Đặc điểm lâm sàng và điều trị trầm cảm ở người bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực

Luận án nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và thực trạng điều trị trầm cảm ở bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực tại viện sức khỏe tâm thần.

Trường đại học

Viện Sức Khỏe Tâm Thần

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
179
10
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. TRẦM CẢM VÀ RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC

1.1.1. Khái niệm về trầm cảm và rối loạn cảm xúc lưỡng cực

1.1.2. Lịch sử nghiên cứu, tên gọi, định nghĩa và phân loại rối loạn cảm xúc lưỡng cực

1.1.3. Bệnh nguyên, bệnh sinh rối loạn cảm xúc lưỡng cực

1.2. ĐẶC ĐIỂM TRẦM CẢM TRONG RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC

1.2.1. Đặc điểm chung của trầm cảm

1.2.2. Những đặc điểm trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực

1.3. ĐIỀU TRỊ TRẦM CẢM TRONG RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC

1.3.1. Nguyên tắc điều trị

1.3.2. Các lựa chọn điều trị. Tái diễn giai đoạn bệnh và sự phục hồi chức năng

1.4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI

1.4.1. Nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực

1.4.2. Nghiên cứu về thực trạng điều trị trầm cảm

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.3. Các công cụ nghiên cứu. Các biến số nghiên cứu

2.2.4. Cách thức thu thập số liệu

2.2.5. Xử lý số liệu, bàn luận kết luận và công bố khoa học

2.3. PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

2.4. CÁC SAI SỐ TRONG NGHIÊN CỨU VÀ CÁCH KHẮC PHỤC. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG NHÓM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.1. Đặc điểm giới tính, nhóm tuổi tại thời điểm nghiên cứu

3.1.2. Đặc điểm về nơi cư trú, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh sống, trình độ học vấn

3.1.3. Đặc điểm về học vấn, nghề nghiệp

3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG TRẦM CẢM TRONG RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC

3.2.1. Đặc điểm tiền sử rối loạn/ bệnh

3.2.2. Đặc điểm trầm cảm ở bệnh nhân nghiên cứu

3.2.3. Đặc điểm đáp ứng điều trị

3.3. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU TRỊ TRẦM CẢM TRONG RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC

3.3.1. Đặc điểm số ngày điều trị theo thể bệnh

3.3.2. Đặc điểm sử dụng thuốc

3.3.3. Đặc điểm sự thuyên giảm các triệu chứng

3.3.4. Đặc điểm tình trạng bệnh lúc ra viện

3.3.5. Sự tuân thủ điều trị

3.3.6. Sự tái diễn, tái phát sau 12 tháng theo dõi. Chức năng cá nhân, nghề nghiệp, xã hội sau 12 tháng theo dõi

3.3.7. Một số yếu tố liên quan ảnh hưởng đến sự tái phát, tái diễn rối loạn cảm xúc lưỡng cực sau 12 tháng theo dõi điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG NHÓM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1.1. Đặc điểm giới tính, tuổi bệnh nhân tại thời điểm nghiên cứu

4.1.2. Đặc điểm về nơi cư trú, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh sống, trình độ học vấn

4.1.3. Đặc điểm về học vấn, nghề nghiệp

4.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG TRẦM CẢM TRONG RLCXLC

4.2.1. Đặc điểm tiền sử rối loạn bệnh

4.2.2. Đặc điểm lâm sàng trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực

4.3. THỰC TRẠNG ĐIỀU TRỊ TRẦM CẢM TRONG RLCXLC

4.3.1. Đặc điểm số ngày điều trị theo thể bệnh

4.3.2. Đặc điểm sử dụng thuốc

4.3.3. Đặc điểm thuyên giảm các triệu chứng

4.3.4. Đặc điểm tình trạng bệnh lúc ra viện

4.3.5. Đặc điểm sự tuân thủ sau 12 tháng theo dõi. Sự tái diễn, tái phát sau 12 tháng theo dõi. Chức năng cá nhân, nghề nghiệp, xã hội sau 1 năm theo dõi

4.3.6. Một số yếu tố liên quan tới tái phát, tái diễn giai đoạn bệnh

4.4. NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về trầm cảm và rối loạn cảm xúc lưỡng cực

Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý phổ biến trong tâm thần học, đặc trưng bởi sự ức chế toàn bộ các hoạt động tâm thần. Rối loạn cảm xúc lưỡng cực (RLCXLC) là một rối loạn cảm xúc nội sinh, mạn tính, với các giai đoạn hưng cảm và trầm cảm xen kẽ. Việc nhận diện sớm rối loạn này từ những giai đoạn trầm cảm ban đầu là một thách thức lớn cho các nhà lâm sàng. Theo nghiên cứu, có tới 51,6% bệnh nhân có biểu hiện giai đoạn đầu tiên là trầm cảm. Điều này dẫn đến việc chẩn đoán và điều trị không kịp thời, ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh. Việc sử dụng thuốc chống trầm cảm đơn thuần có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, như tăng cường các giai đoạn rối loạn cảm xúc và làm tăng chi phí điều trị. Mục tiêu điều trị là giúp bệnh nhân sớm thuyên giảm bệnh, ngăn ngừa xuất hiện các trạng thái cảm xúc khác và nâng cao chất lượng cuộc sống.

