Đánh giá bước đầu kết quả tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ cho bệnh nhân nữ mắc hội chứng mayer rokitansky kuster hauser

Bài viết đánh giá hiệu quả phương pháp tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé cho bệnh nhân Mayer-Rokitansky-Kuster-Hauser, mang lại kết quả khả quan.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

75
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU VÀ HÌNH THÁI CỦA HỆ SINH DỤC NỮ

3. HỘI CHỨNG MAYER – ROKITANSKY– KUSTER – HAUSER

3.1. Đặc điểm lâm sàng

3.2. Đặc điểm cận lâm sàng

4. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

4.1. Các phương pháp điều trị không phẫu thuật

4.1.1. Phương pháp của Frank

4.1.2. Phương pháp của Ingram

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser (MRKH) là một dị tật bẩm sinh nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ sinh dục nữ. Bệnh nhân mắc hội chứng này thường không có âm đạo hoặc tử cung, dẫn đến khó khăn trong quan hệ tình dục và khả năng sinh sản. Theo thống kê, tỷ lệ mắc hội chứng này là 1/5000 phụ nữ. Việc điều trị hội chứng MRKH hiện nay đã có nhiều phương pháp, trong đó phẫu thuật tạo hình âm đạo là một lựa chọn phổ biến. Kỹ thuật phẫu thuật này không chỉ giúp tạo hình khoang âm đạo mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Tuy nhiên, việc lựa chọn vật liệu ghép phù hợp vẫn là một thách thức lớn trong lĩnh vực này. Nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả bước đầu của phương pháp tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ, một kỹ thuật mới tại Việt Nam.

II. Đặc Điểm Giải Phẫu và Hình Thái của Hệ Sinh Dục Nữ

Hệ sinh dục nữ bao gồm các cơ quan sinh dục trong và ngoài, với âm đạo là một phần quan trọng. Âm đạo có chiều dài khoảng 7-10 cm, được lót bởi lớp biểu mô lát tầng không sừng hóa. Cấu trúc mô học của âm đạo bao gồm ba lớp: niêm mạc, cơ và mô liên kết. Lớp niêm mạc có vai trò quan trọng trong việc duy trì độ pH và ngăn ngừa nhiễm trùng. Đặc biệt, lớp cơ giúp âm đạo có khả năng co giãn, tạo điều kiện cho hoạt động tình dục. Việc hiểu rõ cấu trúc và chức năng của âm đạo là cần thiết để đánh giá hiệu quả của các phương pháp tạo hình âm đạo. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc sử dụng mảnh ghép môi bé âm hộ, một vật liệu có đặc điểm mô học tương tự với niêm mạc âm đạo.

III. Hội Chứng Mayer Rokitansky Küster Hauser

Hội chứng MRKH được chia thành hai thể: thể điển hình và thể không điển hình. Bệnh nhân thường gặp khó khăn trong quan hệ tình dục và vô sinh. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm không có kinh nguyệt và âm đạo ngắn. Chẩn đoán hội chứng này thường dựa vào hình ảnh cộng hưởng từ (MRI), giúp xác định cấu trúc âm đạo và tử cung. Việc phát hiện các dị tật bẩm sinh đi kèm là rất quan trọng, vì tỷ lệ dị tật này có thể lên đến 34,2%. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân MRKH, từ đó hỗ trợ trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

IV. Các Phương Pháp Điều Trị

Điều trị hội chứng MRKH có thể chia thành hai nhóm chính: phương pháp không phẫu thuật và phẫu thuật. Phương pháp không phẫu thuật như nong âm đạo có thể mang lại kết quả nhất định nhưng thường không bền vững. Phẫu thuật tạo hình âm đạo, đặc biệt là kỹ thuật Abbe-McIndoe, đã được áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, việc lựa chọn vật liệu ghép vẫn là một vấn đề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng. Mảnh ghép môi bé âm hộ được xem là một lựa chọn tiềm năng, với ưu điểm về tính thẩm mỹ và khả năng tương thích mô học. Nghiên cứu này sẽ đánh giá hiệu quả của phương pháp này trong việc tạo hình âm đạo cho bệnh nhân MRKH.

V. Đánh Giá Kết Quả Sau Phẫu Thuật

Đánh giá kết quả sau phẫu thuật là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Các chỉ số như tình trạng sẹo, độ co giãn của âm đạo và khả năng sinh lý sẽ được xem xét. Kết quả sẽ được so sánh với các phương pháp điều trị khác để xác định tính hiệu quả và an toàn của kỹ thuật tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ. Việc thu thập dữ liệu từ bệnh nhân sẽ giúp cung cấp cái nhìn tổng quan về tình trạng sức khỏe tâm lý và thể chất của họ sau phẫu thuật. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mà còn góp phần vào việc phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn trong tương lai.

