Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Đại cương về tế bào gốc 1. Khái niệm về tế bào gốc Tế bào gốc là những tế bào chưa biệt hóa, chúng có khả năng biệt hóa thành các kiểu tế bào chức năng. Chúng có vai trò như hệ thống sửa chữa mô, tạo ra những tế bào khác hoạt động bình thường trên cơ thể sinh vật. Một tế bào gốc có ít nhất hai đặc tính dưới đây: Tính tự làm mới: tế bào đó có khả năng tiến hành một số lượng lớn chu kỳ phân bào, mà vẫn duy trì trạng thái không biệt hóa.Tế bào gốc trong bất cứ mô nào cũng có một quần thể có khả năng tự làm mới [3],[4],[5].
Khả năng tự làm mới của tế bào gốc [5] 4 Tính biệt hóa: Là quá trình trong đó một tế bào chưa biệt hóa trở thành tế bào chuyên hóa về chức năng. Trong suốt quá trình biệt hóa, do sự điều hòa biểu hiện gen, một số gen nhất định được biệt hóa trong khi những gen khác bị bất hoạt dẫn đến các tế bào được biệt hóa phát triển những cấu trúc đặc hiệu và thực hiện những chức năng nhất định [5],[6],[7].Khả năng biệt hóa tế bào gốc tạo máu và tế bào gốc trung mô trong tủy xương. (Nguồn © 2001 Terese Winslow, Lydia Kibiuk stemcells. Hoạt động của tế bào gốc Hiểu biết chu kỳ sống và những yếu tố có thể ảnh hưởng đến hoạt động của tế bào gốc và tế bào tiền thân rất quan trọng.
Chu kỳ sống của tế bào gốc hoặc tiền thân là một quá trình được điều hòa bởi 5 hoạt động cơ bản: hoạt hóa, phân chia, di cư, biệt hóa và hoạt động chức năng [5] (Hình 1. Quá trình hoạt động tế bào gốc [5] Quá trình hoạt hóa tế bào gốc và tế bào tiền thân từ tủy xương và các nguồn mô khác chịu ảnh hưởng bởi yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu (platelet-derived growth factor -PDGF), và yếu tố tăng trưởng biểu bì (epidermal growth factor -EGF) để cảm ứng và duy trì phát triển quần thể tế bào tiền thân từ các tế bào tủy xương. Khi quá trình hoạt hóa xảy ra có những bằng chứng cho thấy EGF, PDGF, yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (fibroblast growth factor-2; FGF-2), yếu tố phát triển nội mô mạch(vascular endothelial growth factor receptor-2; VEGF) tăng và giảm nồng độ oxy máu [8],[9]. Trong trường hợp bệnh lý, mô tổn thương hay đáp ứng với các kích thích sinh lý thì sự huy động tế bào gốc tới nơi tổn thương tăng lên.Chẳng hạn khi gãy xương nồng độ oxy tại đó giảm, làm tăng chemokines CXCL2 dẫn đến tăng sự di cư tế bào gốc mô xương ở màng xương và tủy xương đến vùng tổn thương [10] (Hình 1.
Sự di cư của tế bào gốc tại vùng gãy xương [10]. Sự di chuyển của tế bào gốc tại vết thương rất quan trọng đối với quá trình hoạt hóa tại mô. Quá trình di chuyển thường diễn ra thuận lợi bởi nhiều cytokine và phụ thuộc vào khả năng chất nền hoặc chất đệm mà tế bào có thể gắn vào và di chuyển. Chất đệm có thể là khối fibrin, chất đệm ngoại bào, hoặc vật liệu hydroxyapatitle (HA) hoặc ceramic.
Nói chung, sự huy động tế bào đòi hỏi một chuỗi các sự kiện phối hợp với nhau, đó là tín hiệu hóa ứng động, tín hiệu giúp tế bào di cư. Sự biệt hóa tế bào chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố sinh học quan trọng là áp lực oxy, độ pH của dịch kẽ, dinh dưỡng và các tác nhân kích thích cơ học cũng như bởi thành phần hóa học của chất nền xung quanh. 7 Chết theo chương trình (apoptosis) là một quá trình quan trọng trong phát triển, tái tạo và đổi mới mô. Tế bào gốc nhạy cảm với những tín hiệu có thể cảm ứng quá trình chết theo chương trình suốt chu kỳ sống của chúng [5].