1.1 Khái niệm về trầm cảm và rối loạn cảm xúc lưỡng cực

Trầm cảm được định nghĩa là một hội chứng do ba nhóm nguyên nhân gây ra: trầm cảm nội sinh, trầm cảm do stress và trầm cảm thực tổn. RLCXLC được biết đến từ thời Hypocrate, với các thuật ngữ như thao cuồng và sầu uất. Năm 1899, Emil Kraepelin đã mô tả rối loạn này và nhận thấy khuynh hướng tái phát của nó. Định nghĩa hiện tại của ICD-10 và DSM-V đã phân loại RLCXLC thành nhiều thể khác nhau, phản ánh sự phức tạp của bệnh lý này.

1.2 Đặc điểm trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực

Trầm cảm trong RLCXLC có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm sự xuất hiện của các triệu chứng trầm cảm điển hình và không điển hình. Các triệu chứng này có thể bao gồm cảm giác buồn bã, mất hứng thú, và suy giảm năng lượng. Đặc biệt, sự tương tác giữa các giai đoạn hưng cảm và trầm cảm có thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của triệu chứng trầm cảm. Việc hiểu rõ các đặc điểm này là rất quan trọng để cải thiện quy trình chẩn đoán và điều trị.

II. Điều trị trầm cảm trong rối loạn cảm xúc lưỡng cực

Điều trị trầm cảm trong RLCXLC cần tuân thủ các nguyên tắc điều trị cụ thể. Các lựa chọn điều trị bao gồm thuốc chỉnh khí sắc, thuốc chống trầm cảm và liệu pháp tâm lý. Việc sử dụng thuốc cần được theo dõi chặt chẽ để tránh tình trạng tái phát và tái diễn. Tái diễn giai đoạn bệnh và sự phục hồi chức năng là những yếu tố quan trọng trong quá trình điều trị. Nghiên cứu cho thấy rằng sự tuân thủ điều trị có ảnh hưởng lớn đến kết quả điều trị và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

2.1 Nguyên tắc điều trị

Nguyên tắc điều trị trầm cảm trong RLCXLC bao gồm việc xác định đúng loại thuốc và liều lượng phù hợp. Việc điều trị cần được cá nhân hóa dựa trên tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Các thuốc chỉnh khí sắc thường được ưu tiên sử dụng để kiểm soát các giai đoạn hưng cảm và trầm cảm. Đồng thời, việc kết hợp với liệu pháp tâm lý cũng rất quan trọng để hỗ trợ bệnh nhân trong quá trình điều trị.

2.2 Các lựa chọn điều trị

Các lựa chọn điều trị cho bệnh nhân trầm cảm trong RLCXLC bao gồm thuốc chống trầm cảm, thuốc ổn định tâm trạng và liệu pháp tâm lý. Việc lựa chọn thuốc cần dựa trên các triệu chứng cụ thể của bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng thuốc chống trầm cảm đơn thuần có thể dẫn đến tình trạng hưng cảm, do đó cần thận trọng trong việc chỉ định. Liệu pháp tâm lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện tình trạng tâm lý và chức năng xã hội của bệnh nhân.

III. Một số nghiên cứu trong nước và trên thế giới

Nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của trầm cảm trong RLCXLC đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, cung cấp thông tin quý giá cho việc chẩn đoán và điều trị. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về thực trạng điều trị trầm cảm trong RLCXLC vẫn còn hạn chế. Việc đánh giá thực trạng điều trị giúp nhận diện những khó khăn trong quy trình điều trị và tìm ra giải pháp cải thiện. Các nghiên cứu này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức về bệnh lý và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần.

