Tổng quan luận án

Tổn khuyết phần mềm vùng mũi là dạng thương tổn thường gặp trong thực hành ngoại khoa do nhiều nhóm nguyên nhân: chấn thương (tai nạn giao thông, lao động, sinh hoạt), di chứng sau phẫu thuật cắt bỏ khối u lành tính hoặc ác tính (đặc biệt là ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tế bào vảy), di chứng bỏng, xạ trị, hoặc dị tật bẩm sinh. Mũi giữ vị trí trung tâm ở tầng giữa mặt, có cấu trúc không gian ba chiều phức tạp bao gồm ba lớp: da - mô mềm, khung nâng đỡ sụn - xương, và niêm mạc lót. Do lớp da phủ và niêm mạc mỏng, khung xương sụn mảnh nhưng đòi hỏi độ nâng đỡ vững chắc, việc phục hồi nguyên vẹn cả hình thể thẩm mỹ lẫn chức năng thông khí đặt ra nhiều thách thức cho phẫu thuật viên tạo hình.

Trong các phương pháp tái tạo, vạt da vùng trán có cuống mạch nuôi được đánh giá là lựa chọn phù hợp cho các tổn khuyết có kích thước vừa và lớn do tương đồng về màu sắc, độ dày, tính chất da, đồng thời có nguồn cấp máu nuôi dồi dào từ các trục mạch chính. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào một số kỹ thuật lâm sàng đơn lẻ, chưa có công trình nào hệ thống hóa đầy đủ các đặc điểm giải phẫu học mạch máu da trán trên người Việt trưởng thành để đối chiếu và chuẩn hóa chỉ định sử dụng các biến thể vạt trán có cuống mạch nuôi trong tạo hình mũi.

Đề tài luận án tiến sĩ y học "Nghiên cứu điều trị tổn khuyết mũi bằng các vạt da vùng trán có cuống mạch nuôi" được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm giải phẫu và các nguồn cấp máu cho da vùng trán trên người Việt trưởng thành.
  2. Đánh giá kết quả sử dụng các vạt da trán có cuống mạch nuôi trong điều trị tổn khuyết mũi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:

  • Phạm vi nghiên cứu giải phẫu: Thực hiện trên 31 tiêu bản nửa đầu của 16 xác người Việt trưởng thành (độ tuổi 29 đến 85 tuổi) được bảo quản lạnh ở nhiệt độ -30°C tại Bộ môn Giải phẫu - Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (thời gian từ tháng 5/2019 đến tháng 11/2020) và Bộ môn Giải phẫu - Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (thời gian từ tháng 8/2019 đến tháng 3/2021).
  • Phạm vi nghiên cứu lâm sàng: Thực hiện trên 48 bệnh nhân có tổn thương khuyết mũi đơn thuần hoặc phối hợp với vùng lân cận (mi dưới, má, môi trên), điều trị phẫu thuật tạo hình bằng vạt da trán tại Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2020 (gồm nhóm hồi cứu 9 bệnh nhân và nhóm tiến cứu 39 bệnh nhân).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử phẫu thuật tạo hình mũi bằng vạt da trán khởi nguồn từ kỹ thuật tạo hình mũi của Ấn Độ cổ đại (khoảng 600–700 trước Công nguyên) do Sushruta mô tả để tái tạo mũi cho các trường hợp bị cắt mũi, sau đó được du nhập vào châu Âu thế kỷ 16 và được J.M. Warren đưa vào Hoa Kỳ vào những năm 1830.

Các công trình nghiên cứu kinh điển và hiện đại trên thế giới về hệ thống giải phẫu và vạt trán được tác giả tổng hợp gồm:

  • Cơ sở giải phẫu mạch máu cuống vạt: Kazanjian (thập niên 1930) xác định nguồn cấp máu chính cho vạt trán là động mạch trên ròng rọc và động mạch trên ổ mắt. Shumrick và Smith xác định động mạch trên ròng rọc cách đường giữa từ 1,7 đến 2,2 cm, đi dưới cơ rồi hướng ra nông ở lớp dưới da phía trên cung mày 1 cm. Erdogmus và Govsa (2007) khảo sát vị trí động mạch trên ổ mắt xuyên qua cơ và cân galea chạy ra tổ chức dưới da, cũng như cấu trúc cung tĩnh mạch ngang trên ổ mắt. Yoshioka và Rhoton (2005) nghiên cứu mạng lưới tĩnh mạch vùng trán và khoảng cách an toàn khi bóc tách cân galea khỏi màng xương (10–15 mm trên bờ trên ổ mắt). Won Lee (2020) và Dong Yu công bố các chỉ số phân nhánh nông - sâu và khoảng cách của động mạch trên ròng rọc.
  • Phát triển và cải tiến vạt da trán: Labat thiết kế vạt trán giữa dựa trên một nhánh động mạch trên ròng rọc đơn bên. Millard cải tiến loại trừ da vùng gốc mũi nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng. Menick thu hẹp cuống vạt giúp tăng độ xoay chuyển linh hoạt và phát triển kỹ thuật gấp đôi vạt tạo lớp lót niêm mạc. Cologlu (2005) dựa trên 3 nhánh tận của nhánh trán động mạch thái dương nông thiết kế vạt đảo hai thùy dạng hoa Tulip.
  • Giải phẫu động mạch thái dương nông: Mwachaka, Imanishi, Pinar (2006), Tayfur (2010), Daumann, Marano (1985) nghiên cứu nguyên ủy, đường đi, đường kính (trung bình khoảng 2 mm) và các dạng phân nhánh của động mạch thái dương nông trên người phương Tây và các quần thể khác.
  • Ứng dụng lâm sàng quốc tế: Richard M. Kline (2004) tại Mỹ nghiên cứu trên 36 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào đáy cánh mũi phẫu thuật Mohs; Motamed (2007) tại Iran ứng dụng vạt nhánh trán động mạch thái dương nông trên 8 bệnh nhân; Onder Tan (2007) tại Thổ Nhĩ Kỳ ứng dụng trên 5 bệnh nhân; Zhang Ying (2009) tại Thượng Hải sử dụng vạt bán đảo nhánh trán động mạch thái dương nông trên 29 bệnh nhân; Elbanoby (2018) và Anjun Liu (2021) báo cáo ứng dụng vạt thái dương nông tạo hình hàm mặt.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây bao gồm:

  • Bạch Minh Tiến (2002): Nghiên cứu sử dụng vạt trán và vạt rãnh mũi má điều trị tổn khuyết phần mềm mũi trên 33 bệnh nhân (48 tiểu đơn vị tổn khuyết).
  • Nguyễn Huệ Chi (2004): Ghép tự do mảnh phức hợp vành tai điều trị khuyết cánh mũi, trụ vách mũi.
  • Bùi Văn Cường (2015): Tạo hình tổn thương khuyết đầu mũi, cánh mũi trên 83 bệnh nhân, trong đó có 10 ca vạt trán kinh điển và 7 ca vạt trán cuống thái dương nông.
  • Phạm Thị Việt Dung (2017): Nghiên cứu hệ mạch thái dương nông và ứng dụng trong tạo hình.

Vị trí của luận án: Tổng hợp đồng bộ từ nghiên cứu hình thái học giải phẫu các cuống mạch cấp máu vùng trán (hệ động - tĩnh mạch thái dương nông, động - tĩnh mạch trên ròng rọc, trên ổ mắt) trên xác người Việt trưởng thành đến ứng dụng thực tiễn trên lâm sàng nhằm xây dựng chỉ định, quy trình kỹ thuật cho từng biến thể vạt (vạt cuống kinh điển, vạt kinh điển cuống dạng đảo, vạt cuống thái dương nông) phù hợp với phân loại tổn khuyết.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và phân loại áp dụng