01/02/2025
Đánh giá bước đầu kết quả tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ cho bệnh nhân nữ mắc hội chứng mayer rokitansky kuster hauser

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng Mayer – Rokitansky – Kuster – Hauser (MRKH) là một dị tật bẩm sinh được đặc trưng bởi sự bất toàn của các cấu trúc xuất phát từ củ Muller dẫn đến việc bệnh nhân không thể quan hệ tình dục đường âm đạo cũng như không thể mang thai. Nguyên nhân gây hội chứng MRKH vẫn chưa thực sự rõ ràng. Cứ khoảng 5000 phụ nữ thì sẽ có 1 người mắc hội chứng MRKH [5]. Trên thế giới, ca bệnh đầu tiên được mô tả bởi Realdus Columbus năm 1572 và đến năm 1817 ca bệnh đầu tiên được điều trị bởi Dupuytren.

Hiện nay, điều trị hội chứng MRKH đã có nhiều sự lựa chọn bao gồm phương pháp không phẫu thuật và phương pháp phẫu thuật. Trong số các phương pháp phẫu thuật điều trị tật không âm đạo, kĩ thuật của Abbe´– McIndoe là phổ biến nhất. Cả kỹ thuật nguyên bản và kĩ thuật sửa đổi đều có nguyên lý chung là tạo ra khoang âm đạo mới tại ngách bàng quang-trực tràng, sau đó lót khoang bằng vật liệu ghép phù hợp [37]. Trong kỹ thuật này, có nhiều vật liệu đã được lựa chọn để che phủ khoang âm đạo mới như vạt da, màng ối, đoạn ruột, niêm mạc miệng, mô âm đạo nuôi cấy in vitro và một số vật liệu sinh học nhân tạo khác như vật liệu cellulose oxy hóa hay hạ bì da nhân tạo [47].

Tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, phẫu thuật tạo hình âm đạo cho bệnh nhân mắc hội chứng MRKH vẫn còn là một lĩnh vực rất mới. Tạo hình âm đạo tại Việt Nam lần đầu được thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ năm 1976 bằng cách sử dụng phương pháp ghép mảnh da tự thân cho kết quả khá tốt. Về sau những nghiên cứu đầu tiên trong nước đánh giá kết quả tạo hình âm đạo lần lượt được công bố bao gồm nghiên cứu của Nguyễn Thu Hằng năm 2009 sử dụng vạt thẹn, nghiên cứu của GS.TS Trần Thiết Sơn năm 2012 sử dụng niêm mạc miệng tự thân và Nguyễn Thị Thu Trang tiếp tục nghiên cứu về niêm mạc miệng tự thân trong tạo hình âm đạo năm 2016. Nhìn chung, mỗi phương pháp đều không tránh khỏi những biến chứng.

Với các vạt da cuống liền mà phổ biến là vạt thẹn có nguy cơ mọc lông, để lại sẹo lồi, sẹo co kéo, sẹo dễ thấy nơi cho gây mất thẩm mĩ. Niêm mạc miệng là vật liệu tương đồng với biểu mô khoang âm đạo nhưng hạn chế là số lượng lấy được không nhiều và vẫn có nguy cơ tổn thương khoang miệng, tuyến nước bọt và các cấu trúc khoang miệng. Như vậy, mặc dù có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề tạo hình âm đạo nhưng vẫn chưa có kết luận nào về phương pháp và vật liệu tối ưu nhất do mỗi vật liệu đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. 1 Tại khoa Phẫu Thuật tạo hình thẩm mĩ và hàm mặt, Bệnh viện E Hà Nội, dựa trên những kinh nghiệm và hiểu biết đã có, chúng tôi mong muốn tìm ra một vật liệu lót khoang âm đạo mới khắc phục được những nhược điểm của các vật liệu đã được sử dụng phổ biến trước đó.

