Chương 1: Cơ sở lý luận về rồi loạn lo âu + Chương 2: Đánh giá và can thiệp trường hợp cụ thể - Phần 3: Kết luận và khuyến nghị CHUONG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VE ROI LOẠN LO ÂU 1. Tổng quan các nghiên cứu về rối loan lo âu 1. Số liệu dịch tễ bệnh nhân có rỗi loạn lo âu liên quan đến đại dich COVID — 19 Theo khảo sát của MHA — Mental Health America (2020) cho thấy số người có dấu hiệu lo âu và tram cảm tăng đỉnh điểm vào tháng 9/2020 kể từ khi bắt đầu đại dịch COVID - 19. Có 19% (47,1 triệu người) tại Mỹ đang có van đề về sức khỏe tâm thần, tăng 1,5 triệu so với năm 2019.
Nghiên cứu của Anjel Vahratian và cộng sự (2021) khảo sát các hộ gia đình tại Hoa Kỳ mô tả tỉ lệ phần trăm người lớn có các triệu chứng của rối loạn lo âu hoặc tram cảm và những người tìm kiếm các dich vụ sức khỏe tâm than trong bối cảnh đại dịch COVID — 19, từ 19/8/2020 đến ngày 1/2/2021 cho thay, tỉ lệ người lớn có các triệu chứng lo âu hoặc trầm cảm trong 7 ngày tăng từ 36,4% lên 41,5%. Mức tăng cao nhất nhất là ở người 18 — 29 tuổi và ở những người có trình độ dưới Trung học phổ thông. Trong thời gian từ ngày 19 — 31/8/2020 đến ngày 9 — 21/12/2020, tỉ lệ người trưởng thành báo cáo đã trải qua các triệu chứng của rối loạn lo âu tăng từ 31,4% lên 36,9% và trầm cảm từ 24,5% lên 30,2%. Nghiên cứu của Yeen Huang và Ning Zhao (2020) đánh giá gánh nặng sức khỏe tâm thần của người dân tại Trung Quốc trong thời gian bùng phát dịch bệnh COVID - 19 trên 7236 tình nguyện viên.
Kết quả cho thấy, tỉ lệ người có dấu hiệu của rối loạn lo âu là 35,1%. Bên cạnh đó, những người dudi 35 tuổi có nhiều khả năng rối loạn lo âu hơn những người trên 35 tuổi. Họ nhận thấy rằng 1/3 người tham gia có biểu hiện rối loạn lo âu không khác biệt về giới tính như các nghiên cứu trước đây. Một nghiên cứu khác của Alvaro Monterrosa — Castro và cộng sự (2020) được thực hiện trên bác sĩ đa khoa tại Colombia.
Kết quả cho thấy, các triệu chứng lo âu được xác định ở 4 trong số 10 bác sĩ đa khoa Colombia, các triệu chứng xuất hiện nhiều ở: nữ giới; bất đồng văn hóa; đau khổ, thất vọng trong công việc; ác mộng, căng thang và các triệu chứng sợ hãi khác liên quan đến đại dịch. Ngược lại, nhóm những người được Nhà nước hoặc người sử dụng lao động bảo vệ, cảm thấy hài lòng với công việc của họ; với tư cách là một bác sĩ, họ tin tưởng vào các biện pháp, thông tin của Chính phủ. Ở nhóm này có ít các triệu chứng lo âu hơn. Phát hiện này nhắn mạnh tầm quan trọng của các biện pháp can thiệp tâm lý và tâm thần kịp thời.
Các tác giả kiến nghị các cơ quan chức năng nên quan tâm đến sức khỏe tâm thần trong thời gian khủng hoảng dé giảm nguy cơ phát triển rối loạn tâm than. Dai dịch COVID - 19 cũng ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần của người Việt Nam. Nghiên cứu của Ngô Thị Kim Yến và cộng sự (2021), trên 602 cán bộ y tế đang công tác tại các cơ sở y tế tuyến đầu chống dịch, tỉ lệ có biểu hiện rối loạn lo âu ở mức rất cao (70,1%). Tỉ lệ đối tượng rỗi loan lo âu nhẹ, vừa, nặng và rất nặng lần lượt là 6,6%, 18,8% và 44,6% % tông số khách thể.
