chương 1 .24 CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VÀ CAN THIỆP CHO MỘT THÂN CHỦ CÓ CÁC BIỂU HIỆN RỐI LOẠN LO ÂU. Thông tin chung về thân chủ. Các vấn đề đạo đức. Đạo đức trong tiếp nhận ca.
Đạo đức trong đánh giá và can thiệp. Hoàn cảnh gặp gỡ và lý do hỗ trợ. Ấn tượng ban đầu. Mô tả ca.
Kết quả đánh giá. Định hình trường hợp. Lập kế hoạch can thiệp. Xác định mục tiêu đầu ra.
Xác định mục tiêu quá trình. Tiến trình thực hiện can thiệp. Đánh giá hiệu quả can thiệp. Tự đánh giá về chất lượng can thiệp.
88 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO .99 2 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT APA American Psychological Association – Hiệp hội tâm lý Hoa Kì CBT Cognitive-behavioural therapy – Liệu pháp nhận thức-hành vi DASS-21 Thang đánh giá lo âu – trầm cảm - stress DSM Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders - Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần HV Học viên NTL Nhà tâm lý TC Thân chủ SAS Thang tự đánh giá lo âu Zung WHO World Health Organization – Tổ chức Y tế thế giới 3 DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ, HÌNH Danh mục bảng Bảng 1. Nguyên nhân của rối loạn lo âu. Danh sách các vấn đề của thân chủ.
Đối chiếu với tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu do bệnh cơ thể khác theo DSM-5. Kết quả đánh giá thang đo tâm lý ban đầu. Kế hoạch trị liệu dự kiến. Kết quả đánh giá thang đo tâm lý sau can thiệp.
86 Danh mục sơ đồ Sơ đồ 1: Định hình trường hợp theo mô hình 5P. Mối quan hệ giữa suy nghĩ, hành vi, cảm xúc và cơ thể trong CBT .69 Sơ đồ 3: Áp dụng mô hình CBT vào vấn đề của thân chủ .73 Danh mục hình Hình 1: Ghi chép của thân chủ về phân biệt lo âu bình thường và lo âu bệnh lý. Biểu đồ cảm xúc của thân chủ. Lý do lựa chọn đề tài Lo âu và sợ hãi là những cảm xúc cơ bản của con người nhằm giúp chúng ta nhận ra những tình huống đe dọa, nguy hiểm hoặc việc gì đó rất khó chịu và khó đối phó có thể hoặc sẽ xảy ra.
Tuy nhiên, nếu nỗi sợ hãi và lo lắng này dai dẳng và quá mức cũng như những thay đổi rối loạn chức năng hành vi có thể được sử dụng để giảm thiểu những cảm giác này, nó có thể góp phần hình thành nên rối loạn lo âu. Theo WHO (2023), ước tính có khoảng 4% dân số toàn cầu hiện đang mắc rối loạn lo âu, tương ứng với 301 triệu người. Số người bị ảnh hưởng đã tăng hơn 55% từ năm 1990 đến năm 2019. Tỷ lệ rối loạn lo âu đã gia tăng trong ba thập kỷ qua.
Các số liệu về rối loạn lo âu cho thấy tỷ lệ phổ biến, tỷ lệ mắc bệnh ngày càng tăng. Bồ Đào Nha có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (8.671 trường hợp trên 100.000), tiếp theo là Brazil, Iran và New Zealand. Tỷ lệ rối loạn lo âu cao hơn ở các khu vực có thu nhập cao, có liên quan đến sự phát triển kinh tế nhiều hơn, dân số già phụ thuộc cao hơn và đô thị hóa (Javaid và cộng sự, 2023). Ở Việt Nam, một nghiên cứu về dịch tễ học trên toàn quốc của Bệnh viện Tâm thần Trung ương I về 10 rối loạn tâm thần phổ biến cho thấy khoảng 14,9% dân số có vấn đề liên quan đến rối loạn tâm thần, trong đó lo âu là 2,6%.