Môi bé âm hộ có đặc điểm mô học tương đối giống với niêm mạc âm đạo bình thường, có thể thu thập dễ dàng và đảm bảo tính thẩm mỹ cho bệnh nhân. Tuy nhiên các dữ liệu về hiệu quả giải phẫu và chức năng sinh lý của phẫu thuật tạo hình âm đạo sử dụng môi bé âm hộ trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hiện nay là rất hạn chế. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá bước đầu kết quả tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ cho bệnh nhân nữ mắc hội chứng Mayer – Rokitansky – Kuster – Hauser” với hai mục tiêu chính: - Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các bệnh nhân nữ mắc hội chứng Mayer – Rokitansky – Kuster – Hauser phẫu thuật tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép môi bé âm hộ. - Đánh giá bước đầu kết quả sau phẫu thuật tạo hình âm đạo bằng mảnh ghép niêm bé âm hộ.

ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU VÀ HÌNH THÁI CỦA HỆ SINH DỤC NỮ Hệ sinh dục nữ bao gồm các cơ quan sinh dục trong và ngoài. Cơ quan sinh dục trong bao gồm buồng trứng, vòi tử cung hay ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo và các cơ quan bên ngoài gồm âm vật và tập hợp các thành phần gò mu, môi lớn, môi bé, tiền đình âm đạo gọi chung là âm hộ [60, 3]. Cơ quan sinh dục nữ trên thiết đồ đứng dọc của chậu hông [60]. Cơ quan sinh dục trong 1.

Âm đạo Âm đạo là một ống xơ cơ đàn hồi có chiều dài khoảng 7-10 cm có khả năng giãn nở đáng kể, được lót bên trong bởi một lớp biểu mô lát tầng không sừng hóa, trải dài từ tiền đình âm đạo đến tử cung. Thành trước âm đạo liên quan với đáy bàng quang ở phía trên và niệu đạo ở dưới. Thành sau âm đạo ngăn cách với trực tràng bởi túi cùng Douglas. Đầu trên âm đạo bám vào cổ tử cung và cùng với phần âm đạo của cổ tử cung tạo thành vòm âm đạo.

Xung quanh đầu dưới âm đạo có hành tiền đình và cơ hành xốp có vai trò như là một cơ thắt âm đạo. Ở nữ giới chưa quan hệ tình dục, đầu dưới thường được đậy bằng một màng niêm mạc thủng (màng trinh). Bình thường, trục của âm đạo và tử cung tạo với nhau một góc 90°. Cấu trúc mô học ống âm đạo Thành âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp [1, 55]: 3 + Trong cùng là lớp niêm mạc với nhiều nếp gấp ngang được lợp bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa và được bao phủ bởi một lớp chất nhày do tuyến cổ tử cung và một phần các tuyến ở tiền đình âm đạo tiết ra.

Estrogen thúc đẩy việc tích trữ glycogen ở lớp giữa và lớp trên của biểu mô. Khi các tế bào biểu mô già cỗi và bong ra, glycogen được giải phóng và chuyển hóa bởi vi khuẩn tạo ra axit lactic giúp làm giảm độ pH trong lòng ống và ức chế sự phát triển của mầm bệnh. Về lớp đệm, mô liên kết dưới biểu mô tạo thành các nhú chân bì và chia thành 2 lớp. Lớp sát với biểu mô có nhiều tế bào liên kết, lớp sát với thớ cơ chứa nhiều tĩnh mạch, sợi chun.

Các tế bào lympho và bạch cầu (chủ yếu là bạch cầu trung tính) có mặt trong mô liên kết. Rải rác có những nang bạch huyết. Âm đạo có một số đầu tận của thần kinh cảm giác, nhiều hơn ở 1/3 dưới âm đạo. Không có tuyến ở lớp đệm.

+ Lớp giữa là lớp cơ, được chia thành 2 thớ, cơ dọc ở ngoài và cơ vòng ở trong. Lớp cơ ngoài tiếp nối với lớp tương đương của tử cung và dày hơn nhiều so với lớp trong. + Lớp ngoài cùng gồm một lớp mô liên kết dày đặc bên trong và một lớp mô liên kết lỏng lẻo bên ngoài. Lớp mô liên kết bên trong chứa nhiều sợi chun giúp tăng khả năng chun giãn của thành âm đạo.

Lớp bên ngoài chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết, và thần kinh. Biểu mô lát tầng không sừng hóa Lớp đệm Lớp cơ vòng Lớp cơ dọc Hình 1. Cơ quan sinh dục nữ trên thiết đồ đứng dọc của chậu hông [55]. Các tế bào trong biểu mô lát tầng không sừng hóa thường sáng màu do có nhiều glycogen trong tế bào chất của chúng.