Nghiên cứu chỉ ra trang thái lo âu của các cán bộ tuyến đầu chống dịch bị tác động nhiều bởi dich COVID — 19 trong thời điểm Đà Nẵng được xem là tâm dịch của cả nước. Ngày 20/9/2021, thông tin từ BV Hồi sức COVID - 19 Thành phố Hồ Chí Minh (do BV Chợ Rẫy phụ trách) cho biết, theo kết quả khảo sát đánh giá sức khỏe tâm thần của người bệnh tại các khoa điều trị ở BV Hồi sức COVID — 19 được thực hiện theo sự chỉ đạo của Ban Giám đốc bệnh viện, tỉ lệ bệnh nhân COVID - 19 bị trầm cảm là 20%, rối loạn lo âu là 53,3% và stress là 16,7% (Bộ Y Tế, 2021). Như vậy, theo số liệu dịch té trong và ngoài nước, tỉ lệ mắc các rối loạn tâm thần có liên quan đến dai dịch COVID — 19 cho thấy mức độ ảnh hưởng của đại dịch COVID — 19 không chi là về sức khỏe thé chất mà còn đem lại những van dé về sức khỏe tâm thần, khiến chất lượng cuộc sống suy giảm, trong đó có rối loạn lo âu. Tổng quan nghiên cứu về bệnh nhân cường giáp có biểu hiện lo âu Theo Igor Kravets (2016), cường giáp là tình trạng nồng độ hormone tuyến giáp quá mức trong các mô do tăng tổng hợp hormone tuyến giáp, giải phóng quá mức hormone tuyến giáp được hình thành trước hoặc nguồn ngoại sinh hoặc nội sinh.
Triệu chứng lâm sàng bao gồm: đánh trống ngực, tim đập nhanh, lo lắng, run, toát m6 hôi, khó thở, khó ngủ, sụt kí mặc dù ăn uống bình thường hoặc ăn ngon miệng, đi tiéu thường xuyên, áp lực, rối loạn tâm than. Nghiên cứu của M. Murat Demet và cộng sự (2002) về trầm cảm và lo âu trong cường giáp kết luận rang cường giáp và hội chứng tram cảm — lo âu có những đặc điểm trùng lặp có thé gây chan đoán nhằm trong giai đoạn cấp tính. Dé chan đoán phân biệt, nên theo dõi bệnh nhân cường giáp với điều trị nội tiết cụ thể và đánh giá các triệu chứng dai dang sau đó.
Ngoài các triệu chứng cụ thé của cường giáp, chậm phát triển tâm thần, cảm giác tội lỗi, đau cơ, mat năng lượng và mệt mỏi dường như xuất hiện thường xuyên hơn ở những bệnh nhân mắc bệnh tram cảm và cường giáp; do đó, sự hiện diện của các triệu chứng này nên là một dấu hiệu cảnh báo cho các chuyên gia về nhu cầu tham vấn tâm lý. Nghiên cứu khác của S. Gulseren và cộng sự (2006) về tram cảm, lo âu, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và tình trạng suy nhược ở bệnh nhân rối loạn chức năng tuyến giáp cận lâm sàng cho thấy các triệu chứng lo âu và trầm cảm nặng hơn ở những bệnh nhân suy giáp và cường giáp. Nghiên cứu này gợi ý rằng việc phục hồi chức năng tuyến giáp cần đi kèm với việc cải thiện chất lượng cuộc sống và các triệu chứng tâm lý.
Nghiên cứu của Sheikh Shoib và cộng sự (2021) về trầm cảm và lo âu ở bệnh nhân nữ mắc cường giáp và tác động điều tri cho thấy tỉ lệ rỗi loạn tâm than ở nhóm cường giáp cao. Đặc biệt là tỉ lệ rỗi loạn trầm cảm nặng, tự tử, rỗi loạn lo âu, các cơn hoảng sợ và sợ hãi. Trong một số trường hợp, tỉ lệ rối loạn tâm thần giảm đi sau khi điều trị nội tiết. Các nghiên cứu cho thấy rằng các triệu chứng lâm sàng của bệnh cường giáp có những đặc điểm trùng lặp với rỗi loạn lo âu như mệt mỏi, lo lắng, run tay, dé nhiều mồ hôi, hồi hộp đánh trống ngực,.