3.1 Nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng

Nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của trầm cảm trong RLCXLC đã chỉ ra rằng triệu chứng trầm cảm có thể khác nhau giữa các bệnh nhân. Các yếu tố như giới tính, độ tuổi và tình trạng hôn nhân có thể ảnh hưởng đến biểu hiện triệu chứng. Việc hiểu rõ các đặc điểm này giúp các nhà lâm sàng đưa ra chẩn đoán chính xác hơn và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

3.2 Nghiên cứu về thực trạng điều trị

Nghiên cứu về thực trạng điều trị trầm cảm trong RLCXLC cho thấy nhiều bệnh nhân không nhận được điều trị đầy đủ. Các yếu tố như thiếu thông tin, sự kỳ thị xã hội và khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần là những rào cản lớn. Cần có các biện pháp can thiệp để nâng cao nhận thức và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ cho bệnh nhân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. TRẦM CẢM VÀ RỐI LOẠN CẢM XÚC LƯỠNG CỰC 1. Khái niệm về trầm cảm và rối loạn cảm xúc lưỡng cực Trầm cảm là một trạng thái bệnh lý của cảm xúc, biểu hiện bằng quá trình ức chế toàn bộ các hoạt động tâm thần: chủ yếu là ức chế cảm xúc, ức chế tư duy, và ức chế vận động [4]. Trầm cảm là một hội chứng, do ba nhóm nguyên nhân gây ra: trầm cảm nội sinh (trầm cảm trong rối loạn trầm cảm tái diễn (RLTCTD), rối loạn cảm xúc lưỡng cực (RLCXLC), rối loạn phân liệt cảm xúc…), trầm cảm do stress (trầm cảm xuất hiện sau các stress, phản ứng trầm cảm…), và trầm cảm thực tổn (trầm cảm do các bệnh thực tổn ở não hoặc các bệnh toàn thân, do nhiễm độc rượu…).

RLCXLC là một rối loạn cảm xúc nội sinh, mạn tính, đặc trưng bởi các giai đoạn hưng cảm (GĐHC) hay hưng cảm nhẹ xen kẽ lẫn nhau hay đi kèm với các giai đoạn trầm cảm (GĐTC) [5],[6]. RLCXLC còn được gọi là rối loạn hưng trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn phổ lưỡng cực [5] 1. Lịch sử nghiên cứu, tên gọi, định nghĩa và phân loại rối loạn cảm xúc lưỡng cực RLCXLC đã được biết đến từ thời Hypocrate với các thuật ngữ mô tả rối loạn cảm xúc như thao cuồng (mania) và sầu uất (melancholia). Năm 1899, Emil Kraepelin đã mô tả thao cuồng và sầu uất là hai hình thái đối lập nhau trong một bệnh cảnh và đã đặt tên là “loạn thần hưng trầm cảm” (Psychose maniaco - dépressive: PMD).

Ông nhận thấy ở những bệnh nhân này có khuynh hướng tái phát, tiên lượng tốt sau những cơn đầu và không bị sa sút trí tuệ như ở bệnh tâm thần phân liệt. Đến năm 1957, Karl Leonhard đề xuất 4 phân loại rối loạn cảm xúc (affective disorders) thành 2 thể: rối loạn cảm xúc đơn cực (unipolar disorder) và RLCXLC (Bipolar disorder) [7].  ICD - 10 định nghĩa RLCXLC là rối loạn đặc trưng bởi ít nhất từ hai giai đoạn bệnh với khí sắc và mức độ hoạt động của bệnh nhân bị rối loạn rõ rệt [8]. Rối loạn này bao gồm từng lúc có sự tăng khí sắc, sinh lực và hoạt động (hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm) và những lúc khác có sự giảm khí sắc, sinh lực và hoạt động (trầm cảm).

Các giai đoạn bệnh lặp lại chỉ có hưng cảm hoặc hưng cảm nhẹ cũng được phân loại là RLCXLC. Định nghĩa của ICD - 10 bao gồm các phân nhóm nhỏ sau đây phản ánh bản chất của giai đoạn bệnh hiện thời: - Hiện tại giai đoạn hưng cảm nhẹ (F31.0) - Hiện tại giai đoạn hưng cảm không có các triệu chứng loạn thần (F31.1) - Hiện tại giai đoạn hưng cảm có các triệu chứng loạn thần (F31.2) - Hiện tại giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc vừa (F31.3) - Hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng không có các triệu chứng loạn thần (F31.4) - Hiện tại giai đoạn trầm cảm nặng có các triệu chứng loạn thần (F31.5) - Hiện tại giai đoạn hỗn hợp (F31.6) - Hiện tại giai đoạn thuyên giảm (F31.8) - Không biệt định (F31.9)  Theo DSM – IV - TR, RLCXLC xảy ra ngay cả chỉ với một thời kỳ tăng khí sắc đơn lẻ mà không phải do lạm dụng chất hoặc một bệnh cơ thể [9]. Trong DSM - IV bao gồm 4 loại trong phổ lưỡng cực phản ánh các hình thái bệnh đã xảy ra trong cuộc đời của bệnh nhân: - RLCXLC I: có ít nhất một GĐHC hoặc hỗn hợp; thường có các GĐTC điển hình nhưng không bắt buộc phải có. - RLCXLC II: có ít nhất một GĐHC nhẹ và ít nhất một GĐTC điển hình; không có các GĐHC hoặc hỗn hợp.