  1. Khái niệm tiểu đơn vị giải phẫu thẩm mỹ mũi: Áp dụng phân chia mũi thành 9 tiểu đơn vị theo Baker, Menick, Burget (1 sống mũi, 1 đầu mũi, 1 trụ mũi, 2 sườn mũi, 2 cánh mũi, 2 tam giác nền). Ở người châu Á, theo một số phân loại cấu trúc, mũi gồm 5 tiểu đơn vị thẩm mỹ chính (vùng cung mày, vùng sống mũi, vùng đầu mũi, hai cánh mũi, sống mũi mở rộng). Khung xương sụn được phân chia thành 3 vòm theo Sheen (1978): vòm xương, vòm sụn trên, vòm sụn dưới.
  2. Cấu trúc 5 lớp vùng trán (SCALP):
    • Lớp 1: Da (dày trung bình 2,4 mm, nhiều tuyến bã, giảm dần độ dày từ cung mày lên chân tóc).
    • Lớp 2: Tổ chức dưới da (chứa mỡ đồng nhất, các vách xơ nối với cân galea, chứa mạch máu và thần kinh).
    • Lớp 3: Cân Galea và cơ trán (thuộc hệ thống cân cơ nông SMAS, chia 2 lá bọc cơ trán; lớp sâu liên quan túi mỡ ROOF). Hệ cơ trán gồm: cơ trán, cơ mảnh khảnh, cơ vòng mi, cơ hạ mày, cơ cau mày.
    • Lớp 4: Lớp tổ chức liên kết lỏng lẻo dưới cân galea.
    • Lớp 5: Màng xương vùng trán.
  3. Phân chia đơn vị giải phẫu trán (theo Trần Thiết Sơn, 2019): Gồm 3 đơn vị: FI (trán phải), FII (trán giữa), FIII (trán trái).
  4. Hệ thống cấp máu vùng trán:
    • Hệ mạch thái dương nông: Động mạch thái dương nông (ĐM TDN) cho nhánh trán và nhánh đỉnh; nhánh trán chia thành 3 nhánh tận: nhánh trán sau, nhánh trán giữa, nhánh trán trước.
    • Hệ mạch trên ròng rọc: Đi ra từ bờ trên ổ mắt, kẹp giữa cơ cau mày và cơ trán, chia nhánh nông (xuyên cơ chạy dưới da) và nhánh sâu (chạy trên màng xương).
    • Hệ mạch trên ổ mắt: Thoát ra từ khuyết/lỗ trên ổ mắt, chia nhánh nông (vào tổ chức dưới da cách bờ trên ổ mắt 2–3 cm) và nhánh sâu (trên màng xương).
  5. Bậc thang tạo hình và phân loại tổn khuyết (Baker, 2011):
    • Kích thước: Nhỏ (< 1 cm²), vừa (1–1,5 cm²), lớn (1,5–2 cm²), rất lớn (> 2 cm²).
    • Chiều sâu: Khuyết nông (da/bề mặt), khuyết sâu (da, mô dưới da, cơ, sụn), khuyết xuyên (toàn bộ các lớp da - sụn - niêm mạc).
    • Chỉ định vạt trán: Khuyết sống mũi và sườn mũi > 2,5 cm; khuyết đầu mũi > 1,5 cm; tổn thương mất nhiều tiểu đơn vị hoặc lộ sụn/xương.

