ĐẶT VẤN ĐỀ Tai nhỏ là dị dạng bẩm sinh của tai ngoài, được xếp vào nhóm dị dạng sọ mặt, có thể xuất hiện độc lập hoặc kết hợp với dị dạng khác của tai như teo hẹp ống tai ngoài, dị dạng tai giữa, tai trong và phối hợp với các dị dạng sọ mặt như hội chứng Golderhan, Treacher Collin,… [60]. Theo một nghiên cứu đa trung tâm ở nhiều quốc gia vào năm 2011, Luquetti ghi nhận tỉ lệ trung bình 2,1/10000 trẻ sinh ra có dị dạng tai nhỏ, tỉ lệ này dao động từ 0,83/10000 – 17,4/10000 tùy vào mỗi vùng địa lý của từng quốc gia [61]. Trong đó dị dạng tai nhỏ một bên chiếm từ 71 – 91% và dị dạng cả hai tai chiếm từ 9 – 21% [65]. Tại Việt Nam chưa có báo cáo chính thức về tỉ lệ dị dạng tai nhỏ trong cộng đồng.
Dị dạng tai nhỏ không chỉ ảnh hưởng đến khả năng nghe mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý, hành vi của trẻ như: lo lắng, thiếu tự tin, trầm cảm, để tóc dài che phủ tai, không muốn soi gương, ít giao tiếp xã hội. Ngoài ra dị dạng tai nhỏ còn gây khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày như mang kính, khẩu trang, trang sức… Hiện nay có nhiều lựa chọn trong kỹ thuật tạo hình tai nhỏ như tai giả, tạo hình từ sụn sườn tự thân hay sử dụng chất liệu nhân tạo Medpor. Trong những năm gần đây kỹ thuật nuôi cấy tế bào tạo khung sụn vành tai cũng được quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, kỹ thuật tạo hình tai nhỏ bằng sụn sườn tự thân vẫn được các phẫu thuật viên ưu tiên lựa chọn với tỉ lệ hơn 91,3% [45], [59].
Tạo hình tai nhỏ bằng sụn sườn tự thân được Tanzer bắt đầu thực hiện từ năm 1959 với 5 thì phẫu thuật, đến năm 1974 tác giả Brent cải tiến thành kỹ thuật 4 thì. Giữa thập niên 1980, Nagata đã thực hiện kỹ thuật tạo hình tai 2 nhỏ 2 thì với những ưu điểm vượt trội so với những kỹ thuật trước đó bao gồm tạo khung sụn vành tai có cấu trúc 3 chiều và nâng vành tai có sử dụng sụn chêm và mảnh ghép da mỏng được lấy vùng chẩm che phủ sau tai nhằm làm tăng độ nhô vành tai. Tuy nhiên, trong kỹ thuật của Nagata, còn tồn tại một số khuyết điểm: tuổi phẫu thuật muộn; mất tóc vùng chẩm, tỉ lệ hoại tử mảnh ghép da mỏng cao và gây sẹo co rút làm giảm độ nhô vành tai [89], [101]. Vì những lí do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tạo hình tai nhỏ bằng kỹ thuật Nagata có cải tiến” với mục tiêu nghiên cứu như sau: 1.
Khảo sát các đặc điểm của sụn sườn liên quan đến kỹ thuật tạo hình khung sụn vành tai. Đánh giá hiệu quả của vạt da – cân thái dương đỉnh và vạt da sau tai trong kỹ thuật nâng vành tai kiểu hai vạt. Đánh giá kết quả của phẫu thuật tạo hình tai nhỏ bằng kỹ thuật Nagata có cải tiến. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU Vành tai thuộc bộ phận tai ngoài, giúp con người định hướng nguồn phát âm và dẫn truyền âm thanh vào tai giữa nhờ vị trí và cấu trúc đặc biệt của nó. Vị trí vành tai Vành tai gồm một đôi nằm về hai bên của đầu, phía trước xương chũm, phía sau ngành lên xương hàm dưới, phía dưới vùng thái dương và phía trong liên tục với ống tai ngoài. EB: chân mày; NB: nền mũi; AO: khoảng cách chỗ bám gờ luân đến bờ ngoài ổ mắt; OS: chỗ bám của gờ luân; OI: chỗ bám của dái tai; SB: trục phía trước của vành tai (đi qua OS và OI); AA: trục vành tai; NL: trục của sống mũi. Vị trí vành tai “Nguồn: Hilko Weerda, 2007” [99] 4 Gi i h n của vành tai - Phía trên: nằm trên đường thẳng kẻ ngang qua cung mày.