5 - Rối loạn khí sắc chu kỳ: các triệu chứng trầm cảm và hưng cảm nhẹ kéo dài, không có các giai đoạn trầm cảm điển hình hoặc hưng cảm. - RLCXLC không biệt định: các triệu chứng hưng cảm nhưng không đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán lưỡng cực I, lưỡng cực II hoặc khí sắc chu kỳ; các triệu chứng trầm cảm không bắt buộc phải có. DSM - IV - TR bao gồm các loại sau để chỉ rõ tính chất của giai đoạn bệnh hiện thời: - Hiện tại giai đoạn trầm cảm điển hình - Khí sắc chu kỳ - Hiện tại giai đoạn hưng cảm - Chu kỳ nhanh - Hiện tại giai đoạn hưng đoạn cảm nhẹ - Không biệt định - Hiện tại giai đoạn hỗn hợp  DSM-V [10] RLCXLC I hiện nay là khái niệm thay thế cho rối loạn hưng - trầm cảm trước đây hay loạn thần cảm xúc được mô tả trong thế kỉ 19, khác với mô tả cổ điển về một rối loạn không có cả triệu chứng loạn thần hoặc giai đoạn trầm cảm điển hình. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân có các triệu chứng đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của GĐHC thì cũng có những GĐTC điển hình.

RLCXLC II, yêu cầu phải có ít nhất 1 GĐTC điển hình và ít nhất một GĐHC nhẹ. Hiện nay, nó không bị coi là nhẹ hơn RLCXLC I nữa vì khoảng thời gian bệnh nhân bị trầm cảm và cảm xúc không ổn định ở những bệnh nhân này thường gây suy giảm nghiêm trọng chức năng nghề nghiệp và xã hội. Bệnh nguyên, bệnh sinh rối loạn cảm xúc lưỡng cực 1. Sinh bệnh học của trầm cảm Bệnh nguyên, bệnh sinh của trầm cảm được nghiên cứu từ lâu và đã có rất nhiều giả thuyết khác nhau giải thích về trầm cảm.

Tuy nhiên, mô hình sinh bệnh học của Akiskal và Mckinney (1973) được nhiều tác giả ủng hộ 6 [11]. Mô hình này mô tả sự tác động qua lại giữa yếu tố sinh học của cá thể, các yếu tố gây stress ngoại sinh và vòng hệ viền - vỏ não. Khi hệ thống này mất bù sẽ dẫn đến rối loạn trầm cảm.  Tiền sử gia  Môi trường đình CƠ ĐỊA YẾU TỐ NGOẠI SINH  Sang chấn  Giới nữ SINH HỌC GÂY STRESS sớm  Các yếu tố  Sự kiện sinh hóa trong cuộc  Các yếu tố sống phân tử Cân bằng nội môi  Bệnh lý cơ thể VÒNG HỆ VIỀN – VỎ NÃO Sự mất bù Điều trị GIAI ĐOẠN TRẦM CẢM Hình 1.1: Mô hình sinh bệnh học trầm cảm của Akiskal và Mckinney (1973) 1.

Bệnh nguyên, bệnh sinh của rối loạn cảm xúc lưỡng cực Bệnh nguyên, cơ chế bệnh sinh chính xác của RLCXLC hiện tại cho đến nay vẫn chưa được sáng tỏ. Có rất nhiều giả thuyết được đưa ra liên quan đến di truyền, các yếu tố sinh học thần kinh (chất dẫn truyền thần kinh, hệ thống tín hiệu thứ hai, nội tiết tố thần kinh, giải phẫu chức năng hệ thần kinh, sự thoái hoá tế bào và tác nhân bảo vệ tế bào thần kinh của thuốc chống trầm cảm (CTC)…), các yếu tố tâm lý, các yếu tố môi trường xã hội. Dưới đây là một số giả thuyết nổi bật về bệnh nguyên, bệnh sinh RLCXLC. 7  Yếu tố di truyền và bẩm sinh  Các nghiên cứu về gia đình, cặp song sinh, và con nuôi Các bằng chứng cho thấy yếu tố di truyền có ảnh hưởng đến RLCXLC và tỷ lệ bệnh hầu như không thay đổi theo sự khác nhau của từng cá nhân hoặc nghịch cảnh xã hội.