Cùng với đó, kết quả một nghiên cứu trên 380 người lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy số người mắc các triệu chứng rối loạn lo âu từ nhẹ đến rất nặng lần lượt là 11,32%, 21,05%, 7,11% và 7,89%, còn lại 52,63% ở trạng thái bình thường (Nguyễn Thị Phương Thoa, 2024). Rối loạn lo âu cản trở người mắc phải các hoạt động hàng ngày và có thể làm suy giảm cuộc sống gia đình, xã hội và trường học hoặc công việc (WHO, 2023). Không những vậy, rối loạn lo âu thường xảy ra cùng với các rối loạn khác như trầm cảm, rối loạn triệu chứng cơ thể, rối loạn nhân cách, rối loạn sử dụng chất, … (Kessler và cộng sự, 2005). Nếu không được điều trị từ sớm thì rối loạn lo âu thường có xu hướng trở thành mãn tính và kéo dài đến tuổi trưởng thành (Hill và cộng sự, 2016).
5 Trong khi đó, rối loạn lo âu lan tỏa ảnh hưởng đến 6,8 triệu người trưởng thành ở Hoa Kỳ tương đương 3,1% dân số, tuy nhiên chỉ có 43,2% được điều trị (Weisberg, 2009). Mặc dù đã có các phương pháp điều trị rối loạn lo âu hiệu quả cao nhưng chỉ có khoảng 1 trong 4 người có nhu cầu (27,6%) nhận được bất kỳ phương pháp điều trị (Alonso và cộng sự, 2018) và chưa đến 30% số người mắc chứng rối loạn lo âu tìm cách điều trị (Lepine, 2002). Ở Việt Nam, vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung, rối loạn lo âu nói riêng chủ yếu được điều trị bằng thuốc, về phương pháp tâm lí thì vẫn còn hạn chế. Bên cạnh đó, liệu pháp Nhận thức-Hành vi (CBT) là một trong những liệu pháp tâm lí phổ biến cũng đã được chứng minh rõ ràng về hiệu quả điều trị rối loạn lo âu ở người lớn bởi vô số nghiên cứu lâm sàng và thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát tốt (DiMauro, 2013).
Có thể thấy, tỷ lệ người mắc rối loạn lo âu trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng ngày càng gia tăng và gây nhiều khó khăn cho người mắc phải nên việc được phát hiện và điều trị kịp thời là rất cần thiết. Tại Việt Nam, hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu về số người có rối loạn lo âu được điều trị và hiệu quả can thiệp bằng phương pháp tâm lý. Do đó, học viên quyết định thực hiện đề án: “Hỗ trợ tâm lý cho một thân chủ có các biểu hiện rối loạn lo âu” để làm phong phú thêm dữ liệu đánh giá hiệu quả của liệu pháp tâm lý trong việc hỗ trợ vấn đề về lo âu. Nhiệm vụ nghiên cứu - Trình bày cơ sở lý luận về rối loạn lo âu: tổng quan các nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu, các khái niệm và công cụ được sử dụng trong đề án.
- Tiến hành đánh giá vấn đề, định hình trường hợp, xây dựng kế hoạch can thiệp và thực hiện can thiệp cho một thân chủ có các biểu hiện rối loạn lo âu. - Đánh giá quá trình thực hiện và hiệu quả can thiệp, từ đó đưa ra kết luận và khuyến nghị cho các ca có các triệu chứng rối loạn lo âu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỐI LOẠN LO ÂU 1. Tổng quan nghiên cứu về rối loạn lo âu 1.
Các nghiên cứu về thực trạng rối loạn lo âu Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất. Các cuộc khảo sát khác nhau cho thấy vấn đề lo âu ảnh hưởng đến 1/8 tổng dân số thế giới và tỷ lệ kéo dài suốt đời là 24,9%. Dữ liệu này cho thấy rối loạn lo âu mang tính mãn tính hơn rối loạn cảm xúc hoặc lạm dụng chất gây nghiện (Cates và cộng sự, 1996). Tỷ lệ mắc rối loạn lo âu rất khó xác định chính xác vì những thay đổi nhỏ trong tiêu chuẩn chẩn đoán, công cụ phỏng vấn hoặc phương pháp nghiên cứu cũng ảnh hưởng đến kết quả.