Phương pháp nghiên cứu

Nội dung Nghiên cứu giải phẫu học Nghiên cứu can thiệp lâm sàng
Thiết kế Quan sát mô tả cắt ngang trên xác phẫu tích bảo quản lạnh. Mô tả lâm sàng kết hợp hồi cứu (9 BN) và tiến cứu (39 BN).
Cỡ mẫu 31 tiêu bản nửa đầu (từ 16 xác người Việt trưởng thành, tuổi 29–85). 48 bệnh nhân có tổn khuyết phần mềm vùng mũi.
Địa điểm Bộ môn Giải phẫu ĐH Y Dược TP.HCM và ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch. Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Công cụ thu thập Thước đo Shinwa 15 cm, thước kẹp điện tử Mitutoyo (độ chính xác 0,01 mm), eke đo góc, kính loupe phóng đại 3,5X, máy ảnh, bộ dụng cụ phẫu tích. Hồ sơ bệnh án, siêu âm Doppler mạch máu, máy chụp ảnh theo dõi thương tổn.
Quy trình thực hiện 3 bước phẫu tích chuẩn hóa:
1. Xác định mốc giải phẫu (Đường thẳng Reid, hệ trục tọa độ xOy lấy tâm lỗ tai ngoài O; mốc góc mắt trong, góc mắt ngoài, bình tai, bờ trên vành tai).
2. Bóc tách vạt da theo các đường rạch chuẩn.
3. Phẫu tích bộc lộ mạch và thần kinh (ĐM TDN, ĐM trên ròng rọc, ĐM trên ổ mắt), đo đạc đường kính, chiều dài, góc và tầng giải phẫu xuyên cơ.
- Thiết kế vạt: Vạt cuống kinh điển, vạt kinh điển cuống dạng đảo, hoặc vạt cuống TDN.
- Tái tạo chất liệu nâng đỡ (sụn vành tai, sụn sườn) và lớp lót niêm mạc (gấp vạt, ghép da).
- Phẫu thuật thì 1: Chuyển vạt, khâu đóng nơi cho.
- Phẫu thuật thì 2: Cắt cuống vạt sau 2–3 tuần (với vạt cuống hở) và chỉnh sửa thì sau nếu cần.
Chỉ tiêu đánh giá - Tọa độ điểm phân chia ĐM TDN, góc phân nhánh, đường kính gốc.
- Số lượng, hướng đi và đường kính các nhánh tận (trán sau, giữa, trước).
- Khoảng cách từ ĐM trên ròng rọc, trên ổ mắt tới đường giữa và góc mắt trong.
- Chiều dài đoạn mạch đi trong cơ và dưới da.
- Đặc điểm lâm sàng: Tuổi, giới, nguyên nhân, vị trí, kích thước, chiều dày tổn khuyết.
- Đặc điểm kỹ thuật: Dạng vạt sử dụng, kích thước vạt, thời gian cắt cuống, số lần phẫu thuật.
- Kết quả phẫu thuật: Đánh giá kết quả gần và kết quả xa (sau 6 tháng), các biến chứng sau mổ.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu và Đặt vấn đề

Phần đặt vấn đề khẳng định vị trí của mũi trong cấu trúc thẩm mỹ tầng giữa mặt và các tác động tiêu cực về tâm lý, giao tiếp xã hội khi bị tổn khuyết phần mềm mũi. Tác giả phân tích các nguyên nhân gây tổn khuyết, sự phức tạp của việc phục hồi cấu trúc không gian ba chiều và nguyên tắc tái tạo theo tiểu đơn vị thẩm mỹ. Đặt vấn đề nhấn mạnh tính ưu việt của vạt da vùng trán có cuống mạch nuôi và chỉ ra khoảng trống nghiên cứu giải phẫu học mạch máu da trán trên người Việt Nam, từ đó xác lập 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các kiến thức nền tảng:

  • Giải phẫu cấu trúc mũi: Phân tích giải phẫu bề mặt theo 9 tiểu đơn vị thẩm mỹ của Baker; đặc điểm da từng vùng (da đầu mũi và cánh mũi dày, nhiều tuyến bã, dính chặt vào mô bên dưới); cấu trúc khung xương (xương chính mũi, mỏm trán xương hàm trên) và khung sụn (sụn cánh mũi lớn, sụn cánh mũi nhỏ, sụn mũi bên, sụn vách ngăn, sụn lá mía); hệ thống cơ mũi (cơ cau mày, cơ khít cánh mũi, cơ nở cánh mũi, cơ hạ vách mũi); mạng lưới cấp máu từ động mạch bướm khẩu cái, động mạch sàng trước, động mạch mặt, động mạch góc và động mạch mắt; thần kinh chi phối vận động (dây VII) và cảm giác (dây V).
  • Giải phẫu vùng trán: Phân chia 3 đơn vị giải phẫu trán (FI, FII, FIII); cấu trúc 5 lớp của trán (SCALP); các cơ vùng trán sắp xếp theo 3 lớp nông - giữa - sâu; đặc điểm các dây chằng quanh ổ mắt (Sullivan, 2006).
  • Giải phẫu chi tiết hệ thống mạch máu cấp máu vùng trán:
    • Hệ động mạch thái dương nông: Nguyên ủy ở trước tai, phía trên cung gò má; đường đi nghiêng 40° so với đường ngang qua đỉnh vành tai; cách phân chia thành nhánh trán sau, nhánh trán giữa và nhánh trán trước; các tĩnh mạch tùy hành và tĩnh mạch nhánh trán đi độc lập trong lớp da.
    • Hệ động mạch trên ròng rọc: Xuất phát từ hốc mắt, kẹp giữa cơ cau mày và cơ trán, phân chia thành nhánh nông (xuyên cơ ở vị trí khoảng 1,5 cm trên bờ trên ổ mắt để đi vào lớp dưới da) và nhánh sâu (chạy trên màng xương 3–4 cm). Tĩnh mạch trên ròng rọc đi kèm đổ về tĩnh mạch góc.
    • Hệ động mạch trên ổ mắt: Đi qua khuyết/lỗ trên ổ mắt, chia nhánh nông (xuyên cơ trán và cân galea ở vị trí 2–3 cm trên bờ trên ổ mắt) và nhánh sâu (trên màng xương). Cung tĩnh mạch ngang trên ổ mắt nối với tĩnh mạch thái dương nông.
  • Nguyên nhân và phân loại tổn thương khuyết mũi: Trình bày 3 nhóm nguyên nhân (tiên phát do chấn thương; thứ phát do di chứng bỏng, sẹo, xạ trị, sau cắt u lành/ác tính; bẩm sinh); phân loại theo tiểu đơn vị, theo chiều sâu và theo kích thước của Baker.
  • Các phương pháp điều trị và bậc thang tạo hình: Đánh giá từ khâu đóng trực tiếp, liền thương kỳ 2, ghép da (dày toàn bộ, xẻ đôi), ghép phức hợp sụn vành tai, vạt tại chỗ (vạt hai thùy, vạt trượt V-Y, vạt xoay), vạt rãnh mũi má, vạt giãn tổ chức, đến vạt tự do vi phẫu.
  • Kỹ thuật sử dụng vạt da vùng trán: Đánh giá chỉ định, nguyên tắc tạo vạt (bảo vệ cuống mạch, chọn vạt cùng bên tổn thương, bóc tách màng xương sớm), kỹ thuật tạo vạt cuống kinh điển, vạt kinh điển cuống dạng đảo, vạt cuống thái dương nông; các phương pháp tạo lớp lót niêm mạc và khung nâng đỡ sụn.
  • Tổng quan tình hình nghiên cứu: Lược sử nghiên cứu vạt trán trên thế giới và điểm lại các công trình của các tác giả trong nước.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp tiếp cận:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ: Quy định tiêu chuẩn chọn và loại trừ nghiêm ngặt đối với 31 tiêu bản xác người Việt bảo quản lạnh -30°C và 48 bệnh nhân lâm sàng tại Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện 108.
  • Phương tiện và trang thiết bị: Danh mục thiết bị đo đạc cơ học và điện tử chuyên dụng (thước Shinwa, thước kẹp Mitutoyo 0,01 mm, eke đo góc, kính phóng đại 3,5X).
  • Quy trình phẫu tích giải phẫu 3 bước:
    • Bước 1: Xác định mốc giải phẫu ngoài (đường thẳng Reid nối tâm lỗ tai ngoài qua bờ dưới ổ mắt; hệ trục tọa độ xOy; các mốc cung mày, góc mắt trong, góc mắt ngoài, đỉnh vành tai, bình tai).
    • Bước 2: Rạch da và bóc tách vạt da trán theo các bình diện giải phẫu chuẩn.
    • Bước 3: Phẫu tích tỉ mỉ hệ mạch thái dương nông trước nắp tai ngược lên ngoại vi, tiếp tục bộc lộ hệ mạch trên ròng rọc và trên ổ mắt từ bờ trên ổ mắt lên trán; đo đạc vị trí mạch xuyên cơ, đường kính, chiều dài và các nhánh nối.
  • Quy trình nghiên cứu lâm sàng: Phân tích tổn khuyết trước mổ theo không gian ba chiều; lựa chọn loại vạt; kỹ thuật phẫu tích vạt; kỹ thuật xử lý nơi cho vạt (đóng trực tiếp hoặc ghép da); thời gian cắt cuống vạt (sau 2–3 tuần); đánh giá kết quả gần và kết quả xa sau 6 tháng; thống kê biến chứng.
  • Đạo đức nghiên cứu: Tuân thủ các quy định về nghiên cứu trên thi thể và bệnh nhân.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Nội dung chương 3 được cấu trúc phản ánh trực tiếp qua hệ thống 33 bảng số liệu, 5 biểu đồ và các hình ảnh lâm sàng minh họa:

  1. Kết quả nghiên cứu giải phẫu các nguồn cấp máu da trán (Bảng 3.1 đến 3.10):
    • Hệ mạch thái dương nông: Đo đạc góc tạo bởi nhánh trán và thân chung ĐM TDN; xác định đặc điểm, đường kính và các dạng phân chia nhánh tận (nhánh trán sau, nhánh trán giữa, nhánh trán trước); xác định vị trí và đường kính của tĩnh mạch thái dương nông.
    • Hệ mạch trên ròng rọc và trên ổ mắt: Xác định đường kính động mạch; khoảng cách từ động mạch tới đường giữa tại bờ trên cung mày; khoảng cách từ động mạch tới góc mắt trong; chiều dài đoạn động mạch đi trong cơ trán và chiều dài đoạn đi trong tổ chức dưới da; khảo sát đường kính và vị trí tĩnh mạch trên ròng rọc, trên ổ mắt.
  2. Kết quả nghiên cứu lâm sàng (Bảng 3.11 đến 3.33, Biểu đồ 3.1 đến 3.5):
    • Đặc điểm tổn thương: Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới; nguyên nhân tổn thương (chấn thương, sau cắt u, dị tật bẩm sinh); phân loại theo kích thước tổn thương (< 1 cm², 1–1,5 cm², 1,5–2 cm², > 2 cm²); phân loại theo chiều dày (nông, sâu, xuyên); phân bố vị trí tổn thương và số lượng đơn vị mũi bị tổn khuyết.
    • Đặc điểm kỹ thuật: Tỷ lệ sử dụng các dạng vạt trán (vạt cuống kinh điển, vạt kinh điển cuống dạng đảo, vạt cuống thái dương nông); kích thước vạt; liên quan giữa chiều dày/kích thước tổn thương với dạng vạt; thời gian cắt cuống vạt theo ngày; số lần phẫu thuật chỉnh sửa; phương pháp tạo hình đóng nơi cho vạt (khâu đóng trực tiếp hoặc ghép da).
    • Đánh giá kết quả phẫu thuật và biến chứng: Đánh giá kết quả gần và kết quả xa sau 6 tháng; phân tích mối liên quan giữa các dạng vạt, vị trí tổn thương, số đơn vị tổn khuyết, chiều dày tổn thương với kết quả điều trị gần và xa; thống kê các biến chứng phẫu thuật (hoại tử vạt, nhiễm trùng, sẹo xấu, biến dạng mũi).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học giải phẫu

  • Cung cấp bộ số liệu nhân trắc giải phẫu mạch máu vùng trán chuyên biệt trên người Việt Nam trưởng thành: Xác định chi tiết tọa độ nguyên ủy, góc phân nhánh, đường kính thân chung và các nhánh tận của nhánh trán động mạch thái dương nông theo hệ trục tọa độ chuẩn dựa trên đường thẳng Reid.
  • Mô tả chính xác các mốc giải phẫu của bó mạch trên ròng rọc và trên ổ mắt tại bờ trên cung mày (khoảng cách tới đường giữa, khoảng cách tới góc mắt trong), độ sâu giải phẫu và chiều dài đoạn mạch xuyên qua cơ trán để đi vào lớp mỡ dưới da. Đây là cơ sở khoa học khẳng định tính an toàn khi thiết kế cuống vạt trán hẹp hoặc vạt dạng đảo.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn lâm sàng