Thân nhân bậc 1 của những bệnh nhân RLCXLC có tỷ lệ bị rối loạn cảm xúc cao hơn đáng kể (bao gồm lưỡng cực I, lưỡng cực II và trầm cảm điển hình) so với thân nhân của những người không mắc các rối loạn tâm thần ở nhóm chứng [5].  Các nghiên cứu về di truyền phân tử Người ta đã xác định nhiều vị trí liên kết và các gen chịu trách nhiệm trong các nghiên cứu di truyền mức độ phân tử trong RLCXLC. Các vị trí gen có liên quan đến tính cảm nhiễm với RLCXLC được lặp lại trong các nghiên cứu liên kết di truyền là: 4p16-p15, 6q16-q22, 8q24, 10q25-q26, 12q23-q24, 13q31-q32, 18p11q12, 18q21-q23, 21q22 [12]. Khá thú vị là có nhiều vùng trùng lặp với những vị trí gen có liên quan đến bệnh tâm thần phân liệt.

 Yếu tố sinh học thần kinh Một loạt các giả thuyết về sinh hoá não, nội tiết thần kinh, giải phẫu học thần kinh và sinh lý học thần kinh đã được đặt làm nền tảng cơ bản cho sinh học của RLCXLC. Cho đến nay, việc xác định rõ ràng rằng RLCXLC có là một bệnh lý cụ thể của một hệ thống sinh hoá cụ thể, một vị trí giải phẫu thần kinh cụ thể hay một hệ thống sinh lý cụ thể vẫn là một thách thức.  Giả thuyết về các chất dẫn truyền thần kinh Bằng việc mở rộng các nghiên cứu về trầm cảm và hoạt động của các thuốc CTC, một vài giả thuyết về chất dẫn truyền thần kinh đã được đề xuất. Nổi bật lên trong số này là giả thuyết về catecholamin.

Giảm số lượng norepinephrin hoặc hoạt tính của nó được cho là gây ra trầm cảm. Một loạt các nghiên cứu của Bunney và cộng sự đã mở rộng một cách chi tiết các quan 8 sát này lên RLCXLC, đề xuất rằng sự thay đổi chức năng catecholamin đóng vai trò trong sự chuyển pha sang hưng phấn [12]. Dopamin, chất được tập trung nghiên cứu chủ yếu trong bệnh tâm thần phân liệt, trước đó ít được quan tâm trong RLCXLC, ngày nay cũng nhận được sự chú ý một cách đáng kể trong nghiên cứu về hưng cảm. Dopamin có thể đóng vai trò bên dưới ở một số đặc điểm nổi bật của hưng cảm bao gồm loạn thần [13], sự thay đổi trong mức độ hoạt động [13] và hệ thống tưởng thưởng [12].

Với tác động chủ yếu lên hệ dopaminergic của nomifensin và bupropion đã cho thấy vai trò của dopamin trong các rối loạn cảm xúc. Gần đây, sự phổ biến của các thuốc an thần kinh (ATK) trong điều trị hưng cảm và có lẽ cả dự phòng hưng trầm cảm, cụ thể là việc sử dụng các thuốc ATK thế hệ thứ hai, càng ủng hộ cho vai trò của dopamin trong các rối loạn này. Serotonin vẫn nhận được sự chú ý như là nền tảng của các rối loạn cảm xúc, và một giả thuyết được biết rộng rãi mà trong đó nhấn mạnh rằng, sự thay đổi serotonin gây ra sự bất ổn định của hệ thống catechol - dẫn đến các GĐHC và trầm cảm sau tai biến mạch máu não diện rộng, nhưng giả thuyết này lại không được tiếp tục nghiên cứu [12]. Trong khi chất dẫn truyền thần kinh serotonin nhận được sự chú ý nhiều trong RLCXLC, nhưng dường như nó lại có ít vai trò trong sinh lý bệnh của rối loạn này [14], mà chủ yếu được nhắc về tác dụng gây hưng cảm do sử dụng thuốc CTC [15].

và cộng sự đề xuất rằng sự suy giảm acetylcholin có liên quan tới hưng cảm [16].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Đặc điểm lâm sàng và điều trị trầm cảm ở người bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các triệu chứng lâm sàng và phương pháp điều trị trầm cảm trong bối cảnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tình trạng này mà còn nêu bật tầm quan trọng của việc chẩn đoán và điều trị kịp thời, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và điều trị, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau:

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần và các phương pháp điều trị hiện có.