Tỷ lệ của các loại rối loạn lo âu trên toàn thế giới là khác nhau (Cates và cộng sự, 1996). Theo WHO (2023), 301 triệu người trên thế giới mắc rối loạn lo âu và khiến rối loạn lo âu trở thành rối loạn tâm thần phổ biến nhất năm 2019. Chúng ảnh hưởng đến gần 30% người trưởng thành tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời họ (APA, 2023). Một nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật toàn cầu cho thấy số người mắc rối loạn lo âu tăng từ 232,6 triệu người năm 2005 lên 267,2 triệu người vào năm 2015 (Vos và cộng sự, 2016).
Khi xem xét 27 nghiên cứu dịch tễ học về một loạt các rối loạn tâm thần ở các nước Châu Âu, Wittchen và Jacobi (2005) đã so sánh tỷ lệ phổ biến ở 16 quốc gia châu Âu. Những phát hiện này rất không đồng nhất. Ví dụ, tỷ lệ trong 12 tháng được phát hiện là từ 0,6 đến 7,9% đối với ám sợ xã hội và từ 0,2 đến 4,3% đối với rối loạn lo âu lan tỏa ở các quốc gia khác nhau. Tương tự như vậy, các bài báo khác so sánh tỷ lệ của rối loạn hoảng sợ ở các quốc gia và nền văn hóa khác nhau (bao gồm Canada, Đức, Ý, Hàn Quốc, Lebanon, New Zealand, Puerto Rico, Hoa Kỳ và Đài Loan) cho thấy tỷ lệ phổ biến có sự khác biệt lớn (Bandelow và cộng sự, 2015).
Bên cạnh đó, Naveed và cộng sự (2020) đã phân tích dữ liệu 160 nghiên cứu được xuất bản từ năm 2009 đến năm 2019 cho thấy tỉ lệ lo âu là 25,8% (n = 70.058), lo âu và trầm cảm hỗn hợp là 28,4% (n = 11.102), rối loạn lo âu lan tỏa là 2,9% (n = 70.058), rối loạn hoảng sợ là 0,01% (n = 28. 7 Ở Việt Nam, một nghiên cứu trên 210 bệnh nhân đái tháo đường, tăng huyết áp tại bệnh viện huyện Bình Chánh có đến 88.57% mắc rối loạn lo âu, trong đó mức độ nhẹ chiếm 17. Kết quả nghiên cứu trên 171 nhân viên y tế tại Bệnh viện Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2021 cho thấy 56,7% có biểu hiện lo âu (Trần Văn Thiện, 2021). Nghiên cứu trên sinh viên đại học Y Hà Nội cho thấy kết quả tỉ lệ rối loạn lo âu là 9,8% (95% C.
Một nghiên cứu khác ở học sinh lớp 12 tại 2 trường THPT của thành phố Thái Bình cho thấy tỷ lệ học sinh có biểu hiện lo âu là 24%, trầm cảm là 60%. Về mức độ, tỷ lệ lo âu từ nhẹ, vừa, nặng, rất nặng lần lượt là 10,5%; 6,8%; 4,5%; 2,2% (Ngô Văn Mạnh và cộng sự, 2021). Thêm nữa, kết quả nghiên cứu trên 243 trẻ vị thành niên mắc bệnh thận mạn đang điều trị tại bệnh viện Nhi Trung Ương chỉ ra tỷ lệ trẻ mắc lo âu là 42,4%, trẻ mắc cả lo âu và trầm cảm là 25,1%. Trong đó lo âu chủ yếu mức độ nhẹ và vừa với tỷ lệ lần lượt là 14% và 13,6% (Nguyễn Thị Dậu và cộng sự, 2023).