Tổng quan luận án
Hội chứng hẹp khe mi - sụp mi - nếp quạt ngược (Blepharophimosis - Ptosis - Epicanthus Inversus Syndrome - BPES) là một bệnh lý di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường, gây ra bởi đột biến gen FOXL2 nằm trên nhánh dài của nhiễm sắc thể số 3 (3q23). Tỷ lệ mắc bệnh ước tính trong quần thể khoảng 1/50.000 trẻ sơ sinh. Kiểu hình lâm sàng của hội chứng được đặc trưng bởi 4 dấu hiệu điển hình xuất hiện ngay sau sinh: hẹp khe mi cả chiều ngang lẫn chiều dọc, sụp mi nặng hai bên, nếp quạt ngược từ mi dưới chạy lên góc trong mắt và khoảng cách hai góc trong mắt xa nhau. Bệnh phân thành hai thể lâm sàng: týp 1 (gồm 4 dấu hiệu tại mắt kèm theo suy buồng trứng sớm gây vô sinh ở nữ giới) và týp 2 (chỉ biểu hiện 4 tổn thương điển hình tại mắt).
Bên cạnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến thẩm mỹ khuôn mặt và tâm lý phát triển, bệnh nhân mắc hội chứng này đối mặt với nguy cơ suy giảm thị lực nặng nề. Theo y văn quốc tế, tỷ lệ nhược thị ở bệnh nhân BPES dao động từ 39% đến 56%, tỷ lệ lác từ 20% đến 27% và tật khúc xạ chiếm khoảng 34%. Điều trị ngoại khoa hội chứng BPES là một trong những can thiệp phức tạp nhất của phẫu thuật tạo hình nhãn khoa do phải xử lý đồng thời nhiều bất thường giải phẫu phối hợp.
Về mặt kỹ thuật, chiến lược phẫu thuật vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều giữa việc tiến hành hai thì (mổ tạo hình góc trong và xử lý hai góc mắt xa nhau trước, sau 3 đến 12 tháng mới mổ chỉnh sụp mi) và phẫu thuật một thì (phối hợp toàn bộ các kỹ thuật trong cùng một lần phẫu thuật). Phẫu thuật một thì giúp giảm số lần gây mê, giảm chi phí điều trị, hạn chế sang chấn tâm lý cho trẻ nhỏ và cho phép phục hồi chức năng thị giác sớm để ngăn ngừa nhược thị. Tại Việt Nam, các công trình đã công bố về bệnh lý này chủ yếu có cỡ mẫu nhỏ, thời gian theo dõi ngắn và chưa có nghiên cứu nào đánh giá một cách hệ thống đặc điểm lâm sàng cũng như kết quả của quy trình phẫu thuật một thì phối hợp tạo hình Y-V, gấp ngắn dây chằng mi trong và treo mi trên vào cơ trán. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn và học thuật này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể như sau:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng của hội chứng hẹp khe mi - sụp mi - nếp quạt ngược tại Bệnh viện Mắt Trung Ương.
- Đánh giá kết quả điều trị hội chứng hẹp khe mi - sụp mi - nếp quạt ngược bằng phẫu thuật Y-V kết hợp gấp ngắn dây chằng mi trong và treo mi trên vào cơ trán.
- Phân tích một số yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuật.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: 53 bệnh nhân được chẩn đoán mắc hội chứng hẹp khe mi - sụp mi - nếp quạt ngược, có độ tuổi từ 3 tuổi trở lên, chưa từng trải qua phẫu thuật mi mắt trước đó và không mắc các bệnh lý cấp tính tại mắt hoặc bệnh toàn thân chống chỉ định phẫu thuật.
- Phạm vi không gian: Bệnh viện Mắt Trung Ương, Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Thu thập bệnh nhân và tiến hành can thiệp từ tháng 10/2016 đến tháng 10/2019, thời gian theo dõi dọc sau phẫu thuật của mỗi bệnh nhân tối thiểu là 1 năm (với các mốc đánh giá tại 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 1 năm).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Hội chứng BPES được Ammon mô tả lần đầu tiên vào năm 1841 và được Vignes hoàn thiện mô tả lâm sàng vào năm 1889. Về cơ chế di truyền phân tử, các nghiên cứu xác định gen FOXL2 đóng vai trò quyết định trong sự phát triển của mi mắt và cơ quan sinh dục nữ. Týp 1 có độ thâm nhập gen 100% (chỉ di truyền từ người bố cho con trai và con gái, người nữ mang bệnh bị vô sinh), trong khi týp 2 có độ thâm nhập ước tính 96,5% (di truyền từ cả bố hoặc mẹ). Khoảng 75% trường hợp có tiền sử gia đình, 25% còn lại phát sinh do đột biến mới (de novo).