- Phía dưới: nằm trên đường thẳng kẻ ngang qua nền mũi. - Trục vành tai là đường thẳng đi qua điểm cao nhất của gờ luân đến bờ trước của dái tai và song song với trục sống mũi. - Trục phía trước vành tai trùng với bờ sau ngành lên xương hàm dưới. Giải phẫu vành tai Hình dáng ngoài vành tai là nét đặc trưng của mỗi cá nhân, đó là do kết cấu đặc biệt của những gờ, rãnh và hõm trên vành tai cùng với cấu trúc da bao phủ và sụn bên dưới giúp tai có thể thu nhận âm thanh từ nhiều phía [9], [10], [12].
Hình dạng vành tai Vành tai có dạng phễu bao gồm hai mặt và một chu vi, hình dạng của vành tai được quyết định bởi khung sụn bên dưới ngoại trừ phần dái tai. Hầu hết hai vành tai ở người không hoàn toàn giống nhau. - Mặt trước vành tai (mặt ngoài) Xoăn tai có dạng lõm ở giữa mặt trước vành tai gồm hõm xoăn, rãnh xoăn liên tục với phần ống tai sụn và được bao bọc bởi gờ luân, gờ đối luân, bình tai và gờ đối bình tai. Gờ luân tạo nên chu vi của vành tai, bắt đầu từ xoăn tai đến dái tai.
Trên gờ luân đôi khi có củ vành tai (củ Darwin) là di tích của đỉnh vành tai ở động vật. Gờ đối luân gần như song song với gờ luân, giữa hai gờ này là hõm thuyền. Đầu trên của gờ đối luân chia thành trụ trên và trụ dưới, ôm quanh hõm tam giác và đầu dưới liên tục với gờ đối bình tai. 5 Bình tai có hình tam giác ở phía trước xoăn tai và che phủ một phần ống tai ngoài.
Gờ đối bình đối diện với bình tai và cách bình tai bởi khuyết gian bình. - Mặt sau vành tai (mặt trong) Có hình dáng lồi và lõm tương phản với mặt trước vành tai bao gồm: lồi của xoăn tai, lồi của hõm tam giác và khuyết của gờ đối luân. - Dái tai ở vị trí thấp nhất của vành tai tiếp giáp với gờ luân, bình tai và gờ đối bình tai, là cấu trúc duy nhất trên vành tai không có sụn mà chỉ có mô sợi và mô mỡ được da bao phủ. Hình dạng vành tai “Nguồn: Henderson, 2015” [54] 1.
Cấu tạo vành tai Vành tai bao gồm một khung sụn chun có độ dày khoảng 1 – 3mm được da bao phủ xung quanh và có hai mặt: mặt trước có lớp da dày khoảng 0,8 – 1,2mm bám chặt vào màng sụn, da mặt sau dày khoảng 1,2 – 3mm và có thêm lớp mỡ đệm nằm giữa da và màng sụn giúp lớp da này di động tốt hơn [11]. Cấu trúc mô học vành tai “Nguồn: Hilko Weerda, 2007” [99] Khung sụn vành tai có cấu trúc 3 chiều gồm ba tầng sụn nằm trên các mặt phẳng khác nhau, xoắn vặn một cách tinh tế hình thành nên điểm đặc trưng của vành tai. Các tầng sụn đó là: tầng gờ luân, tầng gờ đối luân và tầng xoăn tai [18]. Gờ đối luân; 4.
Tầng gờ luân; b. Tầng gờ đối luân; c. Tầng xoăn tai Hình 1. Các tầng của khung sụn vành tai “Nguồn: Furnas D.
