân đối với nữ, sau hơn 50 năm, tỷ lệ này giảm h n xuống còn 7,5/100.000 dân ở nam so với 3,7/100. Ở Pháp, tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư dạ dày vào năm 1954 là 54,8/100.000 dân ở nam so với 31,2/100.000 dân ở nữ, sau 20 năm, tỷ lệ này giảm xuống còn 28,6/100.000 dân ở nam so với 14,1/100. Trong nghiên cứu của khối các nước ASEAN (Association of Southeast Asian Nation) năm 2008 , theo Kimman và cộng sự, , tỷ lệ ung thư dạ dày mới phát hiện là 43.238 trường hợp và 35. Ung thư dạ dày 4 được xếp hàng thứ 7 trong các loại ung thư phổi, ung thư vú, ung thư gan và ung thư đại-trực tràng [77].
Tỷ lệ ung thư dạ dày cao nhất ở Việt Nam chiếm 24,4/100.000 dân ở nam so với 14,6/100. Tỷ lệ tử vong do ung thư dạ dày cũng cao nhất ở Việt Nam là 14/100.000 dân, tiếp theo Myanmar 9/100. Các nước có tỷ lệ tử vong t hơn khoảng bốn lần so với Việt Nam là Philippines 3,5/100.000, và Thái Lan 2,5/100.000, trong đó tỷ lệ ung thư dạ dày mới mắc khá thấp ở Thái Lan là 4,2/100.000 dân ở nam so với 3/100. Tỷ lệ ung thư dạ dày khác nhau t y theo từng v ng địa lý của các nước ASEAN do sự khác nhau về tỷ lệ nhiễm vi khuẫn H.pylori, trong đó hơn 60% ung thư dạ dày trên thế giới do nhiễm vi khuẩn này [49], [102], [104].
Ở Việt Nam ung thư dạ dày đang là một vấn đề y tế trong cộng đồng, đặc biệt là nam giới trên 40 tuổi, ước t nh mỗi năm có khoảng 15000- 20000 người mắc ung thư dạ dày [49]. Tại Hà Nội giai đoạn 1993-1995, theo Đoàn Hữu Nghị, tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ở nam chiếm 25,7/100.000 dân so với 12,5/100. Tại thành phố Hồ Ch Minh năm 1997, theo Nguyễn Chấn H ng và cộng sự, tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ở nam là 18,8/100.000 dân và ở nữ 7,3/100. Theo tài liệu của Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) năm 2008, tỷ lệ hiện mắc bệnh ung thư dạ dày ở người Việt Nam nói chung là 18,9/100.
Như vậy mỗi năm ước t nh có từ 15.114 người mắc bệnh, trong số này có từ 11.098 người tử vong do ung thư dạ dày [54]. Về phân bố UTDD ở Việt Nam, UTDD Hà Nội chiếm 33,2%, các tỉnh miền Trung 14% và ở Thành phố Hồ Ch Minh thấp hơn nhiều với 2,2% [17]. Trong khi đó ở Thừa Thiên Huế UTDD chiếm 14,7%% và đứng hàng thứ 2 trong tổng số các loại ung thư ở Huế [55]. 5 Tỷ lệ UTDD ở nam nhiều hơn nữ, ở hầu hết các báo cáo đã được công bố.
Bệnh t thấy ở lứa tuổi dưới 40, tỷ lệ UTDD tăng dần sau tuổi 40 và đạt đỉnh cao ở độ tuổi 70 [104]. Nhiều nghiên cứu về dịch tễ cho thấy tỷ lệ mắc UTDD cao thường xảy ra ở tầng lớp dân cư có điều kiện kinh tế xã hội thấp [3], [48]. Yếu tố nguy cơ của bệnh lý ung thư dạ dày Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (HP): nhiều tài liệu đã xác định vi khuẩn HP là nguyên nhân ch nh có thể gây viêm loét dạ dày, loạn sản, dị sản, từ đó làm tăng nguy cơ UTDD. Trong nghiên cứu của Nguyễn Xuân Vinh cho thấy nguy cơ mắc UTDD khi nhiễm HP là 5 lần và nếu nhiễm HP với kiểu gen CagA (cytotoxin-associated gen A) thì nguy cơ này còn cao hơn nữa, khoảng 10 lần.
Năm 1994, Tổ chức Y tế thế giới đã thông báo HP là yếu tố gây UTDD nhóm I. Tuy vậy, tỷ lệ nhiễm HP ở những bệnh nhân viêm dạ dày mãn (30-50%) và UTDD (80-97,6%) nếu có CagA và VagA (Vacuolating cytotoxin) dương t nh. Một số tác giả cho rằng con đường từ nhiễm HP đếnUTDD như sau: Nhiễm tr ng lâu dài HP gây ra viêm dạ dày mãn t nh, tiến triển theo hướng viêm dạ dày teo, chuyển sản ruột, loạn sản và cuối c ng là biến đổi ác t nh niêm mạc dạ dày [49]. Ngoài HP là yếu tố nguy cơ ch nh còn có các yếu tố nguy cơ khác làm tăng nguy cơ trở thành UTDD.
Viêm dạ dày mạn t nh: Quá trình viêm mạn t nh dạ dày kéo dài nhiều năm làm niêm mạc dạ dày thay đổi từ loạn sản đến dị sản và cuối c ng là ung thư. Viêm niêm mạc dạ dày mạn t nh thường do môi trường, độc tố hoặc vi khuẩn hay gặp ở v ng hang vị và thân vị.