Về giải phẫu và các kỹ thuật can thiệp góc trong mắt:
- Bản chất nếp quạt: Năm 1904, Rogman chứng minh nếp quạt xuất hiện do tình trạng thiếu hụt da theo chiều dọc chứ không phải do thừa da.
- Các kỹ thuật tạo hình nếp quạt: Y văn ghi nhận nhiều kỹ thuật như Verwey (kỹ thuật Y-V nguyên bản), Blair, Spaeth, tạo hình chữ Z, Johnson, Mustarde (kỹ thuật 4 vạt), Anderson (5 vạt). Trong đó, hai kỹ thuật phổ biến nhất là Mustarde và Y-V. Kỹ thuật Mustarde bộc lộ phẫu trường rộng nhưng đường rạch phức tạp, dễ nhầm vạt và để lại mạng lưới sẹo lớn ở góc trong. Ngược lại, kỹ thuật Y-V có ưu điểm thao tác đơn giản, thời gian mổ ngắn, ít để lại sẹo co kéo xấu, đặc biệt phù hợp với đặc tính da dày, dễ tăng sắc tố sẹo của người châu Á và diện tích góc trong hẹp ở trẻ em (Li và cộng sự, 2009; Song và cộng sự, 2015).
- Can thiệp khoảng cách hai góc trong mắt: Phẫu thuật xuyên chỉ thép qua mũi cố định dây chằng mi trong có ưu điểm duy trì kết quả lâu dài nhưng kỹ thuật phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ chảy máu, tổn thương xương mũi và lệ đạo, không thuận lợi cho trẻ nhỏ. Phẫu thuật gấp ngắn dây chằng mi trong vào màng xương mào lệ trước (Nuruddin; Black và cộng sự, 2012) được đánh giá là an toàn, ít xâm lấn và đạt hiệu quả giải phẫu ổn định.
Về các phương pháp điều trị sụp mi:
- Do phần lớn bệnh nhân BPES có chức năng cơ nâng mi trên kém (< 5mm), phẫu thuật rút ngắn cơ nâng mi (Nakajima và cộng sự, 1991) dễ dẫn đến tái phát sụp mi. Phẫu thuật chuyển vạt cơ trán (Liu và cộng sự, 2014) không cần vật liệu treo nhưng kỹ thuật phức tạp và nguy cơ ảnh hưởng phát triển cơ trán. Phẫu thuật treo mi trên vào cơ trán (kỹ thuật ngũ giác của Fox hoặc tam giác kép của Crawford) là lựa chọn chuẩn mực.
- Vật liệu treo: Cân cơ đùi tự thân từng được xem là tiêu chuẩn vàng nhưng đòi hỏi vùng mổ thứ hai, khó lấy ở trẻ dưới 3 tuổi, có thể bị tiêu hoặc thoái hóa xơ theo thời gian (Yoon và cộng sự, 2009 ghi nhận tỷ lệ thành công thẩm mỹ của cân đùi giảm từ 96,7% xuống 66,9% sau 6 tháng). Các nghiên cứu của Mehta (2004), Salour (2007), Chong (2010) và Trần Tuấn Bình (2009) chứng minh chỉ không tiêu polyester Mersilene 4/0 chập đôi đạt tỷ lệ thành công cao (86,9% - 90%), tỷ lệ biến chứng thải loại chỉ hoặc u hạt rất thấp, ổn định lâu dài.
Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng:
- Hướng phẫu thuật hai thì: Hoffer và cộng sự (2006, Brazil) nghiên cứu trên 10 bệnh nhân; Taylor (2007, Anh) nghiên cứu trên 14 bệnh nhân; Elbakary và cộng sự (2015, Ai Cập) phẫu thuật trên 15 bệnh nhân với Y-V kết hợp gấp dây chằng mi trong, sau 3 tháng treo cơ trán; Song và cộng sự (2015, Trung Quốc) nghiên cứu trên 125 bệnh nhân trong 9 năm với quy trình 2 thì Y-V và chuyển vạt cơ trán.
- Hướng phẫu thuật một thì: Nakajima (1991, 11 ca); Karacaoglan (1994, 5 ca); Huang và cộng sự (2007, 16 ca); Wu và cộng sự (2008, Đài Loan, 23 ca đạt 70% tỷ lệ thành công với KCHGT/ĐDKM < 1,3); Sebastiá (2011, Brazil, 21 ca); Savino (2015, Ý, 6 ca sử dụng Tutopatch).