Cấu trúc cố định vành tai Vành tai được cố định vào mặt ngoài xương thái dương hai bên nhờ liên tục với sụn ống tai ngoài, phần ống tai này dính chặt vào phần nhĩ của xương thái dương và có hệ thống cơ, dây chằng bám xung quanh. - Cơ ngoại lai là cơ bám da gồm có cơ tai trước, cơ tai sau và cơ tai trên. - Các dây chằng ngoại lai gồm có: dây chằng tai trước, dây chằng tai sau và dây chằng tai trên. - Cơ nội tại gồm có: cơ nhĩ luân lớn, cơ nhĩ luân bé, cơ bình tai, cơ đối bình tai, cơ ngang tai, cơ chéo tai, cơ tháp tai và cơ khuyết nhĩ luân.
Các dây chằng và hệ thống cơ của vành tai kém phát triển, chỉ hỗ trợ trong việc cố định vành tai mà không có chức năng cử động vành tai. Mạch máu và thần kinh chi phối vành tai - Hệ mạch máu nuôi dưỡng: vành tai có hệ mạch máu phong phú xuất nguồn từ hệ thống cảnh ngoài, cụ thể là bó mạch tai sau và mạch thái dương nông. Mạch máu nuôi dưỡng vành tai “Nguồn: Putz, R, 2006” [80] 8 - Thần kinh cảm giác vành tai: vành tai là bộ phận khá nhạy cảm được chi phối bởi nhiều sợi thần kinh cảm giác xuất nguồn từ thần kinh số V 2 (nhánh tai thái dương), đám rối cổ nông (nhánh tai lớn, nhánh chẩm nhỏ), thần kinh số VII (nhánh tai) và thần kinh số X (nhánh tai). NHÂN TRẮC HỌC VÀNH TAI 1.
Các chỉ số nhân trắc học vành tai Vào năm 1957, R.Martin đã đưa ra khái niệm chiều dài, chiều ngang vành tai và hướng dẫn cách đo [63]. Đến nay có nhiều chỉ số liên quan đến kích thước, vị trí vành tai được các nhà nhân trắc học và nhà lâm sàng sử dụng như: [99] - Chiều dài vành tai là khoảng cách giữa điểm cao nhất trên gờ luân và điểm thấp nhất của dái tai. - Chiều ngang vành tai là khoảng cách giữa trục phía trước vành tai và đường thẳng song song với nó qua điểm lồi nhất của bờ sau gờ luân. - Trục vành tai là đường thẳng đi qua điểm cao nhất của gờ luân đến bờ trước dái tai.
- Trục phía trước vành tai trùng với bờ sau của ngành lên xương hàm dưới. - Khoảng cách giữa nơi bám của gờ luân vào da đầu và bờ ngoài ổ mắt. - Khoảng cách giữa mặt ngoài xương chũm và bờ sau gờ luân còn gọi là khoảng cách luân nhĩ – xương chũm (LN – XC). - Góc tạo bởi trục vành tai và trục phía trước vành tai - Góc tạo bởi gờ luân và mặt ngoài xương chũm còn gọi là góc vành tai – xương chũm (VT – XC).
- Góc tạo bởi xoăn tai và mặt ngoài xương chũm gọi là góc xoăn tai – xương chũm. - Góc tạo bởi xoăn tai và hõm thuyền gọi là góc xoăn tai – hõm thuyền. 9 L: chiều dài vành tai; W: chiều ngang vành tai; a & c: góc vành tai – xương chũm; a & d: góc xoăn tai – xương chũm; b & d: góc xoăn tai – hõm thuyền Hình 1. Các chỉ số hình dạng – kích thước vành tai “Nguồn: Hilko Weerda, 2007”[99] AA: trục vành tai; SB: trục phía trước vành tai; NL: trục sống mũi; EB: lông mày; NB: nền mũi; AO: gờ luân – bờ ngoài ổ mắt; AC: góc vành tai – xương chũm; HS: khoảng cách luân nhĩ – xương chũm Hình 1.
Các chỉ số vị trí vành tai “Nguồn: Hilko Weerda, 2007”[99] 10 1. Các chỉ số kích thước vành tai Leonardo da Vinci cho rằng chiều dài vành tai bằng khoảng cách từ bờ ngoài ổ mắt đến chỗ bám của gờ luân [53].