Các triệu chứng nay cũng xuất hiện ở thân chủ X và gia tăng khi TC gặp áp lực về công việc, lo sợ bị đuổi việc; ảnh hưởng tới mối quan hệ đồng nghiệp và người yêu, sợ người khác đánh giá bản thân. Tổng quan nghiên cứu trị liệu tâm lý theo tiếp cận nhận thức — hành vi cho người có rồi loạn lo âu Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã chứng minh hiệu quả của các can thiệp tâm lý khác nhau cho rối loan lo âu giúp giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh, như: liệu pháp nhận thức, liệu pháp hành vi, liệu pháp thư giãn, liệu pháp giáo dục tâm lý. Tuy nhiên, liệu pháp nhận thức — hành vi (Cognitive Behavioral Therapy — CBT) là một liệu pháp tâm lý định hướng hiện tại, có cấu trúc, đã được thử nghiệm khoa học và phát hiện có hiệu quả trong hơn 2.000 nghiên cứu dé điều trị nhiều tình trang sức khỏe và sức khỏe tâm thần khác nhau. Khi được thực hiện một cách chính xác, CBT sẽ giúp các cá nhân trở nên tốt hơn và song tốt hơn (Theo Beck Institute, 2022).
Trong nghiên cứu của Christian Otte (2011) về liệu pháp nhận thức — hành vi (CBT) trong rối loạn lo âu nói răng rất nhiều nghiên cứu đã kiểm tra tính hiệu quả của CBT đối với chứng rối loạn lo âu ở người lớn. Đánh giá này nhằm mục đích tóm tắt và thảo luận về tình trạng hiện tại của các bang chứng liên quan đến điều trị CBT đối với chứng rỗi loạn hoảng sợ, rồi loạn lo âu lan tỏa, rỗi loạn lo âu xã hội, rỗi loạn ám ảnh cưỡng chế và rối loạn căng thăng sau chấn thương. Nhìn chung, CBT thê hiện cả hiệu quả trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng và hiệu quả trong môi trường tự nhiên trong điều trị rối loạn lo âu ở người lớn. Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên của Chen Hui và Yang Zhihui (2016) cho 63 người lớn tuổi ở Trung Quốc mac rối loạn lo âu.
Trong đó có 32 người được phân vào nhóm ngẫu nhiên để trị liệu bằng liệu pháp nhận thức — hành vi (CBT) và 31 người không được điều trị. Kết quả cho thấy, so với nhóm người không được điều trị, điểm số thang do của nhóm tri liệu bằng CBT giảm rõ rệt sau can thiệp và sự duy trì hiệu quả sau 6 tháng. Reuben Kindred và cộng sự (2022) nghiên cứu kết quả lâu dài của liệu pháp nhận thức — hành vi đối với rối loạn lo âu xã hội, kết quả phân tích tổng hợp cho thay rằng CBT đối với rỗi loạn lo âu xã hội có hiệu quả trong việc giảm các triệu chứng lo âu xã hội kéo dài 12 tháng hoặc lâu hơn sau khi ngừng trị liệu. Lợi ích đạt 11 được trong các triệu chứng tram cảm và lo âu nói chung cũng được duy trì 1 năm hoặc hơn sau khi trị liệu.
Liệu pháp nhận thức — hành vi tao ra sự gia tang vừa phải về chất lượng cuộc sông và những lợi ích bố sung sau khi kết thúc trị liệu. Tóm lại, các nghiên cứu đều chứng minh và áp dụng hiệu quả liệu pháp nhận thức — hành vi (CBT) trong việc can thiệp rối loạn lo âu; giúp thân chủ kiểm soát tốt hơn các tình huống, suy nghĩ, cảm xúc, hành vi của mình. Một số nghiên cứu cũng đã chứng minh liệu pháp nhận thức — hành vi có hiệu quả đối với người có rối loạn lo âu liên quan đến đại dịch COVID — 19.