- Các nghiên cứu tại Việt Nam: Trần Đình Lập (2006, 9 bệnh nhân tại Huế áp dụng Y-V kết hợp gấp ngắn dây chằng mi trong); Dương Nguyễn Thanh Sơn và ORBIS (2012, 7 bệnh nhân tại Huế mổ một thì bằng chỉ ti-cron); Lê Minh Thông (2013, 20 bệnh nhân tại TP. Hồ Chí Minh mổ một thì phối hợp 3 kỹ thuật).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Thiết lập quy trình phẫu thuật một thì đồng thì (Y-V tạo hình góc trong, gấp ngắn dây chằng mi trong bằng chỉ Prolene 5/0 và treo mi trên vào cơ trán hình ngũ giác bằng chỉ Mersilene 4/0 chập đôi), tiến hành đánh giá trên một quần thể mẫu nghiên cứu tiến cứu đủ lớn (53 bệnh nhân) tại Bệnh viện Mắt Trung Ương, theo dõi dọc chuẩn hóa 1 năm và phân tích định lượng các yếu tố giải phẫu - lâm sàng trước mổ ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các chỉ số nhân trắc học nhãn khoa
Luận án dựa trên cấu trúc giải phẫu 5 lớp của mi mắt (da, mô dưới da, lớp cơ, lớp xơ gồm đĩa sụn và hệ thống dây chằng mi trong/ngoài, lớp kết mạc) và các thông số giải phẫu hình thái tiêu chuẩn:
- Độ dài khe mi (ĐDKM): Khoảng cách đo bằng milimet từ góc trong đến góc ngoài mi mắt (bình thường ở người lớn: 25 - 30 mm; trẻ em 2 - 10 tuổi: 25,3 ± 1,9 mm theo Song X).
- Độ cao khe mi: Khoảng cách từ điểm giữa bờ mi trên đến điểm giữa bờ mi dưới (người lớn: 8 - 12 mm; trẻ em: 8,8 ± 0,6 mm).
- Khoảng cách hai góc trong mắt (KCHGT): Đo giữa hai góc trong của hai mắt (theo Katowitz: < 20 mm ở trẻ sơ sinh, < 24 mm ở trẻ lớn, < 30 mm ở người lớn).
- Tỷ lệ KCHGT / ĐDKM: Chỉ số nhân trắc học khách quan dùng đánh giá hiệu quả giải phẫu (người châu Á bình thường trung bình là 1,42, dao động 1,23 - 1,64).
- Phân loại nếp quạt (Katowitz): 4 dạng gồm nếp quạt sụn (epicanthus tarsalis), nếp quạt ngược (epicanthus inversus), nếp quạt mi (epicanthus palpebralis) và nếp quạt mi trên (epicanthus supraciliaris).
- Đánh giá sụp mi: Đo khoảng cách từ ánh phản quang giác mạc đến bờ mi trên (Margin Reflex Distance 1 - MRD1), biên độ vận động cơ nâng mi trên (bình thường 12 - 15 mm, yếu < 5 mm) và nghiệm pháp Bell.
Thiết kế và phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng tiến cứu, không có nhóm chứng.
- Công thức tính cỡ mẫu: Áp dụng công thức can thiệp so sánh hai giá trị trung bình trước - sau trên cùng một đối tượng:
$$n = \frac{C \cdot s^2}{ES^2} \quad \text{với} \quad ES = \frac{d}{\sqrt{2(1-r)}}$$
Trong đó: $d = 0,76$ (độ giảm tỷ lệ KCHGT/ĐDKM theo Liu từ 2,11 xuống 1,35); $s = 1,89$; $r = 0,5$; mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$; lực kiểm định $1-\beta = 0,8$ ứng với $C = 7,85$. Cỡ mẫu tối thiểu tính toán là 49 bệnh nhân. Cỡ mẫu thực tế thu nhận là 53 bệnh nhân (nhằm dự phòng sai số do bỏ cuộc trong 1 năm theo dõi).