Lớp đệm được nhận biết bởi sự phong phú của các mạch máu thành mỏng. Mạch máu và thần kinh của âm đạo Động mạch âm đạo là các nhánh âm đạo tách từ động mạch tử cung, động mạch trực tràng giữa và động mạch chậu trong. Tĩnh mạch âm đạo tạo thành 1 đám rối nối với đám rối tĩnh mạch tử cung ở trên, đám rối tĩnh mạch bàng quang ở trước và sau cùng đổ vào tĩnh mạch chậu trong. Bạch mạch âm đạo: đổ vào chuỗi hạch động mạch tử cung hoặc chuỗi động mạch âm đạo rồi đổ vào các hạch chậu.

Thần kinh: gồm các nhánh tách ra từ đám rối hạ vị. Tử cung và vòi tử cung Tử cung nằm giữa chậu hông bé, giữa bàng quang và trực tràng, thông với các vòi tử cung ở trên và liên tiếp với âm đạo ở dưới. Tử cung là một cơ quan rỗng, hình quả lê, là nơi trứng làm tổ, chứa đựng và nuôi dưỡng thai nhi cho tới khi ra đời. Tử cung được chia làm hai phần là thân tử cung tạo nên 2/3 trên và cổ tử cung chiếm 1/3 dưới.

Khoang rỗng bên trong tử cung là một khoang hẹp, được chia thành buồng tử cung và ống cổ tử cung. Thành tử cung gồm 3 lớp: lớp phúc mạc, lớp cơ và lớp niêm mạc. Âm đạo bám quanh cổ tử cung, chia cổ tử cung thành phần trên âm đạo và phần âm đạo. Các dây chằng rộng, dây chằng tròn, dây chằng cổ tử cung là những phương tiện neo giữ tử cung tại chỗ.

Nguồn cấp máu chính cho tử cung là động mạch tử cung. Có 2 vòi tử cung, mỗi vòi dài khoảng 10 cm, nằm ở hai bên tử cung, trong bờ trên của dây chằng rộng. Vòi tử cung có đầu trong đi vào góc trên ngoài của buồng tử cung và đầu ngoài mở ra ổ phúc mạc. Từ ngoài vào trong, vòi được chia làm 4 phần là phễu vòi, bóng vòi, eo vòi và phần tử cung.

Phần đầu vòi có các tua vòi gắn vào buồng trứng có tác dụng bắt trứng rụng và dẫn trứng vào trong buồng tử cung. Buồng trứng Ở phụ nữ chưa sinh nở, buồng trứng nằm ở phía sau và dưới phần ngoài vòi tử cung. Buồng trứng có hình hạt đậu dẹt, khoảng 3 cm chiều dài, 1,5 cm chiều rộng và 1 cm chiều dày. Đầu trên của buồng trứng là nơi bám của tua buồng trứng của vòi tử cung.

Lớp ngoài của buồng trứng gọi là lớp vỏ, có chứa nang noãn, có chất đệm bao quanh. Lớp giữa là tuỷ của buồng trứng, cuống phía trong của buồng trứng có những mạch máu vào thần kinh đi vào. 5 Buồng trứng của người phụ nữ tương đương với tinh hoàn của nam giới, bên cạnh việc chứa nang noãn nó còn sản sinh ra một số hormone, chủ yếu là estrogen, progesteron. Cơ quan sinh dục ngoài Cơ quan sinh dục ngoài của nữ bao gồm âm hộ và âm vật.

Cơ quan sinh dục ngoài của nữ [31]. Âm hộ Âm hộ gồm gò mu, môi lớn, môi bé và tiền đình âm đạo. - Gò mu: Một gò nhô lên liên tiếp với thành bụng phía trên và nếp lằn bẹn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá kết quả tạo hình âm đạo cho bệnh nhân hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và kết quả của phẫu thuật tạo hình âm đạo cho những bệnh nhân mắc hội chứng này. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về hội chứng Mayer-Rokitansky-Küster-Hauser mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe tâm lý và thể chất cho những người phụ nữ này.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các phương pháp điều trị khác trong lĩnh vực y tế, hãy tham khảo bài viết "Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật điều trị hội chứng hẹp khe mi sụp mi nếp quạt ngược", nơi bạn có thể khám phá thêm về các kỹ thuật phẫu thuật khác. Ngoài ra, bài viết "Luận án tạo hình tai nhỏ bằng kỹ thuật nagata có cải tiến" cũng sẽ cung cấp cho bạn những thông tin bổ ích về các phương pháp tạo hình trong y học. Cuối cùng, bài viết "Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng vạt cơ trán trong điều trị sụp mi mức độ vừa và nặng" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ứng dụng của các vạt cơ trong phẫu thuật thẩm mỹ. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp điều trị và cải thiện hình thức trong y học.