  • Chuẩn hóa chỉ định lựa chọn 3 dạng vạt da trán có cuống mạch nuôi dựa trên đặc điểm tổn khuyết:
    • Vạt cuống kinh điển (dựa vào bó mạch trên ròng rọc/trên ổ mắt): Phù hợp cho các tổn khuyết rộng ở đầu mũi, trụ mũi, sống mũi, cánh mũi; thiết kế cuống vạt rộng 1,5 cm, nằm cách đường giữa khoảng 2 cm.
    • Vạt kinh điển cuống dạng đảo: Giúp đưa vạt qua đường hầm dưới da đến diện khuyết mà không để lộ cuống mạch ra ngoài, giảm bớt thì phẫu thuật cắt cuống.
    • Vạt cuống động mạch thái dương nông: Ứng dụng linh hoạt cho các tổn khuyết phức tạp vùng mũi - má hoặc khi cần diện tích vạt lớn, cuống vạt dài và có thể chuyển vạt có mang theo chân tóc/lông mày khi cần.
  • Xây dựng quy trình xử lý toàn diện cho tổn thương khuyết xuyên: Kết hợp vạt trán chập đôi hoặc lót ghép da để tái tạo lớp niêm mạc bên trong, kết hợp ghép sụn vành tai hoặc sụn sườn làm khung nâng đỡ, đảm bảo phục hồi chức năng thông khí và hình thái thẩm mỹ.
  • Đưa ra giải pháp đóng nơi cho vạt an toàn (khâu đóng trực tiếp theo nếp nhăn trán hoặc ghép da mỏng/dày) nhằm giảm thiểu sẹo co kéo tại vùng trán.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Cỡ mẫu nghiên cứu giải phẫu còn dừng ở mức thuận tiện (31 tiêu bản nửa đầu trên 16 thi thể) do tính chất khan hiếm của nguồn tiêu bản xác tươi bảo quản lạnh.
    • Nghiên cứu lâm sàng thực hiện trên 48 bệnh nhân tại hai trung tâm phẫu thuật quân đội lớn (BV 103 và BV 108), trong đó nhóm hồi cứu (9 ca) có số lượng hạn chế so với nhóm tiến cứu (39 ca).
    • Đánh giá kết quả thẩm mỹ và chức năng sau mổ ở mốc xa dừng lại ở thời điểm 6 tháng, chưa theo dõi kéo dài nhiều năm trên toàn bộ mẫu để đánh giá sự thay đổi hình thể mũi theo quá trình lão hóa da.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Ứng dụng công nghệ chụp mạch máu cắt lớp vi tính (CTA) hoặc chụp mạch huỳnh quang indocyanine green (ICG) trong mổ để đánh giá tưới máu vạt trán theo thời gian thực trên bệnh nhân sống.
    • Nghiên cứu kết hợp vạt da trán với kỹ thuật nong giãn da (tissue expansion) vùng trán trước mổ nhằm tạo nguồn da trán dồi dào, giúp đóng kín trực tiếp nơi cho vạt mà không cần ghép da ở các tổn khuyết mũi diện tích rất lớn.
    • Mở rộng theo dõi dài hạn (từ 1 đến 5 năm) về chức năng đường thở qua mũi và sự ổn định của khung sụn ghép.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các nhóm đối tượng:

  • Phẫu thuật viên Tạo hình - Thẩm mỹ, Hàm mặt, Tai Mũi Họng: Cung cấp các thông số giải phẫu mốc định vị mạch máu chính xác và quy trình thiết kế, bóc tách các dạng vạt trán (kinh điển, đảo, thái dương nông), kỹ thuật tái tạo lớp lót niêm mạc và khung sụn nâng đỡ mũi.
  • Nghiên cứu sinh, Học viên sau đại học chuyên ngành Ngoại khoa: Cung cấp phương pháp luận chuẩn mực trong việc kết hợp giữa nghiên cứu giải phẫu phẫu tích trên xác với nghiên cứu can thiệp lâm sàng hồi cứu - tiến cứu.
  • Phần đáng tham khảo nhất:
    • Quy trình phẫu tích xác định mốc giải phẫu mạch máu vùng trán theo hệ trục Reid (Chương 2).
    • Các bảng số liệu giải phẫu nhân trắc mạch máu da trán người Việt (Bảng 3.1 đến 3.10 trong Chương 3).
    • Chỉ định và kỹ thuật tạo hình tổn khuyết khuyết xuyên toàn bộ bằng vạt trán kết hợp ghép sụn và tạo niêm mạc lót.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao vạt da vùng trán được xem là chất liệu tái tạo tổn khuyết mũi phù hợp hơn so với các vạt da khác trên cơ thể?
Trả lời: Da vùng trán có sự tương đồng cao với da vùng mũi về màu sắc, kết cấu bề mặt, độ dày (trung bình 2,4 mm) và mật độ tuyến bã. Ngoài ra, vùng trán có mạng lưới cấp máu dồi dào từ các trục mạch lớn (động mạch thái dương nông, động mạch trên ròng rọc, động mạch trên ổ mắt) giúp vạt có tỷ lệ sống cao và cho phép xoay chuyển vạt linh hoạt để tái tạo cấu trúc ba chiều của mũi.