- Phương tiện nghiên cứu: Bảng thị lực Snellen, bảng hình, hộp kính thử, bộ lăng kính đo độ lác, thước kẻ milimet, máy ảnh kỹ thuật số, sinh hiển vi khám bệnh, đèn soi đáy mắt trực tiếp, đèn soi bóng đồng tử, thuốc liệt điều tiết Cyclogyl 1% và Atropin 0,5%, bộ dụng cụ phẫu thuật tạo hình mi, chỉ không tiêu Prolene 5/0, Mersilene 4/0, Nylon 6/0, Vicryl 6/0.
| Hạng mục quy trình |
Nội dung kỹ thuật chi tiết |
| Vô cảm |
Gây mê nội khí quản đối với trẻ em; gây tê tại chỗ bằng Lidocain 2% đối với người lớn. |
| Thì 1: Tạo hình góc trong & Dây chằng |
1. Đánh dấu da theo hình Y-V: Điểm P1 nằm giữa sống mũi và tâm đồng tử (xác định khoảng cách đích = 1/2 khoảng cách đồng tử); điểm P2 tại góc trong mắt; vẽ 2 cánh chữ V song song bờ mi. 2. Rạch da, bộc lộ dây chằng mi trong. 3. Khâu gấp ngắn dây chằng mi trong vào màng xương mào lệ trước bằng chỉ Prolene 5/0 theo vector hướng sâu ra sau. 4. Tịnh tiến vạt da và đóng da bằng chỉ Nylon 6/0 mũi rời. |
| Thì 2: Treo mi trên vào cơ trán |
1. Rạch da nếp mi dài 15 mm, cách bờ mi 3 - 5 mm, liên tiếp với đường rạch cánh trên chữ V. 2. Luồn chỉ Mersilene 4/0 chập đôi cố định sụn mi trên với cơ trán theo hình ngũ giác Fox. 3. Điều chỉnh độ cao bờ mi đạt mức sinh lý, khâu đóng phục hồi nếp mi. |
| Chăm sóc và theo dõi sau mổ |
Kháng sinh toàn thân (Zinnat), giảm phù nề (Alphachymotripsin), giảm đau (Efferalgan), mỡ kháng sinh tra mắt (Oflovid), nước mắt nhân tạo dạng gel/nước (Sanlein, Liposic); tái khám tại 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 1 năm. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ cơ sở giải phẫu học, sinh lý học mi mắt, phôi thai học, sinh học phân tử và bệnh học của hội chứng BPES:
- Cung cấp mô tả chi tiết về 5 lớp giải phẫu của mi mắt, cấu trúc phức hợp dây chằng mi trong (gồm nhánh trước, nhánh sau, chỗ bám mào lệ trước và mào lệ sau) và hệ thống cơ vận nhãn/cơ mi (cơ nâng mi trên, cơ Muller, cơ vòng cung mi).
- Phân tích cơ chế bệnh sinh do đột biến gen FOXL2 trên nhiễm sắc thể 3q23 và các đặc trưng lâm sàng của thể týp 1 (suy buồng trứng sớm: mãn kinh trước 40 tuổi, teo buồng trứng dạng dải, giảm estrogen/progesterone, tăng nồng độ FSH, LH) và thể týp 2.
- Hệ thống hóa các tiêu chuẩn chẩn đoán phân biệt BPES với các hội chứng hiếm gặp khác có biểu hiện hẹp khe mi hoặc sụp mi: Hội chứng Ohdo (kém phát triển xương bánh chè, tinh hoàn lạc chỗ, thiểu năng trí tuệ); Hội chứng Noonan (cổ ngắn, tổn thương tim, tầm vóc thấp); Hội chứng Marden-Walker (ngón tay nhện, chậm phát triển vận động); Hội chứng Schwartz-Jampel (co cứng cơ mặt mím môi, loạn trương lực cơ); Hội chứng Dubowitz (chàm da, đầu nhỏ, suy giảm miễn dịch); Hội chứng Smith-Lemli-Opitz (dính ngón chân 2 - 3, thừa ngón, dị tật nội tạng).
- Tổng hợp, phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp phẫu thuật tạo hình góc trong (Mustarde, Y-V, Z-plasty), các kỹ thuật xử lý dây chằng mi trong (gấp ngắn dây chằng, xuyên chỉ thép qua mũi) và các phương pháp chỉnh sụp mi (rút ngắn cơ nâng mi, chuyển vạt cơ trán, treo cơ trán bằng cân cơ đùi, silicon, chỉ Mersilene).
- Đối chiếu các nghiên cứu phẫu thuật một thì và hai thì trong y văn thế giới và Việt Nam, chỉ ra căn cứ khoa học của việc lựa chọn kỹ thuật Y-V kết hợp gấp ngắn dây chằng mi trong và treo cơ trán bằng chỉ Mersilene 4/0.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận và các bước triển khai can thiệp lâm sàng trên 53 bệnh nhân tại Bệnh viện Mắt Trung Ương:
- Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ: Đảm bảo tính thuần nhất của mẫu nghiên cứu (bệnh nhân BPES từ 3 tuổi trở lên, chưa từng can thiệp phẫu thuật mi, theo dõi đủ 12 tháng).