Phân loại tế bào gốc (theo cách thức tạo ra tế bào gốc) - Tế bào gốc phôi (embryonic stem cell) Tế bào gốc phôi được thu nhận trực tiếp từ phôi (embryo) của người và động vật có vú, chúng có tiềm năng biệt hóa lớn nhất. Nhóm này gồm các tế bào được thu nhận từ mầm phôi giai đoạn phôi nang. - Tế bào gốc trưởng thành (Adult stem cell) Tế bào gốc trưởng thành được thu nhận từ cơ thể trưởng thành. Ngày càng phát hiện có nhiều tế bào gốc trưởng thành, trong đó tế bào gốc tủy xương được biết rõ hơn cả.
Tủy xương là nơi có nhiều tế bào gốc tạo máu, đó là nguồn quan trọng trong cơ chế điều hòa số lượng tế bào máu. Ngoài tế bào gốc tạo máu, tủy xương còn được biết như là một trong các mô có chứa nguồn tế bào trung mô. Nguồn tế bào này có tính linh hoạt cao, chúng có thể biệt hóa hay chuyển biệt hóa thành nhiều kiểu tế bào chức năng khác nhau. Một nguồn thu nhận tế bào gốc nữa là từ thai, mô cuống rốn, máu cuống rốn, nhau thai, dịch ối, biểu mô dây rốn.
Nguồn tế bào gốc thu từ phần bỏ sau khi sinh như máu cuống rốn, nước ối hay rau thai chủ yếu là tế bào gốc tạo máu và tế bào gốc trung mô. Những tế bào gốc này không đủ đặc điểm tế bào gốc phôi nên có thể xếp chúng vào nhóm tế bào gốc ở cơ thể trưởng thành. - Tế bào gốc nhân tạo (tế bào gốc vạn năng cảm ứng) Đây là tế bào gốc do chính con người tạo ra nhờ kỹ thuật thao tác gen, thuật ngữ chính xác để chỉ tế bào này là “tế bào gốc vạn năng cảm ứng” (induced Pluripotent stem cell- iPS). Về nguyên tắc bất kỳ tế bào sinh dưỡng 8 nào đều có thể trở thành iPS, nhờ chúng được cảm ứng bằng phương pháp chuyển gen in vitro.
Khi được kích hoạt, các tế bào sinh dưỡng sẽ khởi động cơ chế tái thiết lập chương trình bộ gene hay sự khử biệt hóa [2]. Tế bào gốc của tủy xương Tế bào gốc của tủy xương (TBGTX) đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi [1],[11]. Tủy xương là nơi cư trú của một hỗn hợp các TBG có khả năng tái tạo và biệt hóa khác nhau: TBG tạo máu (heamopoietic stem cell- HSC) [1],[11],[12], tế bào gốc trung mô (mensenchymal stem cell - MSC) [13],[14], tế bào tiền thân nội mạc (Endothelial stem/progenitor cells- EPC) [15], ngoài ra còn có một số loại TBG khác hiếm gặp hơn và sự tồn tại của chúng vẫn còn đang gây tranh cãi như quần thể tế bào phụ (Side population-SP). Trong số đó, TBG tạo máu và tế bào gốc trung mô đã được nghiên cứu ứng dụng rộng rãi.
Các TBG của tủy xương trước hết đều mang đặc tính chung của TBG đồng thời có những đặc tính riêng, chuyên biệt cho từng loại TBG. Khả năng biệt hóa và tính linh hoạt của chúng là cơ sở cho liệu pháp điều trị bằng TBG của tủy xương, chúng có thể được sử dụng để tái tạo nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau: cơ, xương, sụn, cơ tim.Tế bào gốc trung mô (MSC) Trong tủy xương MSC cũng như những tế bào của tổ chức đệm không trực tiếp nhưng gián tiếp tham gia vào tạo máu bằng cách tạo ra vi môi thích hợp cho tạo máu. MSC tăng sinh và giữ được kiểu hình không biệt hóa qua nhiều lần cấy chuyển. MSC có khả năng tăng sinh cao, với 35 lần nhân đôi in vitro [16].