2. Tiêu chuẩn lựa chọn và chỉ định sử dụng vạt da trán trong điều trị tổn khuyết mũi theo nghiên cứu là gì?
Trả lời: Theo văn bản, vạt da trán được chỉ định cho các tổn khuyết mũi có kích thước vừa và lớn: khuyết sống mũi và sườn mũi trên 2,5 cm; khuyết đầu mũi trên 1,5 cm; các tổn thương khuyết sâu lộ xương/sụn hoặc khuyết xuyên toàn bộ qua các lớp da - sụn - niêm mạc, không thể sửa chữa bằng khâu đóng trực tiếp, ghép da đơn thuần hay các vạt tại chỗ nhỏ.

3. Nghiên cứu giải phẫu trên xác người Việt Nam đã xác định những nguồn mạch chính nào nuôi da trán và cách chia nhánh ra sao?
Trả lời: Nghiên cứu khảo sát 3 hệ mạch chính: (1) Nhánh trán của động mạch thái dương nông (tách ra trên cung gò má, chia 3 nhánh tận: trán sau, trán giữa, trán trước); (2) Động mạch trên ròng rọc (chia nhánh nông xuyên cơ dưới da cách bờ trên ổ mắt khoảng 1,5 cm và nhánh sâu trên màng xương); (3) Động mạch trên ổ mắt (chia nhánh nông xuyên cơ cân ở vị trí 2–3 cm trên bờ trên ổ mắt và nhánh sâu trên màng xương).

4. Thời gian cắt cuống vạt đối với vạt trán cuống kinh điển được thực hiện khi nào?
Trả lời: Phần cuống vạt kinh điển thường được phẫu thuật cắt bỏ và chỉnh sửa an toàn sau 2 đến 3 tuần (14–21 ngày) sau khi vạt đã thiết lập được mạng lưới tuần hoàn mao mạch nuôi dưỡng từ nền nhận. Đối với biến thể vạt kinh điển cuống dạng đảo (luồn dưới da), bệnh nhân không cần phải trải qua phẫu thuật cắt cuống vạt.

5. Trong các tổn khuyết khuyết xuyên toàn bộ các lớp của mũi, tác giả đề xuất giải pháp tạo hình lớp lót niêm mạc và khung nâng đỡ như thế nào?
Trả lời: Để tạo hình lớp lót niêm mạc bên trong, phẫu thuật viên sử dụng kỹ thuật gấp đôi phần xa của chính vạt da trán hoặc kết hợp lót mảnh ghép da. Đối với khung nâng đỡ sụn - xương, phẫu thuật viên sử dụng mảnh ghép sụn lấy từ sụn vành tai (qua đường rạch ở gờ đối vành) hoặc lấy sụn sườn/xương sọ để phục hồi sống mũi và trụ cánh mũi.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả đã hệ thống hóa toàn diện các đặc điểm giải phẫu học của hệ thống mạch máu nuôi da vùng trán trên 31 tiêu bản xác người Việt trưởng thành, xác lập các chỉ số định lượng về đường kính, tọa độ phân nhánh và bình diện xuyên cơ của động mạch thái dương nông, động mạch trên ròng rọc và động mạch trên ổ mắt. Trên cơ sở giải phẫu đó, đề tài ứng dụng thành công các kỹ thuật chuyển vạt da trán có cuống mạch nuôi (cuống kinh điển, cuống dạng đảo, cuống thái dương nông) trên 48 bệnh nhân tổn khuyết mũi từ kích thước vừa đến phức tạp tại hai bệnh viện tuyến trung ương. Kết quả nghiên cứu chứng minh tính an toàn, tỷ lệ sống của vạt cao, phục hồi tốt hình thể giải phẫu thẩm mỹ và chức năng hô hấp của mũi, đồng thời chuẩn hóa quy trình phẫu thuật tái tạo mũi bằng vạt da trán trong điều kiện thực tiễn y học tại Việt Nam.