- Thiết kế nghiên cứu và quy trình tính toán cỡ mẫu: Trình bày chi tiết công thức toán thống kê y học và xác định cỡ mẫu n = 53.
- Chuẩn hóa quy trình khám lâm sàng: Hướng dẫn kỹ thuật đo ĐDKM, độ cao khe mi, KCHGT, khoảng cách đồng tử, chỉ số MRD1, chức năng cơ nâng mi bằng thước đo chuyên dụng, nghiệm pháp Bell, khám đáy mắt, đo khúc xạ liệt điều tiết (Cyclogyl 1% hoặc Atropin 0,5%), đánh giá lác bằng lăng kính, sàng lọc tổn thương ngoài mắt và tư vấn sản phụ khoa - nội tiết cho bệnh nhân nữ đến tuổi dậy thì.
- Chuẩn hóa quy trình phẫu thuật một thì: Mô tả từng bước kỹ thuật đánh dấu mốc giải phẫu P1, P2, kỹ thuật rạch da Y-V, phẫu tích bộc lộ và khâu gấp dây chằng mi trong vào màng xương mào lệ trước bằng chỉ Prolene 5/0, kỹ thuật luồn chỉ Mersilene 4/0 chập đôi treo sụn mi trên vào cơ trán theo hình ngũ giác.
- Tiêu chí đánh giá kết quả: Phân loại kết quả phẫu thuật chung thành các mức Tốt, Trung bình, Kém dựa trên sự cải thiện ĐDKM, KCHGT, tỷ lệ KCHGT/ĐDKM, độ cao mi, mức độ cân xứng hai bên, tình trạng nếp quạt, chức năng che phủ giác mạc và mức độ hài lòng của bệnh nhân.
- Phương pháp xử lý số liệu và y đức: Ứng dụng các thuật toán thống kê y sinh học để so sánh các biến số định lượng trước - sau mổ, kiểm định mối liên quan giữa các yếu tố giải phẫu trước mổ với kết quả can thiệp; nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức thông qua, bệnh nhân hoặc người giám hộ ký cam kết tham gia.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ 53 bệnh nhân theo hệ thống bảng biểu và phân tích thống kê:
- Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng trước mổ:
- Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi, tỷ lệ giới tính (nam/nữ) và tiền sử gia đình (tỷ lệ có yếu tố gia đình và đột biến đơn lẻ).
- Tổn thương tại mắt: Các thông số ĐDKM, KCHGT, tỷ lệ KCHGT/ĐDKM trước phẫu thuật; mức độ sụp mi (chỉ số MRD1), hình thái sụp mi (cân xứng hoặc không cân xứng hai bên); chức năng cơ nâng mi trên; tỷ lệ tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị); tỷ lệ lác; tỷ lệ và mức độ nhược thị (một mắt hoặc hai mắt); các bất thường phối hợp (lộn mi dưới, di lệch điểm lệ, hẹp lỗ lệ, giác mạc nhỏ...).
- Tổn thương ngoài mắt: Tỷ lệ sống mũi dẹt, tai bám thấp, vành tai cụp, khe hở môi vòm, tư thế ngửa đầu bù trừ và các rối loạn kinh nguyệt ở bệnh nhân nữ.
- Kết quả phẫu thuật theo dõi dọc (1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm):
- Sự cải thiện kích thước khe mi: Độ dài khe mi tăng đáng kể, KCHGT giảm rõ rệt, tỷ lệ KCHGT/ĐDKM tiệm cận mức sinh lý qua các mốc thời gian và theo nhóm tuổi.
- Sự cải thiện sụp mi và chức năng cơ trán: Nâng cao độ mở mi, độ cong bờ mi tự nhiên, sự cân xứng mi hai mắt và sự biến mất của tư thế ngửa đầu bù trừ.
- Tình trạng nếp quạt ngược: Tỷ lệ hết hoàn toàn hoặc cải thiện rõ rệt nếp quạt sau phẫu thuật.
- Kết quả phục hồi chức năng thị giác: Sự cải thiện thị lực và tình trạng nhược thị sau khi giải phóng trục thị giác kết hợp chỉnh kính, tập nhược thị.
- Đánh giá kết quả chung và mức độ hài lòng của bệnh nhân: Tỷ lệ đạt kết quả Tốt, Trung bình, Kém và tỷ lệ hài lòng về mặt thẩm mỹ/chức năng.
- Tỷ lệ tai biến và biến chứng:
- Biến chứng trong mổ: Chảy máu, tổn thương tổ chức lân cận.