Dưới tác dụng của chất gây phân bào như PDGF (platelet –derived growth factor), EGF (epidermal growth factor), bFGF (basic fibroblast growth 9 factor) và IGF-1 (insulin –like growth factor-1) [17], MSC tăng sinh mà vẫn giữ được trạng thái không biệt hóa (xem ở mục 1. Đặc điểm chung của tế bào gốc trung mô Friedenstein AJ (1976) đã mô tả tế bào gốc trung mô là tế bào bám bề mặt đĩa nuôi và có khả năng tạo cụm (colony forming unit-fibroblast: CFU-F) và chúng có khả năng tự làm mới của tế bào gốc và khả năng tái tạo mô xương. MSC được coi là tế bào gốc trung mô hay những nguyên bào trung mô bởi vì những tế bào này có khả năng biệt hóa thành nhiều loại tế bào khác trong cơ thể [18],[19]. Theo Simmon PJ (1987) còn gọi chúng là tế bào nền tủy xương bởi vì chúng dường như được phát sinh từ những cấu trúc chống đỡ trong tủy xương cũng như chúng hoạt động như những lớp cung cấp chất dinh dưỡng cho sự tăng trưởng những tế bào gốc của mô tạo máu [20].
MSC là quần thể tế bào gốc (có khả năng tự làm mới và khả năng biệt hóa thành nhiều dòng tế bào) nhưng liệu rằng đặc tính gốc này có hay không khi ở dạng tế bào đơn. Trong thời gian gần đây người ta đề xuất thuật ngữ tế bào nền trung mô đa tiềm năng để mô tả các tế bào có khả năng bám vào bề mặt plastic khi nuôi cấy in vitro và có hình dáng giống nguyên bào sợi. Các nghiên cứu cho thấy các tế bào đa tiềm năng không chỉ biệt hóa thành dòng trung mô mà còn biệt hóa thành các dòng nội bì và ngoại bì thần kinh bao gồm tế bào thần kinh, tế bào gan, tế bào tụy [22],[23]. Các tế bào gốc đa tiềm năng được hiểu với nhiều tên gọi như tế bào tiền thân trưởng thành đa tiềm năng (multipotent adult progenitor cells- MAPCs), tế bào gốc đa tiềm năng từ tủy xương (Bone 10 marrow- derived multipotent stem cell- BMSCs), tế bào có thể cảm ứng đa tiềm năng từ tủy xương (marrow-isolated adult mutilineage inducible cells- MIAMIs) hoặc là tế bào gốc giống tế bào gốc phôi rất nhỏ (very small embryonic-like stem cell- VSELs) [24].
MSC có hình thoi hoặc hình sao, ở mức độ vi thể rất khó phân biệt với nguyên bào sợi. Đặc điểm siêu cấu trúc của chúng là nhân tế bào chứa khối nhiễm sắc thô, bào tương nghèo nàn, chứa ít ti thể và lưới nội bào [25]. Đầu tiên MSC được phát hiện từ quần thể các tế bào tủy xương. Ở đó, MSC chỉ chiếm 0.01% tổng số tế bào có nhân [26].
Ngày nay, người ta có thể phân lập các tế bào này từ nhiều mô của cơ thể trưởng thành như: máu tuần hoàn, máu dây rốn, trung mô dây rốn, tủy xương, mô mỡ, gan, lách, dịch ối.nhưng tủy xương vẫn được coi là nguồn cung cấp chủ yếu MSC. Marker tế bào gốc trung mô Sự xác định các protein bề mặt đặc hiệu tế bào nhằm mục tiêu mô tả nhận biết một loại tế bào nào đó. Có rất nhiều nghiên cứu về marker bề mặt của tế bào gốc trung mô: CD105 hay (SH2), CD73(SH3, SH4), CD90 (Thy-1), Stro-1. Thụ thể mạng lưới gian bào α1 integrin (CD49a), α2 integrin (CD49b), α3 integrin (CD49c), α5 integrin (CD49e), α6 integrin (CD49f), αV integrin (CD51), β1 integrin (CD29), β3 integrin (CD61), β4 integrin (CD104), ICAM-1 (CD54), ICAM-2 (CD102), VCAM-1(CD106), LFA-3 (CD58), CD72, ALCAM (CD166), HLA-1 [26],[27],[28].