- Biến chứng sau mổ: Tình trạng hở mi và viêm biểu mô giác mạc (theo dõi mức độ thoái lui theo thời gian), sẹo vùng góc trong mắt, hiện tượng mất đồng vận mi - nhãn cầu khi nhìn xuống, tỷ lệ u hạt hoặc lộ chỉ Mersilene.
- Phân tích các yếu tố liên quan đến kết quả phẫu thuật:
- Tương quan giữa kết quả phẫu thuật với tuổi can thiệp.
- Mối liên quan giữa kết quả phẫu thuật với ĐDKM, KCHGT, độ sụp mi, mức độ nếp quạt trước mổ.
- Phân tích mối liên quan của tổ hợp ĐDKM - mức độ sụp mi và tổ hợp KCHGT - mức độ sụp mi đến tỷ lệ thành công của phẫu thuật.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung biện luận, so sánh các phát hiện của luận án với y văn trong nước và quốc tế:
- Bàn luận về đặc điểm lâm sàng: Đối chiếu tỷ lệ nhược thị, lác, tật khúc xạ của nghiên cứu với các công bố của Dawson (2003), Choi (2006) và Chawla (2013). Khẳng định nhược thị trong hội chứng BPES có cơ chế đa yếu tố (do sụp mi che lấp trục thị giác, tật khúc xạ không chỉnh và lác phối hợp), đòi hỏi can thiệp phẫu thuật sớm để mở trục thị giác.
- Bàn luận về hiệu quả phẫu thuật một thì: So sánh các chỉ số đạt được (độ tăng ĐDKM, độ giảm KCHGT, tỷ lệ KCHGT/ĐDKM) giữa phẫu thuật một thì Y-V kết hợp gấp ngắn dây chằng mi trong và treo cơ trán với các nghiên cứu phẫu thuật hai thì của Hoffer (2006), Taylor (2007), Elbakary (2015), Song (2015) và phẫu thuật một thì của Wu (2008), Sebastiá (2011), Savino (2015). Khẳng định phương pháp một thì đạt kết quả tương đương về giải phẫu nhưng vượt trội về tính kinh tế, tâm lý và thời gian phục hồi thị giác.
- Bàn luận về kỹ thuật tạo hình và vật liệu: Phân tích ưu thế của đường mổ Y-V trong việc giảm thiểu sẹo xấu ở người châu Á so với kỹ thuật Mustarde; đánh giá độ bền cơ học và tính tương thích sinh học cao của chỉ Mersilene 4/0 chập đôi so với cân đùi hoặc silicon.
- Bàn luận về biến chứng và các yếu tố tiên lượng: Phân tích cơ chế biến chứng hở mi sau mổ treo cơ trán (chủ yếu ở mức độ nhẹ, giảm dần theo thời gian và kiểm soát an toàn bằng nước mắt nhân tạo); thảo luận về các trường hợp có nếp quạt nặng hoặc tỷ lệ KCHGT/ĐDKM quá lớn ảnh hưởng đến mức độ hoàn thiện thẩm mỹ.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn
- Đóng góp về lý luận và lâm sàng:
- Cung cấp bộ dữ liệu lâm sàng toàn diện, có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam trên một mẫu nghiên cứu đủ lớn (53 bệnh nhân BPES) tại Bệnh viện Mắt Trung Ương.
- Xác định rõ tỷ lệ và mối liên quan chặt chẽ giữa các tổn thương giải phẫu mi mắt với các rối loạn chức năng thị giác (nhược thị, lác, tật khúc xạ), cung cấp bằng chứng khoa học cho thấy nhược thị ở bệnh nhân BPES mang tính chất đa căn nguyên.
- Đóng góp về mặt kỹ thuật và điều trị ngoại khoa:
- Chuẩn hóa quy trình phẫu thuật một thì phối hợp 3 kỹ thuật: tạo hình góc trong Y-V, gấp ngắn dây chằng mi trong bằng chỉ không tiêu Prolene 5/0 và treo mi trên vào cơ trán theo hình ngũ giác bằng chỉ Mersilene 4/0 chập đôi.
- Chứng minh tính khả thi, hiệu quả giải phẫu ổn định và độ an toàn cao của phẫu thuật một thì, giúp giảm số lần gây mê, giảm chi phí y tế và rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhi.
- Xác định các yếu tố nguy cơ và tổ hợp giải phẫu trước mổ (ĐDKM, KCHGT, mức độ sụp mi và mức độ nếp quạt) ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả phẫu thuật, hỗ trợ phẫu thuật viên tiên lượng chính xác trước mổ.
Khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Chỉ định phẫu thuật một thì sớm cho trẻ mắc hội chứng BPES từ 3 đến 5 tuổi nhằm giải phóng sớm trục thị giác, hạn chế tối đa nguy cơ nhược thị sâu và giảm thiểu nguy cơ hình thành sẹo xấu ở góc trong mắt.
- Triển khai mô hình phối hợp đa chuyên khoa trong quản lý bệnh nhân BPES:
- Nhãn nhi và Chỉnh quang: Đo khúc xạ liệt điều tiết, chỉnh kính tối ưu, tập nhược thị và phẫu thuật lác sau khi đã chỉnh sụp mi.
- Tạo hình nhãn khoa: Thực hiện can thiệp phẫu thuật mi chuẩn hóa.
- Nội tiết và Sản phụ khoa: Khám sàng lọc định kỳ, theo dõi nồng độ hormone sinh dục và chức năng buồng trứng cho tất cả bệnh nhân nữ đến tuổi dậy thì để phát hiện sớm suy buồng trứng sớm (BPES týp 1) và có hướng can thiệp nội tiết/hỗ trợ sinh sản kịp thời.
- Di truyền học lâm sàng: Tư vấn di truyền cho gia đình bệnh nhân về nguy cơ di truyền cho các thế hệ sau.
- Quy trình chăm sóc hậu phẫu: Sử dụng thường quy nước mắt nhân tạo dạng gel/nước và mỡ kháng sinh để bảo vệ bề mặt nhãn cầu trong giai đoạn hở mi sinh lý sau phẫu thuật treo cơ trán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu can thiệp lâm sàng tiến cứu không có nhóm chứng đối đầu ngẫu nhiên (không phân nhóm so sánh song song giữa phẫu thuật một thì và hai thì hoặc giữa các loại chất liệu treo khác nhau).
- Thời gian theo dõi dọc dừng lại ở mốc 1 năm sau mổ, chưa đánh giá được độ bền cơ học và nguy cơ tái phát sụp mi muộn sau 5 đến 10 năm của chất liệu chỉ Mersilene 4/0, cũng như sự thay đổi cấu trúc xương hàm mặt theo quá trình trưởng thành của trẻ.
- Nghiên cứu được thực hiện tại một trung tâm chuyên khoa tuyến cuối (Bệnh viện Mắt Trung Ương), chưa phản ánh mức độ phổ biến và khả năng áp dụng kỹ thuật tại các tuyến y tế cơ sở.
- Chưa thực hiện xét nghiệm di truyền phân tử để xác định chính xác các dạng đột biến gen FOXL2 trên từng bệnh nhân nghiên cứu.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục theo dõi dọc nhóm bệnh nhân đã phẫu thuật trong thời gian dài từ 5 đến 10 năm để đánh giá độ ổn định lâu dài của kết quả thẩm mỹ, chức năng và tỷ lệ biến chứng muộn.
- Thực hiện các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng so sánh đối chứng ngẫu nhiên giữa phẫu thuật một thì và phẫu thuật hai thì hoặc so sánh giữa các loại vật liệu treo cơ trán (Mersilene, silicon, cân cơ tự thân).
- Triển khai các nghiên cứu sâu về sinh học phân tử nhằm giải trình tự gen FOXL2, xác định các kiểu đột biến đặc thù trên quần thể bệnh nhân Việt Nam và tìm hiểu mối tương quan giữa kiểu gen và kiểu hình lâm sàng.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị học thuật và thực tiễn chuyên môn rõ rệt cho nhiều đối tượng:
- Đối với bác sĩ Nhãn khoa và Phẫu thuật viên Tạo hình nhãn khoa: Cung cấp bản hướng dẫn chi tiết về kỹ thuật phẫu thuật một thì phối hợp tạo hình Y-V, gấp ngắn dây chằng mi trong và treo cơ trán bằng chỉ Mersilene 4/0; cung cấp bảng kiểm các chỉ số nhân trắc học và tiêu chí tiên lượng trước mổ.
- Đối với bác sĩ Nhãn nhi và Khúc xạ nhãn khoa: Cung cấp bằng chứng thực tiễn về mối liên quan giữa BPES với nhược thị, tật khúc xạ và lác, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khám sàng lọc và tập luyện phục hồi thị giác sau mổ.
- Đối với bác sĩ Nội tiết, Sản phụ khoa và Di truyền: Cung cấp tài liệu tham khảo bệnh học về hội chứng BPES týp 1 liên quan đến suy buồng trứng sớm, hỗ trợ định hướng tầm soát vô sinh nữ và tư vấn di truyền gia đình.
- Đối với học viên sau đại học và nghiên cứu sinh: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu can thiệp lâm sàng trong phẫu thuật tạo hình mắt, phương pháp tính cỡ mẫu và chuẩn hóa quy trình thu thập số liệu nhãn khoa.
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn dấu hiệu lâm sàng kinh điển xác định hội chứng BPES là gì và bệnh được phân loại thành những týp nào?
Hội chứng BPES được đặc trưng bởi 4 dấu hiệu xuất hiện ngay khi sinh: hẹp khe mi (thu hẹp cả chiều dài và chiều cao), sụp mi nặng hai bên, nếp quạt ngược (nếp da đi từ mi dưới chạy lên góc trong) và khoảng cách hai góc trong mắt xa nhau. Bệnh phân thành hai thể: týp 1 (bao gồm 4 dấu hiệu tại mắt kèm suy buồng trứng sớm gây vô sinh ở nữ) và týp 2 (chỉ có 4 biểu hiện tổn thương tại mi mắt).
2. Phẫu thuật một thì được áp dụng trong luận án bao gồm những kỹ thuật cụ thể nào và sử dụng các loại chỉ khâu gì?
Quy trình phẫu thuật một thì gồm 3 kỹ thuật phối hợp trong cùng một ca mổ: (1) Tạo hình góc trong mắt theo kỹ thuật vạt da Y-V; (2) Khâu gấp ngắn dây chằng mi trong vào màng xương mào lệ trước bằng chỉ không tiêu Prolene 5/0; (3) Treo mi trên vào cơ trán theo hình ngũ giác Fox bằng chỉ polyester không tiêu Mersilene 4/0 chập đôi; da được đóng bằng chỉ Nylon 6/0.
3. Vì sao luận án lựa chọn kỹ thuật tạo hình góc trong Y-V thay vì kỹ thuật Mustarde?
Kỹ thuật Mustarde (4 vạt) có đường rạch phức tạp, dễ gây nhầm lẫn vạt khi chuyển và tạo nhiều sẹo co kéo ở góc trong mắt. Trong khi đó, kỹ thuật Y-V có thao tác đơn giản hơn, thời gian phẫu thuật ngắn, ít nguy cơ biến dạng tổ chức và giảm thiểu tạo sẹo xấu, rất phù hợp với đặc điểm giải phẫu góc trong hẹp ở trẻ em và tính chất da dày, dễ tăng sắc tố sẹo của người châu Á.
4. Nhược thị ở bệnh nhân mắc hội chứng BPES phát sinh do những nguyên nhân nào?
Theo luận án và các tài liệu đối chiếu, nhược thị ở bệnh nhân BPES là hậu quả của cơ chế đa yếu tố phối hợp: (1) Sụp mi mức độ nặng che lấp trục thị giác gây nhược thị do mất kích thích; (2) Tật khúc xạ đi kèm (viễn thị, loạn thị, cận thị) không được chỉnh kính; (3) Tình trạng lác phối hợp (gặp ở 20% - 27% bệnh nhân BPES).
5. Chỉ số nhân trắc học nào được sử dụng để đánh giá sự thành công của phẫu thuật điều trị hội chứng này?
Chỉ số được sử dụng phổ biến và chuẩn mực nhất là tỷ lệ giữa khoảng cách hai góc trong mắt và độ dài khe mi (KCHGT / ĐDKM). Tỷ lệ này ở người châu Á bình thường trung bình là 1,42 (dao động 1,23 - 1,64). Một ca phẫu thuật được đánh giá thành công khi tỷ lệ này giảm tiệm cận về mức bình thường (y văn thường lấy mốc < 1,3 hoặc tương đương người bình thường) mà không phụ thuộc vào độ tuổi hay kích thước hộp sọ.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh đã mô tả một cách toàn diện, hệ thống các đặc điểm lâm sàng phức tạp tại mắt và ngoài mắt của hội chứng hẹp khe mi - sụp mi - nếp quạt ngược tại Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh nguy cơ nhược thị đa cơ chế ở trẻ nhỏ. Công trình đã chuẩn hóa và chứng minh thành công hiệu quả giải phẫu, thẩm mỹ cũng như độ an toàn của phương pháp phẫu thuật một thì phối hợp tạo hình Y-V, gấp ngắn dây chằng mi trong bằng chỉ Prolene 5/0 và treo mi trên vào cơ trán bằng chỉ Mersilene 4/0 chập đôi trên cỡ mẫu 53 bệnh nhân theo dõi 1 năm. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính ưu việt của can thiệp phẫu thuật một thì sớm ở lứa tuổi 3 - 5 tuổi kết hợp quản lý đa chuyên khoa, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn giá trị cho chuyên ngành Tạo hình nhãn khoa và Nhãn nhi tại Việt Nam.